Trang chủ     Đăng ký nhận tin    Ý kiến bạn đọc   Liên kết website English 
Thứ năm, ngày 20 tháng 06 năm 2013 Tìm kiếm
 Tìm kiếm nâng cao

THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ CỘNG HOÀ NHÂN DÂN BĂNG-LA-ĐÉT VÀ QUAN HỆ VIỆT NAM-BĂNG-LA-ĐÉT


CỘNG HOÀ NHÂN DÂN BĂNG-LA-ĐÉT (BANGLADESH)
 
I. Khái quát chung:
- Tên nước: CỘNG HOÀ NHÂN DÂN BĂNG-LA-ĐÉT
- Thủ đô : Đắc-ca (Dhaka).
- Vị trí địa lý:  Nằm ở phía Đông Bắc của tiểu lục địa Ấn Độ. Phía Tây, phía Bắc và phía Đông giáp Ấn Độ; Đông Nam giáp Myanmar và phía Nam giáp Vịnh Bengal.
- Đặc điểm tự nhiên, khí hậu: Nhiệt đới gió mùa, quanh năm nóng và ẩm. Mùa hè nhiệt độ trung bình từ 24- 39 độ C; mùa Đông từ  18 - 23 độ C.
- Diện tích: 148.393 km2.
- Dân số: 164.707.000 người (2009- số liệu IMF), trong đó người Bengali chiếm 98%, phần còn lại là một nhóm dân di cư từ vùng lân cận và dân bản địa.
- Tôn giáo: Hồi giáo là quốc đạo, chiếm 88,3%; Đạo Hindi 10,5%; Phật giáo chiếm 0,6%; Thiên chúa giáo và tín ngưỡng khác chiếm 0,6% dân số.
- Ngôn ngữ:    Tiếng Bengali (khoảng 95% dân sử dụng); tiếng Anh được sử dụng rộng rãi.
- Ngày Quốc khánh:   26/3/1971.
- Tiền tệ: Ta kar, khoảng 65 Takar/ 1USD
- Thu nhập bình quân đầu người: 559USD năm 2009 (số liệu của IMF)
 
II. Lịch sử phát triển:
 
 Băng-la-đét là quốc gia trẻ nhất Nam Á, được thành lập năm 1971. Lịch sử và văn hóa Băng-la-đét gắn liền với lịch sử và văn hoá Ấn Độ. Trước năm 1947, Băng-la-đét là một phần lãnh thổ của tiểu lục địa Ấn Độ (Đông Ben-gal). Sau năm 1947, Băng-la-đét trở thành một bộ phận của Pa-ki-xtan (Đông Pa-ki-xtan). Nước Cộng hoà Nhân dân Băng-la-đét độc lập ra đời ngày 26/3/1971. Sếch Mu-gi-bua Ra-man trở thành Tổng thống đầu tiên của Băng-la-đét.
 
 Thời kỳ 1971-1975, chính quyền Băng-la-đét thi hành chính sách đối ngoại hoà bình, không liên kết tích cực, có quan hệ hữu nghị và hợp tác chặt chẽ với Ấn Độ, Liên Xô và các nước XHCN, ủng hộ các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân. Sau khi Sếch Mu-gi-bua Ra-man bị sát hại tháng 8/1975, một loạt các cuộc đảo chính và phản đảo chính đã diễn ra, đưa tướng Di-au Rát-man lên làm Tổng thống và khôi phục chế độ đa đảng. Sau khi Tổng thống Di-au Rát-man bị ám sát năm 1981, tướng Hossain Mohammad Ershad làm đảo chính, lên cầm quyền từ 1982-1990. Sau thắng lợi của phong trào dân chủ vào đầu những năm 1990, Băng-la-đét đã tiến hành ba cuộc tổng tuyển cử (1991, 1996 và 2001) dân chủ và công bằng với sự tham gia của hai đảng lớn là Liên đoàn Nhân dân (AL) và Dân tộc Băng-la-đét (BNP). Vợ góa của Tổng thống Di-au Rát-man, bà Kha-lê-đa Di-a, Chủ tịch đảng BNP đã giành thắng lợi và cầm quyền từ 1991-1996 và từ 2001-2006. Bà Sếc Ha-si-na, Chủ tịch AL và là con gái của cố Tổng thống Sếch Mu-gi-bua Ra-man cũng thắng cử và cầm quyền giai đoạn 1996-2001 và từ đầu 2009 đến nay.
 
III. Thể chế chính trị và đảng phái:
 Băng-la-đét theo chế độ dân chủ đa đảng. Từ tháng 9/1991, Băng-la-đét chuyển từ chế độ Tổng thống sang chế độ dân chủ nghị viện.
 
  - Nguyên thủ quốc gia: Đứng đầu Nhà nước là Tổng thống, do Quốc hội bầu ra với nhiệm kỳ 05 năm, chủ yếu mang tính nghi thức.
  - Quốc hội (Jatiya Sangsad) là cơ quan lập pháp tối cao gồm 330 đại biểu (30 ghế dành riêng cho phụ nữ), được bầu trực tiếp thông qua Tổng tuyển cử với nhiệm kỳ 5 năm.
 
  - Chính phủ: là cơ quan hành pháp cao nhất. Sau Tổng tuyển cử, Thủ lĩnh một đảng hoặc liên minh các đảng có đa số ghế ở Quốc hội làm Thủ tướng Chính phủ.
  - Toà án tối cao là cơ quan tư pháp cao nhất.
  - Băng-la-đét có khoảng 100 đảng phái, trong đó 3 đảng lớn là Đảng Dân tộc Băng-la-đét (BNP), Liên đoàn Nhân dân (Awami League, AL), Jatiya Party (Đảng Dân tộc).
  - Lãnh đạo hiện nay:
 + Tổng thống: Ông Di-lu Ra-man (Zillur Rahman)
  + Thủ tướng: Bà Sếch Ha-si-na (Sheikh Hasina)
 
IV. Kinh tế-xã hội: 
 
Băng-la-đét về cơ bản vẫn là nước nghèo, chậm phát triển. Nhờ ổn định chính trị, kinh tế giai đoạn 2001-2005 có nhiều nét khởi sắc với mức tăng trưởng GDP bình quân đạt 5% năm. Năm 2008, kinh tế Băng-la-đét phát triển tương đối ổn định, tốc độ tăng trưởng GDP đạt khoảng 6%. Năm 2009, tăng trưởng GDP của Băng-la-đét đạt khoảng 5,6%, lạm phát ở mức 5,2%, giá trị xuất khẩu dự kiến đạt trên 16 tỷ USD, dự trữ ngoại tệ đạt gần 7,7 tỷ USD.
Cơ cấu kinh tế:
 
  + Nông nghiệp: Chiếm khoảng 25% GDP và thu hút 63% lực lượng lao động, có tốc độ tăng trưởng từ 2,6%-4%/ năm. Về cơ bản, Băng-la-dét đảm bảo đủ lương thực; tổng sản lượng lương thực năm 2007 đạt khoảng 42 triệu tấn. Các nông sản chính là lúa gạo, đay, chè, mía, khoai tây, thuốc lá, bông, hạt có dầu…
  + Công nghiệp: Chiếm 26,5% GDP và thu hút khoảng 12% lực lượng lao động. Tăng trưởng hàng năm đạt trên 7%, riêng năm 2007 đạt xấp xỉ 9,5%. Năm 2009, do ảnh hưởng chung của suy thoái kinh tế thế giới, ước tính tốc độ tăng trưởng công nghiệp Băng-la-đét đạt khoảng 5,9%. Các ngành công nghiệp chính là chế biến đay, đường, chế biến lương thực, dệt, sản xuất phân bón, dược phẩm, xi măng, đồ gốm điện tử v.v...
  + Thương mại: Từ khi tiến hành tự do hoá và mở cửa kinh tế cuối thập kỷ 80 đầu thập kỷ 90, xuất khẩu luôn đạt mức tăng trưởng cao. Năm tài chính 2006-2007 đạt khoảng 11,75 tỷ USD. Năm 2009, xuất khẩu của Băng-la-đét đạt trên 16 tỷ USD. Bắc Mỹ, Tây Âu ( Đức, Anh), Úc, Nhật là các thị trường xuất khẩu lớn nhất, chiếm trên 60% thị phần. Các mặt hàng chính là quần áo may sẵn, nông sản, đông lạnh (đặc biệt là tôm), dược phẩm, đồ gốm, điện tử, đồ thủ công, chè, đay, đồ da… Nhập khẩu cũng tăng trên 10% hàng năm. Sản phẩm nhập khẩu chính là: máy móc thiết bị, hóa chất, sắt thép, dầu thô và các sản phẩm từ dầu, xi măng, gạo, mì, sữa, thực phẩm, đường, bông thô…
   + Đầu tư nước ngoài: Có xu hướng tăng trong giai đoạn BNP cầm quyền (năm 2006, đạt 2,5 tỷ USD). Liên minh châu Âu, Bắc Mỹ, Nhật Bản chiếm 60%, các nước Nam Á, Đông Á và Đông Nam Á chiếm 35,79%.
  + Viện trợ và nợ nước ngoài:  Từ khi độc lập đến nay, tổng số viện trợ nước ngoài đạt 30,5 tỷ USD (49% là viện trợ không hoàn lại và 51% là cho vay). Nợ nước ngoài hiện vào khoảng 21,23 tỷ USD.   
 
  +  Xuất khẩu lao động: Đây là thế mạnh của Băng-la-đét. Hiện có khoảng 2 triệu lao động Băng-la-đét làm việc ở nước ngoài, mỗi năm chuyển về nước khoảng 3 tỷ USD; năm 2007 đạt tới 5,6 tỷ USD.
V. Đối ngoại:
 Các chính phủ gần đây của Băng-la-đét thi hành chính sách đối ngoại hoà bình, không liên kết, hữu nghị và hợp tác với tất cả các nước, coi trọng tăng cường quan hệ với Ấn Độ và các nước láng giềng Nam Á, thực hiện chính sách hướng Đông, phát triển quan hệ với các nước Đông Nam Á và các nước Châu Á-TBD; đẩy mạnh quan hệ với các nước Hồi giáo; cân bằng và mở rộng quan hệ với các nước lớn như Mỹ, Trung Quốc, các nước Tây Âu, Nhật Bản... Băng-la-đét luôn chứng tỏ mình là nước Hồi giáo ôn hòa;  tích cực tham gia vào các hoạt động gìn giữ hoà bình của Liên Hợp Quốc, đóng góp cho hoà bình và an ninh thế giới.
 
 Băng-la-đét là thành viên của LHQ, Phong trào KLK, Tổ chức các nước Hồi giáo (IOC) và Khối Liên hiệp Anh, Tổ chức hợp tác các nước Nam Á (SAARC), Nhóm hợp tác kinh tế liên khu vực BIMSTEC, Tổ chức thương mại Thế giới (WTO), Diễn đàn đối thoại châu Á (ACD)…Hiện Băng-la-đét đã được chấp thuận làm thành viên ARF vào 2006, đang vận động để tham gia tiến trình hợp tác Á-Âu (ASEM), tổ chức Hợp tác sông Hằng- Mêkông (MGC), Hành lang kinh tế Đông-Tây. ..
 
VI. Quan hệ Việt Nam - Băng-la-đét:
 Ngay sau khi giành độc lập, Băng-la-đét quan tâm theo dõi và ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ của ta. Chính phủ Băng-la-đét lên án Mỹ ném bom miền Bắc. Phong trào quần chúng ủng hộ Việt Nam chống Mỹ lên rất cao và lan rộng trên cả nước. Băng-la-đét là nước đầu tiên ở Nam Á, và là nước thứ 2 ở châu Á không theo CNXH đã công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao cấp đại sứ với Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam. Ngày 11/2/1973, Việt Nam và Băng-la-đét chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao. Hai bên bắt đầu trao đổi một số đoàn và có một số trao đổi kinh tế, thương mại. Tháng 7/1982, ta rút sứ quán ở Đắc-ca.
 Từ năm 1990 đến nay, quan hệ hai bên có nhiều bước phát triển mới, quan trọng cả về chính trị và kinh tế. Tháng 11/1993, Băng-la-đét lập Đại sứ quán tại Hà Nội và ta mở lại Đại sứ quán tại Đắc-ca từ tháng 1/2003. Hai bên đã trao đổi nhiều đoàn cấp cao. Phía ta thăm Băng-la-đét gồm có: Thủ tướng Võ Văn Kiệt (9-10/3/1997), Chủ tịch nước Trần Đức Lương (22-24/3/2004), Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên (16-18/7/2003), Thứ trưởng Bộ Công Thương Lê Dương Quang (14-17/11/09). Phía Bạn thăm ta gồm có: Bộ trưởng Thương mại T. Ac-met (9/1996), Bộ trưởng Ngoại giao A.S.A-dat (5/1999), Bộ trưởng Nông nghiệp M.K An-oa (10/2003), Bộ trưởng Ngoại giao M. Mốc-sét Khan và Bộ trưởng Văn hoá Se-li-ma Ra-man (7/2004), Thủ tướng Kha-lê-đa Di-a (17-19/5/2005). Bộ trưởng Công Nghiệp Băng-la-đét Dilip Barua thăm Việt Nam (30-31/5/09). Đoàn Ủy ban nhà nước về cổ phần hóa Băng-la-đét thăm Việt Nam (17-21/6/09). Bộ trưởng Ngoại giao Băng-la-đét Di-pu Mô-ni gặp Phó Thủ tướng/Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm bên lề Hội nghị cấp cao Không liên kết tại Ai Cập (16/7/09). Thứ trưởng Bộ Khoa học, Công nghệ thông tin và truyền thông Băng-la-đét thăm Việt Nam (15-23/8/09). Bộ trưởng Bưu chính viễn thông Băng-la-đét R.U. A-mét Ra-du dự Diễn đàn công nghệ thông tin thế giới (WITFOR) tại Hà Nội (26-28/8/09). Bộ trưởng Y tế và phúc lợi XH Băng-la-đét Ru-han Ha-kê thăm Việt Nam (18-19/11/09).
 Hai bên đã tiến hành họp UBHH lần đầu tiên (do Bộ trưởng Công thương chủ trì) tại Việt Nam (6-7/2/2006).
 
 Quan hệ thương mại Việt Nam-Băng-la-đét còn nhỏ bé nhưng đang phát triển theo chiều hướng tốt. Năm 2008, tổng kim ngạch thương mại hai chiều đạt khoảng 64,6 triệu USD.
 Việt Nam xuất sang Băng-la-đét chủ yếu gồm các mặt hàng như: vải, sản phẩm chất dẻo, sản phẩm mây, tre, cói và thảm, cao su, máy vi tính, sản phẩm điện tử, gỗ, gốm, sứ ...Các sản phẩm nhập khẩu gồm: tân dược, vải các loại, nguyên phụ liệu dệt may da, sợi các loại, máy móc, thiết bị dụng cụ và phụ tùng, linh kiện điện tử, phân U-rê...
 Hợp tác trên các lĩnh vực khác còn chưa phát triển mạnh, chủ yếu giới hạn ở mức độ trao đổi kinh nghiệm về phát triển cơ sở hạ tầng, doanh nghiệp vừa và nhỏ, thủy sản, bảo vệ môi trường....Hai bên đang phấn đấu đưa hợp tác kinh tế, thương mại  cũng như trên các lĩnh vực khác như nông - ngư nghiệp, công nghiệp, thủ công nghiệp, tài chính, ngân hàng, văn hóa, giáo dục-đào tạo, du lịch, y tế…lên tương xứng với quan hệ chính trị.
 Hai bên hợp tác tốt tại các diễn đàn quốc tế như LHQ, Phong trào Không liên kết, ASEAN...Băng-la-đét ủng hộ ta làm ứng cử viên không thường trực của HĐBA/LHQ khoá 2008-2009 và gia nhập WTO. Băng-la-đét đề nghị ta ủng hộ bạn tham gia ARF, tham gia hợp tác Sông Mêkông-Sông Hằng, ASEM, hàng lang kinh tế Đông-Tây.
 Hai bên đã ký kết 14 Nghị định, thỏa thuận, Hiệp định về hợp tác chính trị, kinh tế, thương mại, đầu tư,...
 
VII- Các Hiệp định, Thỏa thuận đã ký giữa hai nước:
 - Hiệp định vận chuyển hàng không (1993),
 - Bản ghi nhớ về tham khảo chính trị giữa hai Bộ ngoại giao (1994),
 - Hiệp định  hợp tác kinh tế và khoa học-kỹ thuật (1994),
 - Hiệp định thương mại (1996),
 - Hiệp định văn hoá (1997),
 - Hiệp định thành lập Uỷ ban Hỗn hợp về hợp tác kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật (1997),
 - Hiệp định hợp tác giữa Thông tấn xã Việt Nam và Hãng thông tấn Băng-la-đét (1997),
 - Thoả thuận hợp tác giữa Phòng Thương mại-Công nghiệp Việt Nam và Liên đoàn các Phòng Thương mại-Công nghiệp Băng-la-đét (1997),
 - Thoả thuận hợp tác về phát triển nguồn nước và kiểm soát lũ lụt (1999),
 - Hiệp định miễn thị thực cho hộ chiếu ngoại giao, công vụ (1999),
 - Hiệp định tránh đánh thuế hai lần (2004),
 - Nghị định thư về hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp (2004),
 - Nghị định thư về chương trình trao đổi văn hoá giai đoạn 2004-2007 (2004),
 - Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư (05/2005).

Tháng 12/2009
 
 
Quay lại Đầu trang In trang Gửi mail

Bản quyền của Vụ Thông Tin Báo Chí - Bộ Ngoại Giao
© Copyright by Press and Information Department - Vietnam Ministry of Foreign Affairs
Email: Banbientap@mofa.gov.vn 
Hiển thị tốt nhất với Internet Explorer. Best viewed with Internet Explorer