Trang chủ     Đăng ký nhận tin    Ý kiến bạn đọc   Liên kết website English 
Thứ sáu, ngày 24 tháng 05 năm 2013 Tìm kiếm
 Tìm kiếm nâng cao

THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ VƯƠNG QUỐC NA UY VÀ QUAN HỆ VIỆT NAM - NA UY


VƯƠNG QUỐC NA UY

 

I. THÔNG TIN CƠ BẢN

Đất nước, con người

Tên nước

Vương quốc Na Uy (The Kingdom of Norway)

Thủ đô

Ốtx-lô (Oslo)

Quốc khánh

17/5 (Ngày ban hành Hiến pháp)

Vị trí địa lý

Nằm trên bán đảo Scandinavia ở phía Tây Bắc châu Âu. Phía Tây và Nam giáp Biến Bắc, Đông giáp Thụy Điển và Bắc giáp Phần Lan và Nga

Diện tích

323.802 km2 (đất liền 304.282 km2, nước 19.520 km2)

Khí hậu

Ôn hoà nhờ có dòng hải lưu nóng dọc bờ biển, nhiệt độ trung bình vào mùa hè là 15oC, mùa đông là -5oC

Dân số

4,67 triệu (năm 2010)

Ngôn ngữ

Tiếng Na Uy (gần giống tiếng Thụy Điển và Đan Mạch)

Đơn vị tiền tệ

NOK (cuaron Na Uy); 1 USD = 6.1533 NOK (2010)

GDP (qui đổi)

413,5 tỷ USD (năm 2010)

Thu nhập bình quân đầu người

59.100 USD (năm 2010)

Tôn giáo

Đạo Tin lành dòng Luther chiếm khoảng 96% dân số, công

giáo La Mã, Hồi giáo

Lãnh đạo chủ chốt

- Nhà Vua Ha-ran Đệ ngũ (Harald V ) (sinh ngày 21/2/1937), lên ngôi ngày 17/1/1991

- Thủ tướng Gien-xơ Xtôn-ten-béc (Jens Stoltenberg ), Chủ tịch Công đảng, nhậm chức nhiệm kỳ 2005-2009 ngày 17/10/2005, tái đắc cử nhiệm kỳ thứ II (2009-2012) liên tiếp ngày 14/9/2009

- Chủ tịch Quốc Hội Đác Te-rơ-nhê An-đơ-xơn (Dag Terje Andersen ), thành viên Công Đảng (mới được bầu làm Chủ tịch Quốc hội nhiệm kỳ 2009-2012 ngày 8/10/2009)

- Ngoại trưởng Giô-nát-xơ Ga Xơ-tuê-rơ (Jonas Gahr Støre ), thành viên Công Đảng (tái đắc cử nhiệm kỳ Ngoại trưởng lần thứ II liên tiếp hôm 14/9/2009)

 

 

II. KHÁI QUÁT LỊCH SỬ

- Đầu thế kỷ IX-cuối thế kỷ XI là thời kỳ phát triển thịnh vượng của Na Uy, người Viking Na Uy thiết lập những triều đại đầu tiên của mình và mở mang bờ cõi.

- Thế kỷ XII-XVII, Na Uy bị suy yếu do ngoại xâm và nội chiến liên miên, bị Đan Mạch thống trị nhiều lần. Na Uy nằm trong liên minh với Đan Mạch trong nhiều thế kỷ.

- 1814-1905: Na Uy nằm trong liên minh với Thụy Điển. Ngày 17/5/1814, Na Uy thông qua Hiến pháp đầu tiên và ngày này trở thành ngày Quốc khánh hiện nay của Na Uy.

- Năm 1905: Na Uy tách khỏi Thụy Điển, trở thành một quốc gia độc lập cho đến ngày nay.

- Trong chiến tranh thế giới I và II, Na Uy là một nước trung lập nhưng vẫn bị phát xít Đức chiếm đóng trong vòng 5 năm (1940-1945) do vị trí địa chiến lược của mình (nằm ngay sát sườn nước Nga).

- Năm 1945: Na Uy gia nhập LHQ, ông Trygve Lie (cựu Bộ trưởng Tư pháp và Ngoại giao) đã trở thành Tổng thư ký đầu tiên của Liên Hợp Quốc.

- Năm 1949: Do sức ép của Anh và Đức, Na Uy không còn giữ được chính sách trung lập,  khái niệm “trung lập hạn chế” và “xây dựng cầu nối” xuất hiện đã nói lên thực chất của chính sách đối ngoại Na Uy lúc này. Đây cũng là một trong các lý do Na Uy gia nhập Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) sau khi sáng kiến thành lập Liên minh phòng thủ Bắc Âu do Thụy Điển đưa ra năm 1948 bị thất bại.

- Năm 1960: Na Uy gia nhập Khối mậu dịch tự do Châu Âu (EFTA). Cuối thập kỷ 60, khai thác dầu khí đã thúc đẩy nền kinh tế Na Uy phát triển mạnh mẽ.

- Năm 1972, 1994: Na Uy thất bại trong trưng cầu dân ý về gia nhập Liên minh Châu Âu (EU).

- Năm 1995: Na Uy tham gia Hiệp định Kinh tế Châu Âu (EEA).

- Năm 2006: Na Uy gia nhập Hiệp định Schengen.

 

III. CHẾ ĐỘ CHÍNH TRỊ

1. Thể chế chính trị

1.1. Nhà Vua

Thể chế của Na Uy theo chế độ quân chủ lập hiến đứng đầu Nhà nước là Vua. Hiến pháp Na Uy năm 1814 quy định vua theo chế độ cha truyền con nối. Nhưng hiện nay Vua chỉ mang tính chất lễ nghi, không còn quyền lực chính trị. Quyền lực chính trị thuộc về cơ quan hành pháp (Chính phủ), đứng đầu là Thủ tướng. Người nối ngôi vua sẽ là con cả, không phân biệt nam nữ.

1.2. Cơ quan lập pháp (Storting-Quốc hội):

Trước đây, Quốc hội Na Uy (Storting) gồm 2 viện: Lagting (tương đương Thượng viện) và Odelsting (tương đương Hạ viện). Kể từ năm 2009, Quốc hội Na Uy bỏ việc phân chia Quốc hội thành Thương viện và Hạ viện và theo chế độ một viện (unicameral) với 169 nghị sỹ, nhiệm kỳ 4 năm.

        Chế độ bầu cử của Na Uy dựa trên nguyên tắc bỏ phiếu kín, bầu trực tiếp và theo tỷ lệ. Cả nước có 19 đơn vị bầu cử. Những người chưa có quốc tịch Na Uy thì được quyền tham gia bầu cử ở địa phương, nếu đến ngày bầu cử họ đã sống liên tục ở Na Uy được 3 năm và đáp ứng các điều kiện chung về bầu cử. Quốc hội hiện nay (nhiệm kỳ 2009- 2012) có 169 ghế, trong đó Công Đảng chiếm đa số (64 ghế tương đương 35,4%).

1.3. Cơ quan hành pháp (Chính phủ)

        Chính phủ hiện nay là chính phủ đa số liên minh cánh tả (liên minh xanh - đỏ) gồm 3 đảng: Công đảng, Đảng Xã hội chủ nghĩa cánh tả (XHCN), Đảng Trung tâm do ông Jens Stoltenberg (chủ tịch Công đảng) đứng đầu. Chính phủ hiện có 17 Bộ (không bao gồm Văn phòng Thủ tướng).

 

2. Các đảng phái chính trị

2.1. Các đảng cánh tả

- Công Đảng, thành lập năm 1887, do Thủ tướng Jens Stoltenberg đứng đầu.

- Đảng XHCN cánh tả, do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Nghiên cứu đứng đầu.

- Đảng Trung tâm, thành lập năm 1919, do Bộ trưởng phụ trách chính quyền địa phương và phát triển khu vực Liv Signe Hundere Navarsete đứng đầu. 

2.2. Các đảng cánh hữu

- Đảng Bảo thủ, thành lập năm 1884, do bà Erna Solberg đứng đầu.

- Đảng Tự do, thành lập năm 1884, do ông Lars Sponheim đứng đầu.

- Đảng Dân chủ Thiên chúa giáo, thành lập năm 1933, do ông Dagfinn Høybrǻten đứng đầu.

- Đảng Tiến bộ, thành lập năm 1972, do bà Siv Jensen đứng đầu.

2.3. Các đảng phái khác

- Đảng Cộng sản, thành lập năm 1923, theo chủ nghĩa Mác-Lê.

- Các tổ chức quần chúng công đoàn, có quan hệ gắn bó với Công Đảng.

3. Hệ thống toà án của Na Uy chia thành 3 cấp: cấp quận-huyện-thành phố; tòa án cấp cao và tòa án tối cao.

 

IV. GIỚI THIỆU VỀ KINH TẾ

1.  Khái quát chung:

  Na Uy có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, nhất là về năng lượng (dầu khí, thuỷ điện), thuỷ hải sản và rừng. Chính trị xã hội ổn định, lực lượng lao động có trình độ khoa học kỹ thuật và tay nghề cao. Đây là những yếu tố thuận lợi để Na Uy trở thành một nước công nghiệp phát triển. Dân số ít nên nhu cầu của thị trường trong nước nhỏ và ngoại thương đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế Na Uy. Từ năm 1990, Na Uy luôn đạt mức thặng dư trong cán cân thanh toán quốc tế (trừ năm 1998 là cân bằng do giá dầu giảm và nhập khẩu tăng). Xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ chiếm tới 46,6% GDP. Xuất khẩu dầu khí là nguồn thu nhập quan trọng nhất của Na Uy (chiếm 1/3 giá trị xuất khẩu). Na Uy chủ yếu buôn bán với các đối tác chính trong khu vực EU như Anh, Đức, Hà Lan, Pháp, Thụy Điển, Đan Mạch và một số đối tác ngoài khu vực như Trung Quốc và Mỹ. Năm 2010, Na Uy đạt thặng dư thương mại với mức kim ngạch đạt 188,68 tỷ USD trong đó xuất khẩu là 137 tỷ USD và nhập khẩu là 74,02 tỷ USD; tăng trưởng kinh tế tăng 1,4%, tỷ lệ lạm phát thấp (2,4%) và tỷ lệ thất nghiệp là 3,6%.

Mô hình kinh tế Na Uy theo mô hình kinh tế hỗn hợp, có sự kết hợp giữa kinh tế thị trường và kinh tế kế hoạch có sự điều tiết của Chính phủ. Chính phủ nắm giữ những lĩnh vực quan trọng như: dầu khí (tập đoàn Statoil), năng lượng (tập đoàn Norsk Hydro), viễn thông (tập đoàn Telenor), điện và thủy điện (tập đoàn Statkraft) và áp đặt các chính sách, tiêu chuẩn, quy định. Cơ cấu nền kinh tế theo hướng dịch vụ (57,8%) – công nghiệp (40,1%) – nông nghiệp (2,1%); theo đó cũng định hình cơ cấu lao động ở Na Uy với phần lớn nhân lực tập trung trong ngành dịch vụ và công nghiệp.

Na Uy đã tham gia Hiệp định Khu vực kinh tế Châu Âu (EEA), là thành viên Khu vực Thương mại Tự do Châu Âu (EFTA), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), Ngân hàng Thế giới (WB), Tổ chức thương mại Thế giới (WTO), Ngân hàng phát triển xuyên Mỹ (IADB), Ngân hàng phát triển Châu Phi (AFDB), Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), Ngân hàng Châu Âu về tái thiết và phát triển (EBRD), Ngân hàng Đầu tư Bắc Âu (NIB), Quỹ Phát triển Bắc Âu (NDF), Hội đồng Bắc Âu và Quỹ Dự án Bắc Âu (NOPEF).

2. Các ngành công nghiệp chủ yếu

2.1. Công nghiệp dầu khí

        Mùa xuân 1970 Na Uy tìm thấy các mỏ dầu lửa và khí đốt có trữ lượng lớn ở biển Bắc thuộc lãnh hải của Na Uy và ở miền Trung và Tây Nam Na Uy. Theo ước tính trữ lượng khí đốt của Na Uy khoảng trên 3.000 tỷ m3 và trữ lượng dầu lửa khoảng 10 tỷ tấn. Na Uy đầu tư rất lớn cho ngành công nghiệp dầu khí. Xuất khẩu dầu khí chiếm hơn 50% giá trị xuất khẩu và đóng góp trên 10% cho thu nhập của cả nước (Na Uy chỉ đứng sau Ả rập Xê-út và Nga).

2.2. Đóng tàu và vận tải biển

        Đây là một trong những ngành công nghiệp chủ yếu của Na Uy. Tàu biển của Na Uy được đóng và thiết kế để có thể chuyên chở được nhiều loại hàng hoá khác nhau và cung cấp các dịch vụ đa dạng như tàu chở dầu, hoá chất, than đá, xe ô tô, tàu phà chở khách cỡ lớn, tàu đặc chủng để chuyên chở khí đốt ở thể lỏng, tàu cần cẩu, tàu kéo phục vụ cho khai thác dầu khí ngoài khơi, tàu đánh cá và tàu tuần tra trên biển... Hiện nay Na Uy đứng thứ 3 thế giới về cung cấp các dịch vụ cho khai thác dầu khí ở ngoài khơi, thứ 2 (sau Mỹ) về đội tàu phục vụ cho khai thác dầu.

2.3. Đánh bắt cá, nuôi trồng thuỷ sản và chế biến

        Đánh cá và nuôi trồng thuỷ sản là hai ngành quan trọng nhất dọc theo bờ biển của Na Uy, chủ yếu nuôi hai loại cá hồi (thịt vàng và thịt đỏ) để xuất khẩu. Na Uy có hàng trăm nhà máy chế biến hải sản dọc theo bờ biển. Hiện nay ngành thuỷ sản đã trở thành một lĩnh vực trong chương trình viện trợ phát triển của Na Uy cho các nước đang phát triển.

2.4. Công nghiệp sản xuất giấy, bột giấy, gỗ xẻ

        Diện tích rừng của Na Uy chiếm hơn 1/5 diện tích cả nước và là nguồn cung cấp nguyên vật liệu quan trọng cho công nghiệp. Na Uy có khoảng 1.500 xí nghiệp sản xuất giấy, bột giấy và gỗ xẻ với khoảng 30.000 lao động. Sản phẩm của công nghiệp gỗ bao gồm gỗ tấm dùng trong xây dựng nhà ở, văn phòng làm việc, đóng đồ dùng gia đình và trang bị văn phòng.

2.5. Thuỷ điện

        Na Uy có hơn 200.000 hồ nước ở trên núi và hệ thống sông, suối có độ dốc cao là tiềm năng thuỷ điện không nhỏ. Trước khi tìm ra dầu khí, thuỷ điện là nguồn cung cấp năng lượng lớn và là nguồn cung cấp năng lượng nhiều nhất cho công nghiệp và dân dụng. Công ty năng lượng lớn nhất của Na Uy là Norsk Hydzo được thành lập từ 1905.

3. Chính sách ODA:

Na Uy là một trong 10 nước đóng góp tài chính nhiều nhất cho Liên Hợp Quốc và dành gần 1% GDP/năm cho viện trợ phát triển. Tuy nhiên, năm 2010, phê duyệt ngân sách ODA của Na Uy giảm 1 tỷ curon, một trong những bước thắt chặt chính sách tài khóa đầu tiên của Na Uy trong năm 2011 kể từ sau khủng hoảng tài chính.

 

V. CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI, AN NINH

        Về đối ngoại: Sau chiến tranh thế giới II, Na Uy điều chỉnh chính sách đối ngoại từ "trung lập hạn chế" sang liên minh quân sự và gia nhập NATO (1949) để có sự đảm bảo của Mỹ và Tây Âu cho an ninh và quốc phòng, vì Na Uy luôn luôn lo ngại ảnh hưởng của Nga. Na Uy tham gia lực lượng phản ứng nhanh của NATO ở Trung Đông, ủng hộ Mỹ trong hầu hết các vấn đề quốc tế.

Cùng với các nước Bắc Âu khác, Na Uy chủ trương cải tổ Liên Hợp Quốc, trong đó có Hội đồng bảo an nhằm đảm bảo dân chủ và quyền bình đẳng giữa các nước thành viên Liên Hợp Quốc. Na Uy đang thực hiện kế hoạch điều chỉnh quan hệ đối ngoại, tập trung nguồn lực nhiều hơn trong quan hệ với các nước mới nổi (BRIC) gồm có Bra-xin, Trung Quốc, Nga, Ấn Độ nhằm tận dụng nguồn lực phát triển của các nước này.

        Quan hệ với Liên minh Châu Âu: Na Uy chủ trương gia nhập Liên minh châu Âu (EU) từ những năm 70 nhưng chưa được đa số người dân Na Uy ủng hộ. Na Uy vẫn tham gia vào các hoạt động của EU, tiếp tục đóng góp cho quỹ EEA để hỗ trợ giải quyết các vấn đề xã hội ở EU. Tuy nhiên, phản đối của người dân Na Uy trong việc gia nhập EU ngày càng tăng (70%) và một số quy định của EU vẫn gặp khó khăn trong việc phê chuẩn ở Na Uy.

        Với Châu Á nói chung: Năm 1996, Quốc hội Na Uy thông qua "Chiến lược châu Á" nhằm tăng cường quan hệ chính trị và mở rộng hợp tác kinh tế, thương mại, văn hoá lâu dài với các nước ở khu vực này. Hiện nay, Na Uy có quan hệ thương mại nhiều với Nhật Bản, Trung Quốc và ngày càng chú trọng đến khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam.

        Vấn đề dân chủ, nhân quyền: Là một trong những ưu tiên hàng đầu của Na Uy hiện nay. Bộ Ngoại giao Na Uy chịu sức ép rất lớn từ Quốc hội Na Uy về vấn đề này, do đó, phía Na Uy đánh giá cao cơ chế đối thoại nhân quyền với các nước nói chung và với Việt Nam nói riêng.


QUAN HỆ VỚI VIỆT NAM

I. QUAN HỆ CHÍNH TRỊ

        Việt Nam và Na Uy thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 25/11/1971. Na Uy trở thành một trong những nước phương Tây đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

        Năm 1978, ta đã từng lập Đại sứ quán tại thủ đô Oslo nhưng đến năm 1982 thì đóng cửa.

        Năm 1996, Na Uy chính thức mở sứ quán thường trú tại Hà Nội nhân chuyến thăm của Thủ tướng Gro Harlem Bruntland tới Việt Nam. Ngày 23/12/2009, ta chính thức mở lại Đại sứ quán tại Na Uy, hiện Đại sứ quán đã đi vào hoạt động.

        Trong suốt gần 40 năm qua, quan hệ hai nước phát triển tích cực và dần đi vào chiều sâu trên rất nhiều lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội. Hai nước đã trao đổi nhiều đoàn ở các cấp, kể cả ở cấp cao nhất. Phía Việt Nam: Thủ tướng Phạm Văn Đồng (1977), Thủ tướng Võ Văn Kiệt (1995), Thủ tướng Phan Văn Khải (1999), Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết (6/2008); Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải (6/2010). Phía Na Uy: Thủ tướng Gro Harlem Brundtlan (1996), Nhà Vua và Hoàng hậu Na Uy (2004).

        Hai bên đã có những cơ chế hợp tác rất hiệu quả như Tham vấn chính trị (tổ chức được 4 phiên) và Đối thoại nhân quyền (tổ chức được 8 phiên) nhằm tăng cường hiểu biết và hợp tác trong những lĩnh vực cụ thể.

Na Uy tích cực hỗ trợ Việt Nam trong công cuộc đổi mới, xoá đói giảm nghèo và hội nhập quốc tế, quan tâm tới vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo ở Việt Nam nhưng với cách tiếp cận khác so với Mỹ, EU và các nước Tây Âu khác, không dùng đó làm sức ép đối với viện trợ và quan hệ hai nước, chủ yếu trên tinh thần hợp tác và xây dựng. Na Uy cũng là nước có nhiều kinh nghiệm tại các diễn đàn và tổ chức quốc tế (như  Liên Hợp quốc, Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Ngân hàng thế giới (WB) v.v…), do đó hai bên hợp tác rất hiệu quả với nhau thông qua các kênh đa phương này.

II. QUAN HỆ HỢP TÁC KINH TẾ

1. Thương mại

        Kim ngạch thương mại hai chiều có xu hướng tăng nhanh nhưng vẫn còn thấp, chưa xứng với tiềm năng và quan hệ chính trị giữa hai nước, trong đó Việt Nam luôn xuất siêu. Các mặt hàng chủ yếu của Việt Nam sang Na Uy gồm hải sản, dệt may, giày dép, túi du lịch, rau quả, cà phê, chè, gia vị, cao su, sản phẩm gỗ, tinh dầu. Các mặt hàng Việt Nam nhập khẩu chính từ Na Uy là các sản phẩm cơ khí, thiết bị viễn thông, phương tiện giao thông, máy văn phòng, hoá chất, phân bón, chất dẻo và kim loại. Tháng 3/1994, Na Uy ký Hiệp định hàng dệt may theo chế độ hạn ngạch. Năm 1998, Na Uy bỏ chế độ hạn ngạch cho hàng dệt may của Việt Nam. Tháng 4/2005, Na Uy thành lập văn phòng đại diện của Telenor-một tập đoàn công nghệ thông tin lớn nhất của Na Uy và tháng 10/2010, Na Uy mở văn phòng đại diện của SN Power – công ty con thuộc tập đoàn năng lượng hàng đầu của Na Uy (Statkraft) tại Hà Nội (đây là công ty lớn nhất Na Uy hiện diện tại Việt Nam). Năm 2006, Na Uy thành lập Innovation-bộ phận thương vụ trực thuộc Đại sứ quán Na Uy. Tháng 11/2006, hai bên đã ký Bản ghi nhớ (MOU) về hỗ trợ hợp tác thương mại Việt Nam-Na Uy và thành lập Tổ công tác song phương nhằm thúc đẩy các hoạt động kinh tế, thương mại hai nước. Na Uy là một trong những nước sớm kết thúc đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) với Việt Nam.

   Từ cuối năm 2008 đến nay, do chịu tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, kim ngạch xuất khẩu giữa hai nước giảm đáng kể từ 170,53 triệu USD năm 2008 còn 117,665 triệu USD trong năm 2009 (giảm 32%) và tăng đáng kể trở lại trong năm 2010 với mức 203,6 triệu USD (trong đó Việt Nam nhập siêu).

Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam - Na Uy 2005 - 2010

đơn vị: triệu USD        

Năm

2005

2006

2007

2008

2009

2010

Xuất khẩu

32,68

38,06

49,15

93,78

51,429

74,09

Nhập khẩu

15,84

23,53

24,59

76,75

66,236

129,51

Tổng

48,52

61,58

73,74

170,53

117,665

203,6

                                                    (Nguồn: Tổng cục Hải quan Việt Nam)      

2. Đầu tư

        Tính đến ngày 20/11/2010, Na Uy có 25 dự án đầu tư tại Việt Nam với tổng vốn đầu tư đăng ký 84 triệu USD, đứng thứ 39/93 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam. Quy mô bình quân của một dự án là 13,5 triệu USD, đây là tỷ lệ khá thấp so với tỷ lệ trung bình của toàn bộ các dự án trên 16,1 triệu USD. Các dự án của Na Uy chủ yếu tập trung trong lĩnh vực chế biến gỗ, vật liệu xây dựng và trang trí nội thất; nông lâm nghiệp, thủy sản, thông tin và truyền thông.

        Các nhà đầu tư Na Uy tập trung trong lĩnh vực công nghiệp chế biến chế tạo với 7 dự án, có tổng vốn đầu tư đăng ký 40,5 triệu USD (chiếm 37% về số dự án và 61% về số vốn đầu tư đăng ký); đứng thứ 2 là lĩnh vực nông lâm, thủy sản có 4 dự án với tổng vốn đầu tư 23,5 triệu USD (chiếm 21% số dự án và 35% vốn đầu tư); tiếp theo là lĩnh vực giáo dục đào tạo, vận tải kho bãi, lưu trú ăn uống, thông tin và truyền thông.[1]

Vốn đầu tư của Na Uy chủ yếu theo hình thức 100% vốn nước ngoài, hiện đang hoạt động tại 7 địa phương. Tính đến nay, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa có dự án đầu tư trực tiếp sang Na Uy.

III. HỢP TÁC PHÁT TRIỂN (HTPT)

   Quan hệ HTPT Việt Nam-Na Uy được nối lại kể từ khi hai nước ký Hiệp định khung về HTPT vào tháng 10/1996. Trước đây, chính sách viện trợ của Na Uy tập trung chủ yếu cho các nước Châu Phi, viện trợ cho Việt Nam được lấy từ Quỹ viện trợ khu vực trung bình 5-6 triệu USD/năm. Trong tài khóa 2008/2009, Chính phủ Na Uy cam kết viện trợ cho Việt Nam 10 triệu USD/năm để hỗ trợ những lĩnh vực ưu tiên trong chính sách phát triển của Việt Nam như: phát triển nông nghiệp nông thôn, thủy sản, dầu khí, giáo dục đào tạo, quản lý kinh tế và cải cách hành chính. Tổng viện trợ của Na Uy dành cho ta đến nay khoảng 200 triệu USD. Các dự án do Na Uy tài trợ đã và đang giúp ta tập trung vào các lĩnh vực: giáo dục, phát triển kinh tế, môi trường, bình đẳng giới, HIV/aids và quản lý nhà nước (theo Chiến lược HTPT 2008-2009). Tại Hội nghị các nhà tư vấn (CG) tổ chức tại Hà Nội từ 4-5/12/2009, Na Uy tiếp tục cam kết mức ODA hỗ trợ  Việt Nam năm 2010 là 10 triệu USD. Mức viện trợ cho Việt Nam năm 2011 tiếp tục duy trì ở mức 10 triệu USD (công bố tại hội nghị CG tháng 12/2010).

        Khối lượng viện trợ của Na Uy tuy nhỏ nhưng thủ tục và quy trình viện trợ rất linh hoạt, cụ thể là sau khi Chính phủ Na Uy thông báo cam kết về số lượng viện trợ hàng năm cho Việt Nam, quy trình tiếp theo được thực hiện phù hợp với những quy định của Việt Nam.

 

IV. QUAN HỆ GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO, VĂN HÓA

        Về văn hóa: Do khoảng cách về địa lý và hạn chế về ngân sách, nên hầu như ta chưa có hoạt động giới thiệu văn hóa, nghệ thuật của Việt Nam tại Na Uy.       

Hai bên cũng tổ chức các hoạt động giao lưu văn hoá như triển lãm, trao đổi các đoàn nghệ thuật. Nhân dịp 35 năm thiết lập quan hệ ngoại giao (25/11/1971-25/11/2006), hai bên đã phối hợp tổ chức một số sự kiện như: triển lãm, hội thảo về Gibler Ibsen (Nhà viết kịch tài ba người Na Uy), vở kịch nổi tiếng “Nhà búp bê” của ông đã được truyển tải tới người xem bằng sự diễn xuất của các nghệ sĩ Việt Nam.

Về giáo dục đào tạo: Na Uy cung cấp học bổng cho lưu học sinh Việt Nam theo chương trình học bổng sinh viên quốc tế, hỗ trợ đào tạo nâng cao năng lực cho cán bộ giảng viên và cán bộ nghiên cứu thuộc các trường ĐH và Viện nghiên cứu của Việt Nam (trường ĐH Nha Trang, Trường ĐH Nông nghiệp I, Trường ĐH Bách khoa Hà Nội). Hàng năm, Na Uy có chương trình học bổng của Cơ quan Hợp tác phát triển Na Uy (NORAD) dành cho đào tạo cử nhân và thạc sĩ trong các trường ĐH tại Na Uy hoặc ở một số nước khác, trong đó có Việt Nam (Chương trình mới được Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt tháng 7/2007 và bắt đầu tuyển sinh sau đại học từ năm học 2007-2008 tại trường ĐH Nha Trang).

Phía Na Uy cũng tích cực giúp đỡ Việt Nam đào tạo cán bộ trong các lĩnh vực Na Uy có thế mạnh như nhân quyền và gìn giữ hòa bình, tuy nhiên các chương trình về nhân quyền chỉ trong khuôn khổ các khóa học ngắn hạn. Ngày 7/9/2010, Na Uy khai trương chương trình thạc sỹ đầu tiên về nhân quyền hợp tác giữa khoa luật, Đại học Oslo và khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.

Na Uy cũng đã tích cực hỗ trợ ta xây trường nội trú cho trẻ em thiểu số ở Điện Biên, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế và Quảng Nam, đồng tài trợ dự án giáo dục tiểu học cho trẻ em khó khăn, giúp soạn thảo Từ điển dân tộc học, giúp Bảo tàng dân tộc học di chuyển một ngôi nhà Chăm truyền thống từ Ninh Thuận và dựng lại khuôn viên Bảo tàng để phục vụ cho việc nghiên cứu đời sống của người dân tộc thiểu số.

 

V. CÁC LĨNH VỰC KHÁC

        Về du lịch: Ta đã miễn thị thực dưới 15 ngày cho công dân Bắc Âu (5/2005) trong đó có Na Uy. Lượng khách Na Uy thăm Việt Nam tuy có tăng nhưng cũng không đáng kể so với các nước khác trong khu vực Bắc Âu. Năm 2008, có 15.664 lượt khách Na Uy tới Việt Nam, tăng 33% so với năm 2007.

        Về an ninh quốc phòng: Bộ Công an với các cơ quan hữu quan của Na Uy chưa có nhiều quan hệ. Chủ yếu trong khuôn khổ Đối thoại nhân quyền.Tháng 11/2007, Đoàn Bộ Tư pháp Na Uy do Trợ lý Bộ trưởng Tư pháp dẫn đầu sang làm việc với Bộ Công an để bàn về phương hướng, biện pháp thúc đẩy hợp tác hai bên, tập trung vào trao đổi, chia sẻ thông tin tội phạm (buôn người), đào tạo nâng cao năng lực cán bộ. Từ 2007-2008, Na Uy giúp đào tạo một số cán bộ Công an nâng cao năng lực về nhân quyền và đào tạo sỹ quan cảnh sát LHQ làm nhiệm vụ gìn giữ hòa bình tại các quốc gia, khu vực hay xảy ra xung đột.

VI. CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT NAM TẠI NA UY

        Hiện tại, cộng đồng người Việt Nam tại Na Uy khoảng hơn 20.000 người, đông nhất tại Bắc Âu, trong đó 90% có quốc tịch Na Uy, 60% có công ăn việc làm ổn định, trình độ học vấn của cộng đồng người Việt tại Na Uy nói chung không cao, đa số làm ăn buôn bán nhỏ, kinh doanh nhà hàng hoặc làm công ăn lương. Tại Na Uy có phần đông vẫn còn dè dặt, giữ khoảng cách với trong nước do thiếu thông tin về Việt Nam; một số tổ chức phản động hoạt động mạnh chống phá ta về dân chủ, tôn giáo, nhân quyền. Theo đánh giá chung, cộng đồng người Việt Nam tại Na Uy có cuộc sống ổn định, cần cù, chăm chỉ làm ăn, tôn trọng luật pháp sở tại, hòa nhập tốt với xã hội Na Uy.        Việc mở lại Đại sứ quán Việt Nam tại Na Uy trong năm 2009 đã tạo điều kiện cho cộng đồng người Việt tại Na Uy được bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, là cầu nối hữu hiệu giữa cộng đồng người Việt tại đây với quê hương.

VII. CÁC VĂN BẢN, HIỆP ĐỊNH SONG PHƯƠNG ĐÃ KÝ KẾT

- 1995

Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và chống buôn lậu

- 1996

Hiệp định về điều kiện và thủ tục cho HTPT

- 1997

Hiệp định hợp tác kinh tế và thương mại

- 1997

Hiệp định hàng không

- 2003

Bản ghi nhớ (MOU) về ưu đãi tín dụng

- 2004

Bản ghi nhớ (MOU) về HTPT 2004-2009

- 2004

Ý nguyện thư về chuyển đổi nợ thành viện trợ phát triển 5,7 triệu USD

  

  Tháng 3 năm  2011

 



[1] Chỉ tính các dự án có hiệu lực đến ngày 31/12/2009

 
Quay lại Đầu trang In trang Gửi mail

Bản quyền của Vụ Thông Tin Báo Chí - Bộ Ngoại Giao
© Copyright by Press and Information Department - Vietnam Ministry of Foreign Affairs
Email: Banbientap@mofa.gov.vn 
Hiển thị tốt nhất với Internet Explorer. Best viewed with Internet Explorer