Trang chủ     Đăng ký nhận tin    Ý kiến bạn đọc   Liên kết website English 
Chủ nhật, ngày 19 tháng 05 năm 2013 Tìm kiếm
 Tìm kiếm nâng cao

Trích giới thiệu Báo cáo của Chính phủ trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XI.


I. Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch năm 2005

Dự báo tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội cả năm 2005 trên các chỉ tiêu chủ yếu:

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng khoảng 8,4% (kế hoạch là 8,5%), GDP bình quân đầu người đạt khoảng 640 USD.

Giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp tăng 5,2% (kế hoạch là 5,2%); giá trị tăng thêm tăng 4,1%, vượt kế hoạch đề ra là 3,8%.

Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 16,5%, vượt kế hoạch đề ra là 16%; giá trị tăng thêm của ngành công nghiệp và xây dựng tăng 10,7% (kế hoạch là 11%).

Giá trị tăng thêm các ngành dịch vụ tăng 8,4% (kế hoạch là 8,2%).

Chỉ số giá tiêu dùng tăng khoảng 8% (kế hoạch là dưới 6,5%).

Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 20%, vượt kế hoạch đề ra là 16%.

Tổng thu ngân sách nhà nước đạt trên 210 nghìn tỷ đồng, vượt dự toán đề ra là 183 nghìn tỷ đồng; tổng chi Ngân sách nhà nước đạt trên 258 nghìn tỷ đồng, vượt dự toán là 229,8 nghìn tỷ đồng; bội chi ngân sách nhà nước là 4,86% GDP (dự toán 5%).

Tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội đạt 38,2% GDP, vượt kế hoạch đề ra là 36,5%. Tạo việc làm mới cho 1,6 triệu người (kế hoạch là 1,6 triệu lao động); trong đó xuất khẩu lao động 7,5 vạn người (kế hoạch là 7 vạn lao động); số học sinh học nghề dài hạn tăng 12% (kế hoạch là tăng 12%).

Giảm tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn cũ) xuống còn 7% (kế hoạch là dưới 7%).

Giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng xuống xấp xỉ 25% (kế hoạch là 25%).

Tỷ lệ sinh giảm 0,04% (kế hoạch là 0,04%).

Những mặt nổi bật chủ yếu trong năm 2005:

- Tốc độ tăng trưởng đạt mức cao nhất trong 5 năm qua, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, chất lượng và hiệu quả được nâng lên.

Dự báo tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) cả năm 2005 đạt khoảng từ 8,4%; trong đó: nông, lâm, ngư nghiệp 4,1%, công nghiệp và xây dựng 10,7%, dịch vụ 8,4%. Tỷ trọng của ngành nông lâm ngư nghiệp đã giảm từ 21,8% năm 2004 xuống còn 20,7% năm 2005. Trong khi đó, tỷ trọng ngành công nghiệp và xây dựng tiếp tục tăng từ 40,1% năm 2004 lên 40,8% năm 2005. Tỷ trọng của ngành dịch vụ tăng từ 38,1% năm 2004 lên 38,5% năm 2005.

Trong ngành nông, lâm, ngư nghiệp, cơ cấu nội bộ ngành đã có sự chuyển dịch đáng kể. Tỷ trọng của ngành nông nghiệp giảm từ 76,5% năm 2004 xuống còn 75,71% năm 2005. Tỷ trọng của ngành thủy sản tăng từ 19,9% năm 2004 lên 20,85% năm 2005. Cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp có chuyển biến tích cực, tỷ trọng của ngành công nghiệp chế biến, chế tác tiếp tục tăng lên, giá trị sản xuất của ngành từ 83% năm 2004 tăng lên 84,7% năm 2005; trong khi tỷ trọng của ngành khai thác mỏ giảm từ 6,2% năm 2004 xuống còn 5,6% năm 2005. Cơ cấu nội bộ các ngành dịch vụ bắt đầu có sự thay đổi theo hướng tăng tỷ trọng các ngành dịch vụ có chất lượng cao như tài chính, ngân hàng, bảo hiểm.

…Năng suất lao động xã hội đã tăng lên từ 17 triệu đồng/lao động/năm 2004 lên 19 triệu đồng/lao động/năm 2005.

- Nhiều ngành, lĩnh vực tiếp tục phát triển khá: Ngành công nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng 16,5%, vượt kế hoạch (kế hoạch là 16%); kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp tăng trên 20%, chiếm 80% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Các ngành dịch vụ như du lịch, bưu chính viễn thông, vận tải, ngân hàng, bảo hiểm,... phát triển khá; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ đạt mức tăng cao hơn so nhiều năm qua (khoảng 20,7%). Kim ngạch xuất khẩu cả nước vượt kế hoạch đề ra.

- Thu ngân sách vượt dự toán, cơ cấu thu tiếp tục có tiến bộ, tỷ trọng thu nội địa tăng; tỷ lệ huy động vào ngân sách so với GDP đạt cao, khoảng 25,1%. Huy động vốn cho đầu tư phát triển từ các thành phần kinh tế đạt khá, đặc biệt là huy động vốn đầu tư nước ngoài và vốn của dân cư. Tỷ lệ huy động vốn đầu tư toàn xã hội so với GDP đạt 38,2%.

- Các thành phần kinh tế tiếp tục phát triển mạnh. Doanh nghiệp nhà nước tiếp tục được sắp xếp lại theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 3 theo hướng đa dạng hóa sở hữu với các hình thức cổ phần hóa, giao, bán, khoán, cho thuê doanh nghiệp nhà nước…

- Một số lĩnh vực xã hội có tiến bộ đáng kể, nhiều địa phương đã hoàn thành phổ cập trung học cơ sở (31/64 tỉnh, thành phố), cơ sở vật chất của nhiều trường học đã được tăng cường thông qua việc thực hiện Chương trình kiên cố hóa trường học; công tác phòng chống dịch bệnh có nhiều tiến bộ, nhất là trong việc phòng chống dịch cúm gia cầm; chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam có tiến bộ và công tác xóa đói giảm nghèo đạt được nhiều kết quả nổi bật, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao; phong trào đền ơn, đáp nghĩa, trợ giúp người có khó khăn phát triển sâu rộng trong cả nước.

- Chính trị, quốc phòng được củng cố, an ninh và trật tự an toàn xã hội tiếp tục được giữ vững.

Tình hình kinh tế - xã hội vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức:

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) đạt mức khá cao, nhưng tốc độ tăng giá trị gia tăng của các ngành công nghiệp và xây dựng, chưa đạt kế hoạch. Chi phí sản xuất trong một số ngành tuy đã có xu hướng giảm, song vẫn còn ở mức cao; sức cạnh tranh của một số sản phẩm mặc dù có được cải thiện nhưng vẫn còn yếu so với các nước trong khu vực…Chỉ số giá tiêu dùng tăng cao.

- Xuất khẩu phải đối mặt với cạnh tranh. Xuất khẩu đang đứng trước khó khăn, thách thức lớn là chịu sức ép cạnh tranh, đặc biệt là những mặt hàng có thế mạnh của các nước trong khu vực. Cơ cấu hàng xuất khẩu đã qua chế biến vẫn thấp, tỷ trọng xuất khẩu hàng thô và hàng sơ chế năm 2005 còn chiếm tới 51% trong tổng giá trị xuất khẩu.

- Việc triển khai thực hiện vốn đầu tư của nhà nước ở một số bộ, ngành và địa phương còn chậm và chưa chấp hành tốt các quy định về quản lý đầu tư và xây dựng, quản lý đấu thầu... Tiến độ giải ngân các dự án sử dụng trái phiếu Chính phủ của các ngành giao thông, thủy lợi, công trái giáo dục và các dự án sử dụng vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước còn chậm.

- Tình trạng lãng phí, thất thoát, tham nhũng trong việc sử dụng nguồn lực tài chính nhà nước, trong sử dụng đất đai, trong đầu tư xây dựng cơ bản, sự nhũng nhiễu, gây phiền hà cho nhân dân khi phải tiếp xúc giải quyết công việc với các cơ quan công quyền,... là những tồn tại lớn.

- Nhiều vấn đề xã hội rất bức xúc: Thất nghiệp ở thành thị và thiếu việc làm ở nông thôn vẫn rất gay gắt. Chất lượng nguồn lao động còn nhiều yếu kém (thể lực, trình độ chuyên môn và tác phong công nghiệp); năng suất lao động thấp. Chất lượng dịch vụ y tế chưa đáp ứng nhu cầu của nhân dân. Nhiều dịch vụ văn hóa không lành mạnh vẫn có chiều hướng gia tăng. Trật tự kỷ cương xã hội chưa nghiêm. Các tệ nạn xã hội vẫn rất nhức nhối, đặc biệt là tội phạm ma túy gia tăng gây hậu quả xấu về mọi mặt. Tai nạn giao thông vẫn là vấn đề rất bức xúc.

- Môi trường đô thị, khu công nghiệp, đặc biệt là làng nghề bị ô nhiễm nặng, đa dạng sinh học bị suy giảm. Công tác quản lý tài nguyên còn bất cập, nhất là quản lý tài nguyên khoáng sản và quản lý bảo vệ rừng.

II. Định hướng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2006

1. Mục tiêu, nhiệm vụ và các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch năm 2006

Các mục tiêu chủ yếu đề ra trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2006:

- Duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và bền vững. Tạo chuyển biến mạnh mẽ về sức cạnh tranh và hiệu quả của nền kinh tế. Ðẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng tăng nhanh tỷ trọng dịch vụ và công nghiệp. Huy động, sử dụng hiệu quả các nguồn lực để đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

- Chủ động thực hiện lộ trình của Hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực. Khai thác tối đa các lợi thế và hạn chế các mặt bất lợi do mở rộng hội nhập kinh tế quốc tế phục vụ tăng trưởng. Thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế đã ký kết. Tạo mọi điều kiện thuận lợi để tăng nhanh xuất khẩu; thu hút vốn, công nghệ cao từ bên ngoài.

- Huy động tối đa các nguồn vốn đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội. Thu hút mạnh hơn vốn đầu tư nước ngoài và vốn đầu tư của khu vực dân doanh. Nâng cao hiệu quả vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước.

- Tạo sự chuyển biến mạnh trong công tác xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sống nhân dân, nhất là mục tiêu phát triển văn hóa, giáo dục, y tế, xã hội. Tiếp tục xây dựng kết cấu hạ tầng xã hội bền vững và giải quyết có hiệu quả những vấn đề xã hội bức xúc.

- Đổi mới về tổ chức, nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước. Phát huy dân chủ cơ sở, tăng cường đối thoại giữa cơ quan nhà nước các cấp với cộng đồng doanh nghiệp và dân cư.

Các chỉ tiêu chủ yếu:

- Các chỉ tiêu kinh tế: Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng 8% so với năm 2005. GDP theo giá thực tế khoảng 970 nghìn tỷ đồng; GDP bình quân đầu người khoảng 720 USD. Giá trị tăng thêm của ngành nông, lâm, ngư nghiệp tăng khoảng 3,8%; giá trị tăng thêm của ngành công nghiệp và xây dựng tăng trên 10,2%; giá trị tăng thêm của các ngành dịch vụ tăng trên 8%. Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng khoảng 16,4%. Tổng nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội khoảng 375 nghìn tỷ đồng, tăng 17,2% so với năm 2005 và bằng 38,6% GDP. Thu ngân sách nhà nước bằng khoảng 24,1% GDP, tăng 11% so với ước thực hiện năm 2005; tổng chi ngân sách nhà nước tăng 12,2% so với ước thực hiện năm 2005; bội chi ngân sách nhà nước khoảng 5% GDP.  Tốc độ tăng giá tiêu dùng thấp hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế.

- Các chỉ tiêu xã hội: Giảm tỷ lệ sinh trong năm 0,4%; quy mô dân số 84,27 triệu người, tăng 1,34% so với năm 2005. Tạo việc làm cho khoảng 1,6 triệu lao động, trong đó xuất khẩu lao động và chuyên gia 8 vạn người. Phấn đấu đến cuối năm 2006 có 35 tỉnh hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở; tuyển mới đại học cao đẳng tăng 10%; trung học chuyên nghiệp tăng 15%; đào tạo nghề dài hạn tăng 13%. Số hộ được nghe Ðài Tiếng nói Việt Nam đạt 96,5%; số hộ được xem Truyền hình Việt Nam đạt 92%. Giảm 2% tỷ lệ hộ nghèo so với năm 2005 (theo chuẩn mới . Giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng xuống dưới 24%; giảm tỷ lệ tử vong bà mẹ liên quan đến thai sản xuống 78/100 nghìn trẻ em sinh ra sống.

- Các chỉ tiêu về tài nguyên môi trường và phát triển bền vững: Nâng tỷ lệ che phủ rừng lên 39%; cung cấp nước sạch cho 67% dân số nông thôn và 75% ở đô thị; thu gom 70% chất thải rắn, xử lý 44% chất thải nguy hại và 72% chất thải y tế, xử lý 40% cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

(Tin từ các báo QĐND, ND, TBKT 17-18/10)

 
Quay lại Đầu trang In trang Gửi mail

Bản quyền của Vụ Thông Tin Báo Chí - Bộ Ngoại Giao
© Copyright by Press and Information Department - Vietnam Ministry of Foreign Affairs
Email: Banbientap@mofa.gov.vn 
Hiển thị tốt nhất với Internet Explorer. Best viewed with Internet Explorer