TÌNH HÌNH KINH TẾ-XÃ HỘI THÁNG 7 VÀ 7 THÁNG ĐẦU NĂM 2009 VÀ DỰ BÁO VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ THẾ GIỚI, TRONG NƯỚC THỜI GIAN TỚI
I. TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI THÁNG 7 VÀ 7 THÁNG ĐẦU NĂM 2009
1. Về ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế hợp lý, bền vững
(1) Sản xuất công nghiệp đang trong xu hướng phục hồi và tăng trưởng liên tục trong 6 tháng qua
Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 7 tăng 2,3% so với tháng 6 năm 2009 và tăng 7,6% so với cùng kỳ năm 2008, trong đó: khu vực kinh tế ngoài nhà nước tăng 8% và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 8,7%. Như vậy, trừ tháng 1 có tốc độ tăng trưởng âm, 6 tháng còn lại giá trị sản xuất công nghiệp đều tăng nhanh qua từng tháng. Tính chung 7 tháng đầu năm, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 5,1% so với cùng kỳ năm trước (3 tháng đầu năm tăng 2,1%, 4 tháng tăng 3,3%, 5 tháng tăng 4%, 6 tháng tăng 4,8%). Trong đó, khu vực kinh tế nhà nước tăng 1,5%; khu vực kinh tế ngoài nhà nước tăng 7,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 5,3%.
Lĩnh vực xây dựng tiếp tục phát triển thuận lợi nhờ chính sách kích cầu đầu tư và sự phục hồi của thị trường bất động sản.
(2) Khu vực dịch vụ nhìn chung vẫn duy trì mức tăng trưởng khá cao
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 7 tháng đầu năm 2009 tăng 18,3% so với cùng kỳ năm 2008, trong đó thương nghiệp tăng 17,7%; khách sạn, nhà hàng tăng 17,9%, du lịch tăng 20,1%; dịch vụ khác tăng 24,0%.
Khối lượng vận chuyển hàng hoá 7 tháng năm 2009 ước đạt 367,8 triệu tấn, tăng 2,3% so với cùng kỳ năm 2008, khối lượng luân chuyển ước đạt 107,6 tỷ tấn.km, tăng 7,6% so với cùng kỳ; số lượng vận chuyển hành khách ước đạt 1.129,3 triệu lượt hành khách, tăng 8,5%; khối lượng luân chuyển hành khách tăng 5,3% so với cùng kỳ năm 2008.
Tổng số thuê bao điện thoại phát triển mới trong 7 tháng đầu năm đạt 25,55 triệu thuê bao, nâng tổng số thuê bao điện thoại trên toàn mạng đến hết tháng 7/2009 lên 107,8 triệu thuê bao (trong đó thuê bao di động chiếm khoảng 86%), đạt mật độ 123,9 máy/100 dân. Tổng số thuê bao Internet băng rộng phát triển mới trong 7 tháng đạt 710 nghìn thuê bao, nâng tổng số thuê bao Internet băng rộng lên 2,64 triệu thuê bao, đạt mật độ 3,03 thuê bao/100 dân.
(3) Về sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
Trong tháng 7, mưa lũ lớn trên diện rộng ở đồng bằng và trung du, miền núi Bắc bộ ảnh hưởng lớn đến sản xuất vụ mùa. Tính đến ngày 15/7/2009, gieo cấy lúa mùa tăng 5,2% so với cùng kỳ, trong đó miền Bắc tăng 4,7%, miền Nam tăng 7,7%.
Diện tích trồng rừng mới tập trung 7 tháng đầu năm đạt 80 nghìn ha, tăng 8,5% so với cùng kỳ năm trước, đạt 33,6% kế hoạch năm. Sản lượng gỗ khai thác đạt 1,7 triệu m3, tăng 20% so với năm 2008. Hiện tượng cháy, phá rừng vẫn diễn ra ở một số tỉnh.
(4) Xuất khẩu còn nhiều khó khăn, nhập siêu thấp hơn nhiều so với cùng kỳ năm trước
Tổng kim ngạch xuất khẩu tháng 7 năm 2009 ước đạt 4,75 tỷ USD, tăng 0,3% so với tháng trước. 7 tháng đầu năm 2009, tổng kim ngạch xuất khẩu ước đạt khoảng 32,35 tỷ USD, giảm 13,4% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) ước đạt 12,24 tỷ USD, giảm 8,8%.
Hầu hết các mặt hàng có thống kê về lượng, mức giá bình quân tính được đều giảm rất mạnh như giá dầu thô giảm 53,1%, giá cao su giảm 45,8%, giá hạt tiêu giảm 33,2%, giá cà phê giảm 29,24%, giá gạo giảm 28,6%, giá hạt điều giảm 19,5%, giá than đá giảm 15,8%, chè giảm 9%... Ước tính sơ bộ, với việc giảm giá xuất khẩu các mặt hàng chủ yếu như trên, kim ngạch xuất khẩu giảm do giá xuất khẩu lên tới trên 6 tỷ USD.
Thị trường xuất khẩu của Việt Nam trong 7 tháng đầu năm 2009 hầu hết đều bị thu hẹp mạnh, đặc biệt là thị trường Châu Úc và Châu Á; so với cùng kỳ năm 2008, kim ngạch xuất khẩu sang các thị trường này giảm lần lượt là 40,2% và 21,2%. Kim ngạch xuất khẩu sang Châu Mỹ giảm nhẹ hơn, ở mức 7,7%. Riêng thị trường Châu Âu và Châu Phi có mức tăng trưởng dương, lần lượt là 19,3% và 49,3%.
Xuất khẩu sang Châu Âu tăng nhưng riêng xuất khẩu vào các nước trong khối EU lại giảm 13,6% so với cùng kỳ. Mặc dù có sự sụt giảm mạnh nhưng Châu Á vẫn là thị trường xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam với tỷ trọng khoảng 44%, tiếp theo lần lượt là Châu Âu (tỷ trọng 27%), Châu Mỹ (22%)… Trong vài tháng trở lại đây, đã có những tín hiệu hồi phục lạc quan từ các thị trường như Trung Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ, EU, riêng xuất khẩu sang thị trường ASEAN lại giảm khá mạnh.
Kim ngạch nhập khẩu tháng 7 năm 2009 ước đạt 6 tỷ USD, tăng 1,68% so với tháng trước.
7 tháng đầu năm 2009, tổng kim ngạch nhập khẩu ước đạt 35,374 tỷ USD, giảm 34% so với cùng kỳ năm trước, trong đó kim ngạch nhập khẩu của doanh nghiệp đầu tư nước ngoài ước đạt 12,69 tỷ USD, giảm 22,9%.
Nhập siêu trong 7 tháng đầu năm khoảng 3,38 tỷ USD, tương đương 10,5% tổng kim ngạch xuất khẩu, thấp hơn nhiều so với cùng kỳ năm 2008 (40,8%).
2. Về tài chính và ổn định kinh tế vĩ mô
(1) Thu chi ngân sách nhà nước
Thu ngân sách nhà nước 15 ngày đầu tháng 7 năm 2009 ước đạt 15 nghìn tỷ đồng, nâng tổng số lũy kế từ đầu năm đến ngày 15/7/2009 lên 198,3 nghìn tỷ đồng, bằng 50,9% dự toán năm.
Chi ngân sách nhà nước 15 ngày đầu tháng 7 ước đạt 19,7 tỷ đồng, lũy kế từ đầu năm đến ngày 15/7/2009 ước đạt khoảng 240,6 nghìn tỷ đồng, bằng 49,0% dự toán năm; trong đó: chi đầu tư phát triển đạt 56,4 nghìn tỷ đồng, bằng 50,0% dự toán năm; chi thường xuyên đạt 144,1 nghìn tỷ đồng, bằng 53,5% dự toán năm.
(2) Chỉ số giá tiêu dùng
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 7 tăng 0,52% so với tháng trước, thu hẹp so với mức tăng tháng 6 là 0,55%. So với tháng 12 năm 2008, chỉ số giá tiêu dùng tháng 7 tăng 3,22% (cùng kỳ tăng 19,78%). Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 7 tháng đầu năm 2009 đã giảm xuống một con số, với mức tăng 9,25% so với 7 tháng đầu năm 2008.
(3) Về đầu tư phát triển
Vốn đầu tư từ NSNN thực hiện trong tháng 7 ước đạt 13,4 nghìn tỷ đồng, bằng 9,3% kế hoạch năm, 7 tháng đầu năm ước đạt 70,9 nghìn tỷ đồng, bằng 49,3% kế hoạch năm, tăng 48,7% so với cùng kỳ năm trước.
Giải ngân vốn trái phiếu Chính phủ cho giao thông và thủy lợi 7 tháng đầu năm ước đạt 7,1 nghìn tỷ đồng, bằng 28,9% kế hoạch năm; cho y tế ước đạt 2,7 nghìn tỷ đồng, bằng 72% kế hoạch. Vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước thực hiện đạt khoảng 29 nghìn tỷ đồng, bằng 64,1% kế hoạch.
Về đầu tư trực tiếp nước ngoài, trong 7 tháng đầu năm đã đăng ký mới và tăng vốn cho 510 dự án với tổng vốn là 10,1 tỷ USD, bằng 18,8% cùng kỳ trước; trong đó vốn đăng ký mới là 5,4 tỷ USD, bằng 11,0%, vốn tăng thêm là 4,7 tỷ USD, tăng 7,2% so với cùng kỳ năm trước. Thực hiện vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 4,65 tỷ USD, giảm 22,5% so với cùng kỳ năm 2008.
Tổng giá trị vốn ODA được ký kết thông qua các Hiệp định với các nhà tài trợ tính từ đầu năm đến ngày 15/7/2009 đạt 2.187,6 triệu USD, tăng 35,4% so với cùng kỳ năm 2008. Tổng số vốn ODA giải ngân 7 tháng ước đạt 1.474 triệu USD, bằng 78% kế hoạch năm, bao gồm vốn vay khoảng 1.350 triệu USD; vốn viện trợ không hoàn lại khoảng 124 triệu USD.
(4) Về phát triển doanh nghiệp
Số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới trong tháng 7 ước đạt 7 nghìn doanh nghiệp, tăng 34,6% so với tháng 7 năm 2008; tổng số vốn đăng ký mới đạt trên 33 nghìn tỷ đồng, tăng 27,3% so với tháng 7 năm 2008.
Ước 7 tháng đầu năm cả nước có khoảng 48 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 19,9% so với cùng kỳ năm 2008. Tuy nhiên, số vốn đăng ký mới trong 7 tháng đầu năm giảm sút khá lớn so với cùng kỳ, ước đạt 207,6 nghìn tỷ đồng, giảm 34,8% so với cùng kỳ năm ngoái.
(5) Về giáo dục, y tế, an sinh xã hội và các lĩnh vực xã hội khác
Tỷ lệ đỗ tốt nghiệp trung học phổ thông năm học 2008-2009 trong toàn quốc đạt 83,8%, cao hơn tỷ lệ đỗ lần 1 của năm 2008 là 7,8%. Tỷ lệ đỗ tốt nghiệp hệ giáo dục thường xuyên trong toàn quốc đạt 39,6%, thấp hơn cùng kì năm 2008 là 2,8%. Trong tháng 7, ngành giáo dục và đào tạo đã tổ chức tốt kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng năm 2009, với trên 2,1 triệu hồ sơ đăng ký dự thi. Nhìn chung, kỳ thi tuyển sinh được tổ chức tốt, bảo đảm bí mật đề thi, an toàn và trật tự. Đến nay, hầu hết các trường đã công bố kết quả thi tuyển sinh.
Về công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân: Ngành y tế đã thực hiện tốt công tác kiểm dịch y tế, nhanh chóng phát hiện các trường hợp nhiễm cúm A (H1N1). Đáng chú ý là cúm A (H1N1) đã xuất hiện và lây lan tại một số trường học. Công tác phòng chống các loại bệnh dễ gây dịch khác, như sốt xuất huyết, tả, sốt rét, viêm màng não, v.v… tiếp tục được tăng cường. Giám sát chặt chẽ tình hình mắc sốt xuất huyết và cung cấp thuốc, hướng dẫn phun hóa chất diệt muỗi phòng chống sốt xuất huyết tại các tỉnh, thành phố trọng điểm. Trong tháng 7, ngành y tế đã phối hợp tốt với các trường đại học, cao đẳng bảo đảm sức khỏe cho các thí sinh đi thi; sẵn sàng đáp ứng khi có thí sinh bị ốm hoặc dịch bệnh xảy ra.
Về tình hình lao động, việc làm: Ước trong tháng 7 tạo việc làm cho khoảng 122 nghìn lượt người, bằng 87,1% so với cùng kỳ năm 2008; trong đó xuất khẩu lao động đạt 5.700 người, bằng 81,4% so với cùng kỳ năm ngoái. 7 tháng đầu năm, tổng số lượt lao động được giải quyết việc làm ước đạt 722 nghìn người, bằng 83,9% so với cùng kỳ năm 2008, trong đó xuất khẩu lao động khoảng 4 vạn người, bằng 80% so với cùng kỳ năm 2008.
Về công tác đền ơn, đáp nghĩa, các bộ, ngành, địa phương đã tổ chức nhiều hoạt động kỷ niệm 62 năm ngày Thương binh, liệt sĩ (27-7), thăm hỏi, động viên, tặng quà cho các gia đình thương binh, liệt sĩ, bà mẹ Việt Nam anh hùng, các đối tượng chính sách, người có công.
Tai nạn giao thông trong tháng 6 có 1.048 vụ, làm chết 985 người và làm bị thương 654 người. Tai nạn giao thông 6 tháng giảm cả về số vụ, số người chết và bị thương so với cùng kỳ năm 2008. Trong 6 tháng đầu năm 2009, đã xảy ra 6.231 vụ tai nạn giao thông, làm chết 5.827 người và làm bị thương 3.975 người. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 3,6%, số người chết giảm 1,6% và số người bị thương giảm 7,1%.
Về lĩnh vực văn hóa, thông tin, thể dục thể thao, trong tháng 7 đã tập trung tuyên truyền kỷ niệm ngày thương binh liệt sĩ 27-7, sự chỉ đạo, lãnh đạo của Chính phủ thực hiện các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, các hoạt động hợp tác với các nước,... Tuyên truyền, phổ biến thông tin về biện pháp phòng, chống cúm A (H1N1); đưa tin kịp thời về dịch cúm A (H1N1) tại nhiều nước trên thế giới và của Việt Nam; thường xuyên cập nhật thông tin về số người mắc hiện nay ở Việt Nam và công tác phòng chống dịch bệnh này. Tiếp tục tập trung chuẩn bị cho Đại hội thể thao châu Á trong nhà (AI games 3) tổ chức tại Việt Nam, chuẩn bị tham dự Seagames 26 và Paragames tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào vào cuối năm 2009. Một số môn thể thao trong nhà có thế mạnh của Việt Nam (như Vật, bóng bàn, wushu, võ cổ truyền,…) đã được gửi đi tập huấn tại Trung Quốc và Hàn Quốc.
Đánh giá chung, tình hình kinh tế, xã hội tháng 7 và 7 tháng đầu năm tuy còn nhiều khó khăn nhưng tiếp tục phát triển theo chiều hướng tích cực. Sản xuất nông nghiệp ổn định, ngành công nghiệp tiếp tục phục hồi và liên tục tăng trưởng trong 6 tháng qua; khu vực dịch vụ, đặc biệt là thị trường trong nước vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng nhanh. Tuy nhiên, trong từng ngành, lĩnh vực còn nhiều khó khăn, nhất là hoạt động xuất khẩu giảm nhiều so với cùng kỳ năm trước. Các chỉ số tiền tệ, tín dụng đang tăng khá cao, cần có biện pháp kiểm soát chặt chẽ để tránh gây tái lạm phát...
II. DỰ BÁO TÌNH HÌNH KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC TRONG THỜI GIAN TỚI
1. Dự báo tình hình kinh tế thế giới
Mặc dù suy thoái kinh tế thế giới đã có dấu hiệu chững lại ở một số nước, nhưng nhìn chung trong thời gian tới vẫn còn diễn biến phức tạp và ảnh hưởng đến tất cả các nền kinh tế, nhất là các nước đang phát triển, kém phát triển và phụ thuộc nhiều vào bên ngoài. Đà hồi phục của các nền kinh tế không ổn định và có nhiều trở lực đáng kể. Những vấn đề cốt lõi của khủng hoảng tài chính chậm được khắc phục, thương mại toàn cầu vẫn đang bị thu hẹp và vấn đề lao động vẫn còn trầm trọng ở nhiều nước. Nguồn vốn FDI năm nay có thể giảm một nửa so với năm trước.
Báo cáo mới nhất từ Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) cho thấy các nước trên thế giới vẫn đẩy mạnh các biện pháp bảo hộ thương mại. Các hàng hoá chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ bảo hộ thương mại bao gồm sản phẩm từ sữa; sắt; thép; ô tô; chất hoá học; sản phẩm nhựa; hàng dệt may và quần áo. Các biện pháp bảo hộ này sẽ có thể gây ra nhiều vấn đề dài hạn cho nhóm nước nghèo bởi các nước này thường phát triển dựa vào xuất khẩu là chủ yếu. Một số nước mới nổi phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu đang nỗ lực sử dụng công cụ tỉ giá và tiền tệ để hỗ trợ hoạt động xuất khẩu.
WTO cảnh báo số lượng các cuộc điều tra chống bán phá giá sẽ tăng cao nếu khủng hoảng kinh tế tiếp tục kéo dài. WTO đã hạ dự báo về thương mại toàn cầu mức dự đoán giảm 9% trước đây xuống mức giảm 10% trong năm 2009. Trong khi đó, IMF dự đoán khối lượng thương mại sẽ tăng 1% trong năm 2010 sau khi giảm 12% trong năm 2009.
Theo báo cáo cập nhật Triển vọng kinh tế thế giới (WEO) vào tháng 7 của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), mức tăng trưởng năm 2009 sẽ chỉ là -1,4% so với -1,3 % trong dự báo được công bố cách đây ba tháng. Nền kinh tế thế giới sẽ phục hồi mạnh hơn vào năm 2010 với mức tăng trưởng lên tới 2,5% so với mức 1,9% trong báo cáo công bố tháng 4.
IMF cũng nhận định sự khác nhau trong tốc độ phục hồi của từng nền kinh tế. Nhóm nền kinh tế đang phát triển và các nước mới nổi trong đó có Trung Quốc vẫn là đầu tàu giúp kéo kinh tế thế giới ra khỏi suy thoái. Theo đó, khu vực các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi sẽ lấy lại tốc độ 4,7% trong năm 2010, sau khi tăng trưởng 1,5% vào 2009, riêng tăng trưởng Trung Quốc với con số ấn tượng là 7,5% trong năm nay và 8,5% vào 2010.
Trong khi đó, đối với Mỹ, nền kinh tế lớn nhất thế giới, con số suy giảm đạt 2,6% trong năm nay và tăng trưởng nhích nhẹ 0,8% vào năm 2010 nhờ có sự hỗ trợ từ thị trường lao động và nhà đất, sản lượng công nghiệp tăng, đồng thời niềm tin dần quay lại với người tiêu dùng và giới doanh nghiệp.
Nền kinh tế Nhật cũng được dự báo tăng trưởng -6% trong 2009 thay vì -6,2% trong báo cáo trước. Con số dự báo của năm 2010 cũng được nâng lên 1,7%, thay vì chỉ 0,5% như nhận định trước đây.
Riêng đối với châu Âu, tác động của suy thoái lên 16 nước sử dụng đồng tiền chung vẫn còn nặng nề và tiếp tục kéo dài. Tăng trưởng tại khu vực này dự báo giảm 0,6 điểm so với trước, xuống còn -4,8% trong năm nay. Dự báo năm 2010 khu vực này chỉ đạt mức tăng trưởng – 0,3%.
Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) cũng có dự báo xu hướng tương tự như dự báo của IMF.
2. Dự báo tình hình kinh tế trong nước thời gian tới
(1) Tăng trưởng kinh tế (GDP) năm 2009:
Với xu thế tăng trưởng 7 tháng đầu năm và bối cảnh kinh tế thế giới như đã phân tích ở trên, cùng với những giải pháp, chính sách đã và đang triển khai, dự báo tốc độ tăng trưởng GDP sẽ đạt khoảng 5,2%.
Nếu kinh tế thế giới phục hồi nhanh hơn, các ngành, lĩnh vực trong nước lấy lại đà tăng trưởng sớm hơn trong 5 tháng cuối năm thì tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2009 có thể đạt mức cao hơn.
(2) Sản xuất công nghiệp và xây dựng:
Sản xuất công nghiệp 5 tháng cuối năm vẫn còn nhiều khó khăn. Nhiều sản phẩm công nghiệp phải cạnh tranh gay gắt ở thị trường quốc tế, đồng thời phải đối mặt với các biện pháp bảo hộ, hạn chế thương mại đang có chiều hướng gia tăng. Đối với hàng công nghiệp tiêu thụ trong nước, các hàng hóa công nghiệp Việt Nam sẽ tiếp tục đối mặt với hàng hóa giá rẻ của Trung Quốc và nhiều quốc gia khác, cả chính ngạch lẫn nhập lậu trong khi hệ thống phân phối của chúng ta chưa thực sự chuyên nghiệp.
Bên cạnh những khó khăn nêu trên, ngành công nghiệp có những thuận lợi để thúc đẩy tăng trưởng:
Thứ nhất, các biện pháp kích cầu đầu tư, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, kích thích tiêu dùng trong nước và xuất khẩu sẽ tiếp tục tạo đòn bẩy cho công nghiệp phát triển. Thứ hai, khả năng phục hồi của nền kinh tế thế giới đem lại hy vọng tăng trưởng xuất khẩu trở lại đối với nhiều mặt hàng công nghiệp của nước ta. Thứ ba, sự phục hồi và tăng trưởng của cầu hàng hóa nội địa trong 5 tháng cuối năm cùng với việc chú trọng nhiều hơn đến tiêu thụ hàng hóa nội địa sẽ giúp các doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn về đầu ra. Thứ tư, những điều chỉnh và cơ cấu lại của nền kinh tế nói chung và của các doanh nghiệp nói riêng sẽ tạo động lực và sức phát triển mới cho sản xuất công nghiệp.
Ngành xây dựng có triển vọng phát triển thuận lợi nhờ việc tập trung đẩy nhanh tiến độ các dự án đầu tư và việc thực hiện các nguồn vốn bổ sung từ giải pháp kích cầu của Chính phủ, cùng với sự phục hồi của thị trường bất động sản và nhu cầu về nhà ở ngày càng tăng lên.
Với những cơ sở như trên, dự báo tốc độ tăng trưởng GDP của ngành công nghiệp và xây dựng năm 2009 khoảng 4,7-5,4%.
(3) Khu vực dịch vụ:
Trong bối cảnh nền kinh tế đang dần phục hồi, các ngành dịch vụ sẽ có nhiều cơ hội để khai thác các tiềm năng và đạt mức tăng trưởng cao hơn trong 5 tháng cuối năm. Dự báo cả năm 2009 tốc độ tăng trưởng giá trị tăng thêm khu vực dịch vụ có thể đạt khoảng 6,3-6,7%. Dự báo tình hình phát triển của từng ngành dịch vụ như sau:
Cùng với sự tăng trưởng trở lại của nền kinh tế và các chính sách kích cầu, nhu cầu mua sắm hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng của người dân sẽ tăng lên. Ngành thương mại bán lẻ và dịch vụ tiêu dùng sẽ tiếp tục tăng trưởng ổn định trong 5 tháng cuối năm, dự kiến tăng trưởng cả năm 2009 đạt khoảng 20% so với năm 2008.
Sức tiêu thụ hàng hóa và các hoạt động thương mại nội địa tăng lên sẽ góp phần làm tăng các dịch vụ vận tải, chu chuyển hàng hoá. Các dịch vụ liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu như vận tải, bốc xếp, hành chính, tư pháp cũng sẽ tăng trở lại cả về số lượng và giá trị sau một thời gian trầm lắng do xuất nhập khẩu giảm sút.
Ngành bưu chính viễn thông trong 5 tháng cuối năm và cả năm 2009 cũng có khả năng đạt tốc độ tăng trưởng cao do Việt Nam có sức cầu lớn, các dịch vụ ngày càng phong phú và nhiều chương trình khuyến mãi được các doanh nghiệp đưa ra để thu hút khách hàng.
Ngành du lịch chịu ảnh hưởng lớn do suy thoái kinh tế và tình hình dịch bệnh lan rộng, nhưng với những nỗ lực của ngành thông qua việc tổ chức các sự kiện văn hóa, các chương trình quảng bá du lịch trong những tháng cuối năm, khả năng lượng khách quốc tế vào Việt Nam trong những tháng cuối năm sẽ tiếp tục gia tăng.
(4) Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản:
Sản xuất nông, lâm, thuỷ sản 5 tháng cuối năm sẽ có những khó khăn chủ yếu như sau: Thứ nhất, tình hình thời tiết sẽ còn diễn biến phức tạp, ảnh hưởng đến trồng trọt, chăn nuôi và đánh bắt thuỷ hải sản. Thứ hai, các mặt hàng đầu vào cho ngành nông nghiệp như phân bón, thuốc trừ sâu v.v... được dự báo sẽ tăng giá trong 5 tháng cuối năm, làm giá thành sản xuất của ngành nông nghiệp tăng. Bên cạnh đó, việc sản xuất, phát triển các giống cây, con chất lượng cao vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu. Thứ ba, giá trị xuất khẩu của các mặt hàng nông sản, lâm, thủy sản sẽ phụ thuộc nhiều vào nhu cầu và giá của thị trường thế giới.
Tuy nhiên, ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản cũng có những thuận lợi cho phát triển: Nguồn vốn kích cầu của Chính phủ cho khu vực nông nghiệp và nông thôn sẽ tạo điều kiện cho người nông dân mở rộng sản xuất nhiều loại cây trồng, vật nuôi. Việc đưa các giống lúa có chất lượng cao vào sản xuất góp phần nâng cao được giá trị sản phẩm. Bên cạnh đó, việc áp dụng dồn điền đổi thửa, thành lập các tổ hợp tác sản xuất nông nghiệp ở phía Bắc, đặc biệt là hợp tác trong sản xuất lúa cũng góp phần làm nâng cao năng suất và chất lượng nông sản, tiết kiệm chi phí sản xuất cho người nông dân.
Việc tăng thu mua nông sản và một số tín hiệu tích cực về thị trường đầu ra sẽ là yếu tố tâm lý thuận lợi để bà con nông dân tăng diện tích, sản lượng nuôi trồng các loại cây con.
Dự báo tình hình phát triển của một số ngành, sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản trong 5 tháng cuối năm và cả năm 2009 như sau:
Sản lượng lương thực khó có khả năng tăng nhiều trong năm 2009 do đã đạt mức kỷ lục trong năm 2008. Cung lúa gạo trên thế giới 2009 dự kiến tăng do nhiều nước đẩy mạnh thâm canh tăng vụ và được mùa do thời tiết thuận lợi. Cầu gạo vẫn tăng do dân số tăng, các nước xuất khẩu gạo chủ chốt tăng lượng dự trữ để đảm bảo an ninh lương thực và điều tiết lượng gạo bán ra thị trường nên thị trường gạo thế giới dự báo sẽ tiếp tục sôi động. Nếu có nhiều hợp đồng được ký kết sẽ khuyến khích nông dân ở Đồng bằng sông Cửu Long sản xuất vụ 3, sản lượng lương thực sẽ tăng cao hơn.
Ngành thuỷ sản đang gặp khó khăn về xuất khẩu, nhất là đối với 2 mặt hàng chủ lực là cá tra và tôm. Tuy nhiên, các doanh nghiệp thuỷ sản đang tích cực xúc tiến thương mại, tìm kiếm thị trường mới (Nam Phi, Ả Rập) và cùng với thế mạnh của mặt hàng cá tra Việt Nam giàu Omega 3 nên ngành thủy sản vẫn có triển vọng phát triển tốt. Mặc dù vậy, để đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản, cần khắc phục các tồn tại hiện nay của sản xuất thuỷ sản nước ta như vệ sinh nuôi, dư lượng kháng sinh nuôi.
Ngành chăn nuôi kỳ vọng có tốc độ tăng trưởng cao hơn năm 2008 nếu dịch bệnh được kiểm soát tốt. Thị trường chính của sản phẩm chăn nuôi là tiêu thụ nội địa nên ít bị ảnh hưởng bởi biến động trên thị trường quốc tế, tuy nhiên, trong thời gian tới sẽ tiếp tục chịu áp lực cạnh tranh của các sản phẩm nhập khẩu từ các nước khác, nhất là từ các nước lân cận nước ta.
Với tình hình trên, dự báo giá trị tăng thêm ngành nông, lâm, thủy sản năm 2009 đạt khoảng 2,5- 2,8%.
(5) Xuất, nhập khẩu:
Với những dự báo về tình hình kinh tế thế giới nêu trên, dự kiến xuất khẩu trong thời gian tới sẽ tiếp tục gặp nhiều khó khăn. Trên cơ sở cập nhật tình hình xuất khẩu 7 tháng đầu năm và những diễn biến mới trên thị trường quốc tế, dự báo tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2009 đạt khoảng 62,7 tỷ USD, tương đương với năm 2008. Cũng có dự báo kim ngạch xuất khẩu cả năm 2009 chỉ đạt khoảng 61 tỷ USD, giảm 2,7% so với năm 2008 nếu kinh tế thế giới phục hồi chậm và thị trường xuất khẩu khó khăn hơn.
Từ nay đến cuối năm, nhu cầu nhập khẩu có thể tăng lên khi các biện pháp hỗ trợ sản xuất phát huy tác dụng. Dự báo tổng kim ngạch nhập khẩu đạt khoảng 73 tỷ USD, giảm 9,5% so với năm 2008. Dự báo nhập siêu năm 2009 khoảng 10,3 tỷ USD, tương đương với khoảng 16,4% kim ngạch xuất khẩu.
(Tổng hợp từ tài liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
|
|
|
Các tin liên quan: |
|
