Trang chủ     Đăng ký nhận tin    Ý kiến bạn đọc   Liên kết website English 
Chủ nhật, ngày 20 tháng 04 năm 2014 Tìm kiếm
 Tìm kiếm nâng cao

Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao Lê Công Phụng:Nền ngoại giao Việt Nam hiện đại đã có những đóng góp to lớn vào thắng lợi của cuộc đấu tranh của nhân dân ta vì độc lập, tự do và thống nhất đất nước.


Ngoại giao Việt Nam trong thời kỳ

đấu tranh giải phóng dân tộc

Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước (1945-1975) đã đi vào lịch sử như một bản trường ca bất tử về ý chí kiên cường của Đảng ta và dân tộc ta vì độc lập, tự do của đất nước. Cuộc đấu tranh trường kỳ và gian khổ ấy đã kết thúc thắng lợi cách đây đúng 30 năm, nhưng ý nghĩa và những bài học của nó chắc chắn sẽ còn sống mãi với thời gian. Thành công to lớn được tạo nên bởi sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn dân, của mọi binh chủng, trong đó mặt trận ngoại giao có những đóng góp xứng đáng.

Trong Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố với thế giới: "Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền do, độc lập ấy”. Đây là bức thông điệp ngoại giao đầu tiên của nước Việt Nam mới gửi thế giới, thể hiện ý chí và thiện chí của dân tộc ta, đồng thời tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân thế giới đối với một đất nước vừa mới giành được độc lập còn đang đứng trước muôn vàn khó khăn, thử thách.

Trong những ngày tháng sau đó, Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kiên trì về nguyên tắc, song linh hoạt về sách lược, tiến hành các hoạt động ngoại giao rất khôn khéo để bảo vệ chính quyền cách mạng còn non trẻ. Hiệp định Sơ bộ ngày 6 tháng 3 và Tạm ước ngày 14 tháng 9 năm 1946 là đỉnh cao của đấu tranh ngoại giao trong những ngày đầu lập nước, thể hiện mẫu mực tư tưởng “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, “biết mình, biết người, biết thời thế, biết dừng và biết biến". Sau 60 năm nhìn lại, chúng ta càng thấy ý nghĩa và vai trò to lớn của hoạt động ngoại giao ở thời điểm đó, giúp tranh thủ được một khoảng thời gian hòa hoãn ngắn ngủi nhưng hết sức quý báu để xây dựng lực lượng, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến toàn dân, trường kỳ sau này.

Trong chín năm kháng chiến chống Pháp xâm lược, hoạt động ngoại giao đã góp phần tích cực phá vây, thiết lập quan hệ ngoại giao và liên minh với các nước xã hội chủ nghĩa, nêu cao thiện chí, chính nghĩa và nỗ lực vãn hồi hòa bình của ta, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của dư luận thế giới, hình thành liên minh chiến đấu với Lào và Căm-pu-chia và góp phần tranh thủ một khối lượng lớn trợ giúp về vũ khí, khí tài, vật chất cho cuộc kháng chiến của ta. Hiệp định Giơ-ne-vơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương ngày 21 tháng 7 năm 1954 thể hiện sự phối hợp chặt chẽ quân sự với ngoại giao, giữa thắng lợi quân sự trên chiến trường mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ với đấu tranh trên bàn đàm phán ở Giơ-ne-vơ, đồng thời khẳng định tính tất thắng của cuộc đấu tranh chính nghĩa của dân tộc ta.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, cách mạng nước ta chuyển sang giai đoạn mới với nhiệm vụ trọng tâm là "thi hành nghiêm chỉnh hiệp định đình chiến, đấu tranh giữ gìn và củng cố hòa bình, để thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong toàn quốc; xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa làm "hậu thuẫn vững mạnh" và "càng khuyến khích và sẽ giúp mạnh mẽ hơn nữa đồng bào miền Nam đấu tranh chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai để giành lại dân chủ và thống nhất".

Nét nổi bật của ngoại giao giai đoạn 1954-1975 là cùng với sự phát triển của các lực lượng cách mạng trong nước, hoạt động ngoại giao ngày càng phát triển và trở thành một mặt trận phối hợp chặt chẽ và hiệu quả với đấu tranh quân sự và chính trị, buộc Mỹ phải đương đầu với một thế trận chiến tranh nhân dân toàn diện ở Việt Nam. Ngoại giao Việt Nam đã tích cực, chủ động, luôn luôn giương cao ngọn cờ hòa bình, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên trì kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh pháp lý, tập trung làm rõ chính nghĩa của ta, vạch trần những âm mưu, thủ đoạn và tội ác của đối phương, tranh thủ sự ủng hộ của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em, mở rộng quan hệ với các nước dân tộc chủ nghĩa, hình thành mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân ta. Ngoại giao cũng đã có những đóng góp thiết thực vào việc củng cố đoàn kết và hợp tác giữa các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, tạo nên chỗ dựa vững chắc cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Một nét độc đáo của thời kỳ này là sự kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động ngoại giao hai miền, “hai mà là một, một mà là hai", góp phần vào thắng lợi chung của cuộc kháng chiến.

Trên đà thắng lợi quân sự trên chiến trường, tháng Giêng năm 1967, Đảng ta đã đề ra chủ trương “Đấu tranh ngoại giao không chỉ đơn thuần phản ánh cuộc đấu tranh trên chiến trường mà trong tình hình quốc tế hiện nay, với tính chất cuộc đấu tranh giữa ta và địch, đấu tranh ngoại giao giữ một vai trò quan trọng, tích cực và chủ động. Đến tháng 4 năm 1969, Bộ Chính trị Trung ương III ra Nghị quyết khẳng định: “Ngoại giao trở thành một mặt trận quan trọng, có ý nghĩa chiến lược". Thực hiện đường lối của Đảng trong tình hình mới, hoạt động ngoại giao đã chủ động thúc đẩy đấu tranh trên bàn thương lượng với Mỹ, dẫn tới cuộc đàm phán lịch sử từ năm 1968 đến 1973, đưa đến việc ký kết Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Đây là cuộc đàm phán ngoại giao dài nhất, gay go và khó khăn nhất trong lịch sử ngoại giao Việt Nam; đồng thời cũng là mốc đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của nền ngoại giao Việt Nam hiện đại. Với Hiệp định này, Mỹ phải cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam; rút hết quân khỏi Việt Nam và Đông Dương; công nhận ở miền Nam có hai chính quyền, hai lực lượng vũ trang kiểm soát hai vùng lãnh thổ khác nhau. Hiệp định Pa-ri đã góp phần tạo bước ngoặt rất quan trọng, buộc Mỹ rút khỏi miền Nam, cô lập ngụy quyền, mở ra cục diện mới về chính trị và trên chiến trường để quân và dân ta làm nên chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Nền ngoại giao Việt Nam hiện đại đã có những đóng góp to lớn vào thắng lợi của cuộc đấu tranh của nhân dân ta vì độc lập, tự do và thống nhất đất nước. Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng và của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngoại giao đã luôn sát cánh cùng các ngành quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa… có mặt ở tuyến đầu của đấu tranh cách mạng. Ngoại giao đã thấm nhuần chủ nghĩa Mác – Lênin, đường lối cách mạng của Đảng và Tư tưởng Hồ Chí Minh về một nền ngoại giao "nhân đạo, hòa hiếu", "thêm bạn bớt thù", phát huy sức mạnh dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại; tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của hệ thống xã hội chủ nghĩa, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, các lực lượng dân chủ tiến bộ và nhân dân thế giới đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà. Hoạt động ngoại giao đã góp phần tạo nên hình ảnh tốt đẹp về đất nước Việt Nam, nâng cao vị trí và vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế. Đấu tranh ngoại giao trong giai đoạn kháng chiến cứu nước cũng đem lại những tiền đề to lớn, những bài học hết sức bổ ích và quý báu về tư duy, lý luận cũng như về hoạt động thực tiễn cho hoạt động ngoại giao phục vụ khôi phục và phát triển kinh tế, bảo vệ Tổ quốc sau này. Trước những cơ hội và thách thức của tình hình mới, ngoại giao Việt Nam càng cần phải thấm nhuần và vận dụng thật nhuần nhuyễn những bài học của các giai đoạn trước đây, phát huy hơn nữa tư tưởng Hồ Chí Minh “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, nắm vững mục tiêu, kiên trì nguyên tắc để đối phó cơ động và linh hoạt với muôn vàn thay đổi, tạo ra thời cơ và tranh thủ thời cơ để giành thắng lợi cho công cuộc Đổi mới, công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”./.

(Bài của đồng chí Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao Lê Công Phụng cho Báo Quân đội Nhân dân nhân kỷ niệm 60 năm kỷ niệm thành lập Ngành Ngoại giao)

 
Quay lại Đầu trang In trang Gửi mail

Bản quyền của Vụ Thông Tin Báo Chí - Bộ Ngoại Giao
© Copyright by Press and Information Department - Vietnam Ministry of Foreign Affairs
Email: Banbientap@mofa.gov.vn 
Hiển thị tốt nhất với Internet Explorer. Best viewed with Internet Explorer