Trang chủ     Đăng ký nhận tin    Ý kiến bạn đọc   Liên kết website English 
Thứ năm, ngày 17 tháng 04 năm 2014 Tìm kiếm
 Tìm kiếm nâng cao

THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ BRU-NÂY ĐA-RÚT-XA-LAM VÀ QUAN HỆ VIỆT NAM-BRU-NÂY ĐA-RÚT-XA-LAM


TÀI LIỆU CƠ BẢN BRU-NÂY ĐA-RÚT-XA-LAM (BRUNEI DARUSSALAM)


I/  Khái quát chung

Tên chính thức: Bru-nây Đa-rút-xa-lam (Brunei Darussalam)
Thủ đô: Ban-đa Xê-ri Bê-ga-oan (Bandar Seri Begawan)
Vị trí địa lý:  Gồm hai phần tách rời nhau nằm lọt trong bang Xa-ra-oát (Sarawak) của Ma-lai-xi-a. Trừ phía Bắc giáp biển Đông (161 km bờ biển), ba mặt còn lại có chung biên giới với Đông Ma-lai-xi-a (381 km).

Cả nước chia làm 4 quận: Bru-nây Mua-ra (Brunei Muara), Tu-tông (Tutong), Cu-a-la Bê-lai (Kuala Belait) và Tem-bu-rông (Temburong).
Địa hình: vùng bờ biển là đồng bằng, miền núi ở phía đông và vùng đồi thấp ở phía tây.
Diện tích:  5.769 km2, trong đó 70% là rừng, bờ biển dài 160km, trong đó diện tích vùng nước là 500 km2, diện tích đất liền là 5,269 km2.
Khí hậu: Nhiệt đới, nóng, ẩm, chỉ có hai mùa mưa và khô (giống miền Nam Việt Nam). Nhiệt độ trung bình từ 24 - 320C.
Tài nguyên: dầu mỏ, khí tự nhiên, gỗ
Dân số: 383.371 người (tháng7/2008), trong đó người Mã chiếm 66,3%, người Hoa 11.2%, người bản xứ 3.4 %, các thành phần khác 19.1%. Thủ đô Ban-đa Xê-ri Bê-ga-oan có khoảng 100.000 dân.
Ngôn ngữ: Tiếng Ma-lay (chính thức), tiếng Anh và tiếng Trung Quốc.
Tôn giáo chính: Hồi giáo (chính thức) 67%, Phật giáo 13%, Thiên chúa giáo 10%, tín ngưỡng bản xứ và tôn giáo khác 10%

II.  Lịch sử phát triển:
Tiểu vương quốc Bru-nây đã có thời kỳ thống trị phần lớn lãnh thổ đảo Bô-nê-ô (Borneo) và miền Nam Phi-líp-pin. Từ thế kỷ 16, những người Hồi giáo ở Bán đảo Ma-lắc-ca (Malacca) đã đến Bru-nây buôn bán và truyền bá đạo Hồi. Trong các thế kỷ 17, 18 và đặc biệt là cuối thế kỷ 19, với sự xâm nhập của phương Tây, Bru-nây cũng như các tiểu vương quốc khác ở Tây Ma-lai-xi-a bị suy yếu. Năm 1841, thực dân Anh buộc Tiểu vương Bru-nây nhượng phần lớn lãnh thổ của mình cho tiểu vương người da trắng tên là Giêm Bờ-rúc (Jame Brook) ở Xa-ra-oát (Sarawak). Đến năm 1888, Bru-nây hoàn toàn trở thành nước bảo hộ của Anh. Năm 1906, Bru-nây chấp nhận sự kiểm soát của Anh với quyền hành pháp thuộc về Đại diện thường trực của Anh (British Resident).
Trong Chiến tranh Thế giới lần thứ hai, Bru-nây bị Nhật chiếm đóng (1941 – 1945). Năm 1946, sau khi Nhật bại trận, Anh quay lại chiếm Bru-nây. Trong thời gian này phong trào đấu tranh đòi độc lập phát triển mạnh ở Bru-nây, dẫn đến việc Anh buộc phải ký với Quốc Vương một thoả ước, quy định Bru-nây có quyền tự quyết về các vấn đề đối nội, chủ yếu về kinh tế và tôn giáo; Anh là nước bảo hộ phụ trách các vấn đề đối ngoại, quốc phòng và an ninh.
Ngày 14/12/1960, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua nghị quyết về trao trả độc lập cho các lãnh thổ thuộc địa và chưa tự trị, trong đó có Bru-nây. Đứng trước phong trào đấu tranh đòi độc lập của nhân dân Bru-nây chống lại sự bảo hộ của Anh, ngày 03/11/1971, Anh đã phải thoả thuận với Bru-nây sửa đổi Hiến pháp 1959, công nhận Bru-nây có quyền tự quyết về công việc nội bộ; Anh phụ trách vấn đề đối ngoại, còn vấn đề an ninh và quốc phòng là trách nhiệm chung của cả Anh và Bru-nây. Ngày 1/7/1979, Anh và Quốc Vương Bru-nây đã ký một hiệp định, theo đó Anh sẽ trao trả độc lập hoàn toàn cho Bru-nây vào ngày 31/12/1983.
Ngày 15/7/1983, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 37 ngày sinh nhật của mình, Quốc Vương Bru-nây tuyên bố lấy ngày 23/02/1984 làm ngày quốc khánh (tuy ngày tuyên bố độc lập là 1/1/1984). (Đại sứ Việt Nam tại Liên Hợp Quốc là người đầu tiên đến chúc mừng và trao điện của Chính phủ Việt Nam chúc mừng và công nhận Bru-nây độc lập).

III.  Thể chế chính trị:
- Ngày quốc khánh: 23/2/1984
- Thể chế: Quân chủ chuyên chế (Constitutional Sultanate).
Bru-nây theo chế độ quân chủ chuyên chế thế truyền do Quốc Vương đứng đầu. Mọi quyền hành đều nằm trong tay Quốc vương và gia đình Hoàng tộc. Quốc vương có quyền tuyên bố tình trạng khẩn cấp và sửa đổi luật pháp, kể cả Hiến pháp.
Giúp đỡ Quốc vương cai quản đất nước có 5 Hội đồng do Quốc vương chỉ định gồm Hội đồng Bộ trưởng Nội các (the Council  of Cabinet Ministers); Hội đồng Tôn giáo (the Religious Council); Hội đồng Cơ mật (the Privy Council); Hội đồng Lập pháp (the Legislative Council) và Hội đồng Truyền ngôi (the Council of Succession).
- Hệ thống pháp luật: dựa trên Luật pháp của Anh; đối với người Hồi giáo Luật Hồi giáo Xa-ri-a (Sharia) sẽ được áp dụng thay cho Luật dân sự.
- Nguyên thủ quốc gia: Quốc vương Ha-gi Hát-xa-nan Bôn-ki-a (Sultan Haji Hassanal Bolkiah) lên ngôi từ 05/10/1967 (Quốc Vương thứ 29); là Nguyên thủ quốc gia, kiêm Thủ tướng, Bộ trưởng Quốc phòng và Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang, đồng thời là thủ lĩnh Hồi giáo; từ năm 1998 kiêm Bộ trưởng Tài chính.
- Thái tử là Hoàng tử Ha-gi An-Mu-ta-đi Bi-la (Haji Al-Muhtadee Billah) con trai đầu của Quốc Vương Ha-gi Hát-xa-nan Bôn-ki-a, được tấn phong ngày 10/8/1998; ngày 25/3/2004, được phong hàm Đại tướng 4 sao và tham gia lãnh đạo quân đội. Ngày 23/5/2005, Thái tử được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Cao cấp Văn phòng Thủ tướng (Senior Minister at the Prime Minister’s Office).
- Bộ trưởng Ngoại giao và Thương mại (Minister of Foreign Affairs and Trade): Hoàng thân Mô-ha-mét Bôn-ki-a (Mohamed Bolkiah), em trai của Quốc vương.
- Hội đồng Lập pháp (Quốc hội) bị giải thể từ 13/2/1984 khi Bru-nây giành độc lập hoàn toàn từ tay Anh và Quốc vương Ha-gi Hát-xa-nan Bôn-ki-a lên nắm quyền tuyệt đối. Tuy nhiên, tháng 7/2004, với mong muốn thực hiện cải cách chính trị từng bước, Quốc vương Ha-gi Hát-xa-nan Bôn-ki-a đã tuyên bố triệu tập lại Hội đồng Lập pháp, chỉ định 21 thành viên Hội đồng. Ngày 25/9/2004, sau 20 năm gián đoạn, Hội đồng Lập pháp được triệu tập trở lại và họp phiên đầu tiên tranh luận về đề xuất sửa đổi Hiến pháp để tiến hành bầu cử có giới hạn.
Ngày 01/9/2005, Quốc vương Ha-gi Hát-xa-nan Bôn-ki-a giải thể Hội đồng Lập pháp cũ và chỉ định 29 thành viên cho Hội đồng Lập pháp từ ngày 02/9/2005. Theo Công bố sửa đổi Hiến pháp Bru-nây năm 2004, số thành viên Hội đồng được phép tăng lên 45 người, để tăng sự trao đổi giữa các nhóm và thành phần xã hội khác nhau. Công bố cũng quy định, 15 thành viên được lựa chọn qua bầu cử sẽ được phân chia trong 4 quận của Bru-nây.
- Ngày 24/5/2005, Quốc vương Ha-gi Hát-xa-nan Bôn-ki-a đã tuyên bố Nội các mới, bổ sung thêm một số chức vụ: Bộ trưởng Cao cấp phụ trách Văn phòng Thủ tướng (do Thái tử đảm nhiệm), Bộ trưởng Năng lượng (thuộc Văn phòng Thủ tướng), Bộ trưởng Ngoại giao thứ hai (tại Bộ Ngoại giao, ông Lim Jock Seng, nguyên Bí thư Thường trực Bộ Ngoại giao, thành viên Hội đồng Cơ mật), Bộ trưởng Tài chính thứ hai (tại Bộ Tài chính, Haji Abd Rahman bin Haji Ibrahim), Giáo sỹ Nhà nước và Tổng trưởng lý được nâng lên ngang cấp Bộ; lần đầu tiên ba chức vụ Thứ trưởng được bổ nhiệm tại các Bộ Phát triển, Y tế, và Công nghiệp và Tài nguyên. Đặc biệt, lần đầu tiên có các nhân vật từ giới doanh nghiệp tư nhân được tham gia vào Nội các. Điều này cho thấy quyết tâm của Chính phủ Bru-nây đổi mới hệ thống chính phủ để phát triển đất nước trong thời gian tới.
IV.  Kinh tế - xã hôi:
Trước năm 1929, Bru-nây còn rất lạc hậu, nghèo nàn, kinh tế chủ yếu dựa vào nguồn cao su nhỏ bé với sản lượng thấp. Từ năm 1929, việc phát hiện ra dầu mỏ và khí đốt đã đem lại sự giàu có cho đất nước này. Khai thác dầu ngoài khơi bắt đầu từ 1963 và đến nay chiếm phần lớn sản lượng dầu của Bru-nây. Hiện nay dầu hoả và khí đốt chiếm 80% tổng thu nhập trong nước và 90% thu nhập về xuất khẩu nhưng chỉ sử dụng 3% lực lượng lao động. Bru-nây là nước sản xuất dầu mỏ lớn thứ ba ở Đông Nam Á, sau In-đô-nê-xi-a và Ma-lay-xi-a. Bru-nây còn là nước sản xuất khí đốt hóa lỏng lớn thứ tư thế giới.
Bru-nây có nền kinh tế nhỏ nhưng khá thịnh vượng. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trên đầu người của Bru-nây cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực Đông Nam Á nói riêng (đứng sau Xinh-ga-po) và thế giới thứ ba nói chung (31.000 đô-la Mỹ ở thời điểm 2008). Trong 10 năm trở lại đây, GDP tăng bình quân hàng năm 1,5%. Với nguồn thu nhập rất lớn từ xuất khẩu dầu khí và dân số rất ít, Chính phủ Bru-nây có điều kiện thực hiện một số chính sách phúc lợi xã hội cao như công dân không phải đóng thuế thu nhập; giáo dục, chữa bệnh, ma chay không mất tiền; cấp học bổng cho học sinh giỏi được đi học ở nước ngoài; cho nhân dân vay tiền với lãi suất thấp để kinh doanh, sản xuất hay mua nhà ở với giá rẻ. Tuy nhiên, thiếu lao động do dân số ít, thị trường nội địa quá nhỏ bé, khu vực tư nhân yếu kém, phụ thuộc quá nhiều vào xuất khẩu dầu khí đã gây áp lực lớn tới sự phát triển bền vững của Bru-nây.
Về lâu dài, nhằm đa dạng hoá nền kinh tế, hạn chế sự lệ thuộc quá nhiều vào sự thất thường của giá dầu và trữ lượng dầu khí ngày một cạn kiệt, Bru-nây đang thực hiện các kế hoạch 5 năm, đề ra các mục tiêu cho từng giai đoạn. Nhiệm vụ cấp bách của Kế hoạch 5 năm lần thứ 6 (1991 – 1995) là đa dạng hoá nền kinh tế, phát triển các ngành công nghiệp mới hướng vào xuất khẩu nhằm thoát khỏi sự phụ thuộc vào công nghiệp dầu mỏ; tăng cường sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân, phát triển công nghiệp dịch vụ du lịch, tài chính, đồng thời tìm cách khôi phục sản xuất nông nghiệp. Bru-nây cũng đã hoàn thành Kế hoạch phát triển quốc gia 5 năm lần thứ 8 (2001-2005). Tại Hội nghị phát triển quốc gia lần thứ 8 năm 2007, Bru-nây đặt mục tiêu đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, từng bước tự túc và tiến tới tự túc một phần lương thực trong 10-15 năm tới. Trong kế hoạch 5 năm (2007-2012), Bru-nây đặt ưu tiên và đầu tư rất lớn cho giáo dục, dành hơn 800 triệu USD cho các dự án giáo dục đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.
Năm 2008, Bộ Phát triển Kinh tế Bru-nây đưa ra một chiến lược gọng kìm thu hút 4,5 tỷ đô-la Mỹ đầu tư như là một phần trong tiến trình đa dạng hóa nền kinh tế. Chiến lược này bao gồm việc phát triển các ngành chế tạo, hóa dầu và xây dựng một cảng công-ten-nơ lớn. Đặc biệt, gần đây Chính phủ đã cho công bố Kế hoạch Phát triển dài hạn có tên gọi “Tầm nhìn Bru-nây 2035”, tập trung phát triển một số ngành thế mạnh như dầu khí, năng lượng tái sinh, du lịch sinh thái, nuôi trồng thủy sản, công nghệ thông tin, sản xuất chế biến thực phẩm Hồi giáo, tài chính Hồi giáo và giáo dục đào tạo. 
Bru-nây cũng đang nỗ lực trở thành một trung tâm tài chính quốc tế và bước đầu thu được kết quả nhất định (được chọn làm trụ sở Ban Thư ký BIMP – EAGA, khu vực phát triển Đông ASEAN gồm Bru-nây, In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a và Phi-líp-pin).

V.  Chính sách đối ngoại:
- Trước độc lập, chính sách đối ngoại của Bru-nây do chính quyền Anh điều hành và chi phối. Ngay sau khi giành được độc lập năm 1984, ngoài việc là thành viên khối Thịnh vượng chung và Tổ chức Hồi giáo, Bru-nây đã trở thành thành viên thứ 159 của Liên hợp quốc, thành viên thứ 6 của ASEAN và là một trong 12 thành viên sáng lập APEC năm 1989. Từ 1993, Bru-nây tham gia Phong trào Không Liên kết. Ngày 17/3/2005, Bru-nây trở thành thành viên thứ 191 của UNESCO.
- Phương châm chủ đạo trong quan hệ đối ngoại của Bru-nây là “bạn với tất cả, không là thù của ai” (Friend to all and Enemy to none).
- Chính sách đối ngoại của Bru-nây dựa trên các nguyên tắc sau:
+ Tôn trọng chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, độc lập và bản sắc dân tộc của tất cả các nước.
+ Công nhận sự bình đẳng giữa các quốc gia lớn, nhỏ.
+ Không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước khác.
+ Dùng giải pháp hòa bình cho mọi tranh chấp. 
+ Hợp tác cùng có lợi.
- Bru-nây ưu tiên phát triển quan hệ kinh tế, thương mại song phương với một số đối tác chính như Nhật, Trung Quốc, Anh, Xinh-ga-po, Ma-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a và một số nước Hồi giáo ở Trung Đông. Ở cấp độ đa phương, Bru-nây dành ưu tiên phát triển quan hệ với ASEAN, OIC và Khối thịnh vượng chung.
VI.  Quan hệ với Việt Nam:
1. Về chính trị-an ninh-quốc phòng:
Kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao (29/02/1992), quan hệ hữu nghị và hợp tác nhiều mặt giữa Việt Nam và Bru-nây phát triển tốt đẹp, đặc biệt trong lĩnh vực chính trị.
Hai bên đã trao đổi nhiều đoàn cấp cao và các cấp:
- Phía Việt Nam:
+ Chủ tịch nước Trần Đức Lương thăm chính thức Bru-nây (12-14/11/2001); (với tư cách Phó Thủ tướng) sang thăm và dự đám cưới con gái đầu của Quốc vương Bru-nây (8/1996);
+ Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt thăm chính thức nhân dịp hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao (28/2 – 01/03/1992);
+ Thủ tướng Phan Văn Khải dự Cấp cao ASEAN 7 tại Bru-nây (5 – 6/11/2001);
+ Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thăm chính thức Bru-nây (15-16/8/2007); Thủ tướng ta gặp Quốc vương Bru-nây bên lề Hội nghị ASEAN-Hàn Quốc tại Jeju (Hàn Quốc).
+ Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm sang dự Lễ kết nạp Việt Nam trở thành thành viên ASEAN (7/1995);
+ Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên thăm chính thức (13 – 15/6/2000);
 + Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước Nguyễn Cảnh Dinh dự lễ Sinh nhật lần thứ 52 của Quốc vương Ha-gi Hát-xa-nan Bôn-ki-a (14 – 17/7/1998);
+ Bộ trưởng Quốc phòng Phạm Văn Trà thăm chính thức Bru-nây (4/2004).
+ Bộ trưởng Lao động - Thương binh và Xã hội Trần Đình Hoan (9/1997);
+ Bộ trưởng Y tế Đỗ Nguyên Phương thăm làm việc (17 – 18/9/2001);
+ Bộ trưởng Giáo dục Đào tạo Nguyễn Minh Hiển thăm trong khuôn khổ hợp tác SEAMEO (21 – 22/9/2005);
+ Tổng tham mưu trưởng QĐNDVN Trung tướng Phùng Quang Thanh thăm chính thức (10/2002);
+ Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu thăm Bru-nây (15 – 18/3/2007);
+ Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa thăm chính thức (25-28/3/2007);
+ Bộ trưởng Bộ Công an Lê Hồng Anh tham dự Hội nghị Bộ trưởng các nước ASEAN tại Bru-nây về phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia lần thứ 6 (AMMTC) (05-08/11/2007).
- Phía Bru-nây:
+ Quốc vương Bru-nây Ha-gi Hát-xa-nan Bôn-ki-a thăm chính thức Việt Nam (25 – 27/5/1998); dự Hội nghị Cấp cao ASEAN 6 tại Hà Nội (12/1998); dự Hội nghị Cấp cao ASEM 5 tại Hà Nội (10/2004); dự Hội nghị Cấp cao APEC 14 tại Hà Nội (18-19/11/2006)
+ Thái tử Ha-gi An-Mu-ta-đi Bi-la, Bộ trưởng Cao cấp Văn phòng Thủ tướng Bru-nây thăm chính thức (20 – 22/03/2006).
+ Bộ trưởng Ngoại giao Mô-ha-mét Bôn-ki-a thăm chính thức Việt Nam (28 – 30/4/1999) nhân dịp dự lễ kết nạp Cam-pu-chia vào ASEAN;
+ Bộ trưởng Y tế Bru-nây thăm Việt Nam (10/1996);
+ Tư lệnh các lực lượng vũ trang Hoàng gia Bru-nây Trung tướng Han-xi Han-bi thăm chính thức (2003);
+ Thứ trưởng Bộ Nội Vụ Bru-nây, Ông Pehin Datu Singamanteri Colonel (Rtd) Dato Paduka Haji Mohammad Yasmin Bin Haji Umar sang Việt Nam dự Diễn đàn 100 nhà doanh nghiệp khu vực ĐNA (22-23/8/2007).
+ Bí thư thường trực Bộ Ngoại giao và Thương mại Bru-nây Đa-rút-xa-lam thăm làm việc Việt Nam (18-20/3/2007).
+ Bí thư thường trực Văn phòng Thủ tướng Bru-nây Đa-rút-xa-lam thăm làm việc Việt Nam (19/5/2009).
* Từ 01/8/2007, Bru-nây miễn thị thực cho công dân Việt Nam mang Hộ chiếu Phổ thông (14 ngày) và từ ngày 08/8/2007, Việt Nam cũng miễn thị thực cho công dân Bru-nây mang Hộ chiếu Phổ thông (14 ngày).
* Việt Nam quyết định lập Phòng TVQP bên cạnh ĐSQVN tại Bru-nây trong năm 2009. Bạn cũng dự định lập Phòng TVQP bên cạnh ĐSQ Bru-nây tại Việt Nam năm 2010.
2. Về hợp tác kinh tế, đầu tư, thương mại, khoa học – kỹ thuật, giáo dục….
Quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư giữa hai nước ở mức thấp, chưa tương xứng với quan hệ chính trị tốt đẹp giữa hai nước. Kim ngạch thương mại hai chiều còn rất nhỏ, đạt khoảng 1,5 – 2 triệu USD/năm, chủ yếu Bru-nây nhập hàng hóa từ Việt Nam thông qua nước thứ ba (năm 2005 đạt 4,5 triệu USD). Về đầu tư, tính đến tháng 10/2009, Bru-nây có 96 dự án đầu tư tại Việt Nam với tổng số vốn 4,693 tỷ USD, đứng thứ 4 trong ASEAN và thứ 12 trong tổng số 89 nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam, trong đó riêng dự án Khu du lịch liên hợp cao cấp New City-Thành phố xanh bên bờ cát trắng tại Phú Yên lên tới 4,3 tỉ USD (thông qua nhà đầu tư thứ ba).
Hàng năm, Bru-nây cấp cho ta một số học bổng đào tạo về dầu khí, tiếng Anh.
3. Các cơ chế hợp tác và hiệp định ký kết giữa hai nước:
- Ủy ban Hỗn hợp Việt Nam – Bru-nây: Nhân dịp chuyến thăm Bru-nây của Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên (13 – 15/6/2000), hai Bộ trưởng Ngoại giao đã ký Bản ghi nhớ (MOU) về lập Uỷ ban hỗn hợp (UBHH) do Bộ trưởng Ngoại giao làm Chủ tịch phân ban. Theo đó thoả thuận (i) tiến hành cuộc họp đầu tiên của UBHH vào đầu năm 2001 (tuy nhiên, cho đến nay hai nước chưa tổ chức được phiên họp nào); (ii) tích cực trao đổi, đàm phán để ký thêm các Tránh đánh thuế trùng; Khuyến khích và bảo hộ đầu tư và Hàng hải.
- Hiệp định hợp tác Hàng không (8/11/1991). Tháng 5/2006, Hàng không Hoàng gia Bru-nây đã mở đường bay trực tiếp tới TP Hồ Chí Minh.
- Hiệp định Thương mại, Hiệp định hợp tác hàng hải, Bản ghi nhớ về hợp tác Du lịch, và Thỏa thuận hợp tác giữa Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và Bru-nây (ký nhân dịp chuyến thăm chính thức Bru-nây của Chủ tịch nước Trần Đức Lương từ 12 – 14/11/2001).
- Bản ghi nhớ (MoU) về hợp tác giữa hai Bộ Quốc phòng (ký nhân chuyến thăm Việt Nam của Thứ trưởng Quốc phòng Bru-nây vào tháng 11/2005).
- MOU về hợp tác thể thao và thanh niên, MOU về hợp tác dầu khí và Hiệp định tránh đánh thuế hai lần (ký nhân chuyến thăm chính thức Bru-nây của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vào tháng 8/2007).
- Ngoài ra, Cơ quan kiểm toán của hai nước cũng đã ký kết MOU hợp tác trong năm 2008. Hiện hai bên đang tích cực trao đổi, đàm phán để sớm ký Hiệp định Khuyến khích và bảo hộ đầu tư.


Tháng 12  năm 2009

 
Quay lại Đầu trang In trang Gửi mail

Bản quyền của Vụ Thông Tin Báo Chí - Bộ Ngoại Giao
© Copyright by Press and Information Department - Vietnam Ministry of Foreign Affairs
Email: Banbientap@mofa.gov.vn 
Hiển thị tốt nhất với Internet Explorer. Best viewed with Internet Explorer