THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ NƯỚC CỘNG HOÀ IN-ĐÔ-NÊ-XI-A VÀ QUAN HỆ VỚI VIỆT NAM
CỘNG HOÀ IN-ĐÔ-NÊ-XI-A
(The Republic of Indonesia)
------
- Tên nước: Cộng hoà In-đô-nê-xi-a (The Republic of Indonesia)
- Thủ đô: Gia-các-ta (có khoảng 10 triệu dân)
- Vị trí địa lý: In-đô-nê-xi-a là quốc gia quần đảo lớn nhất thế giới, gồm trên 17.500 hòn đảo lớn nhỏ (5 đảo lớn: Ka-li-man-tan, Xu-mát-tờ-ra, Gia-va, Xu-la-uê-xi và Tây Pa-pua (trước là I-ri-an Jay-a) nằm giữa lục địa Châu Á và Châu Đại Dương, nối liền Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương.
- Diện tích: Phần đất rộng 1,9 triệu km2. Phần nước rộng 9,9 triệu km2 (gồm cả vùng đặc quyền kinh tế), chiếm khoảng 81% diện tích cả nước.
- Dân số: hơn 230 triệu người (đông thứ 4 thế giới) với khoảng 300 dân tộc khác nhau (số liệu 2007).
- Khí hậu: nhiệt đới gió mùa với 2 mùa: mùa khô từ tháng 5 đến tháng 9 và mùa mưa từ tháng 12 đến tháng 3.
- Tôn giáo: đạo Hồi chiếm 86,1%; đạo Tin lành: 5,7%; đạo Thiên chúa: 3%; đạo Hindu: 1,8%; và đạo Phật: 1% (số liệu 2007).
- Ngôn ngữ: tiếng In-đô-nê-xi-a (ngoài ra có 583 thổ ngữ).
- Tiền tệ: rupiah (1USD = khoảng 9000 Rp )
- Thu nhập bình quân đầu người (GDP per capita – PPP): khoảng 3000 USD (số liệu ước tính năm 2007)
- Quốc khánh : 17/8/1945.
- Lãnh đạo Nhà nước hiện nay:
+ Tổng thống Xu-xi-lô Bam-bang Giu-đô-giô-nô (Susilo Bambang Yudhoyono)
+ Phó Tổng thống Giu-xúp Ka-la (Jusuf Kalla)
+ Ngoại trưởng Hát-xan Uy-ra-giu-đa (Hassan Wirajuda)
- In-đô-nê-xi-a đã có 6 tổng thống:
+ Xu-các-nô: 1945 - 1967
+ Su-hác-tô: 1967 - 1998
+ Ha-bi-bi: 1998 - 1999
+ Oa-hít: 10/1999 - 7/2001
+ Mê-ga-oa-ti: 2001 - 2004
+ Giu-đô-giô-nô: Từ 20/10/2004
II - Tóm lược về lịch sử, đất nước, con người :
- In-đô-nê-xi-a có lịch sử hơn 3.000 năm. Trước thế kỷ 13 có hơn 30 vương quốc trị vì ở Trung, Đông Gia-va và Xu-ma-tờ-ra. Đầu thế kỷ 16, Hà Lan bắt đầu xâm chiếm In-đô-nê-xi-a. Năm 1811 khi Hà Lan bị Pháp xâm lược, thực dân Anh vào chiếm In-đô-nê-xi-a. Khi Pháp chấm dứt sự thống trị tại Hà Lan, Anh ký Công ước với Hà Lan (13/8/1814) trao trả In-đô-nê-xi-a cho Hà Lan.
- Trong Chiến tranh Thế giới II, Nhật chiếm In-đô-nê-xi-a. Lợi dụng việc Nhật đầu hàng Đồng minh, ngày 17/8/1945, In-đô-nê-xi-a tuyên bố độc lập thành lập nước Cộng hoà In-đô-nê-xi-a. Xu-các-nô được bầu làm Tổng thống, Mô-ha-mét Ha-ta làm phó Tổng thống và nội các đầu tiên được thành lập.
- Sau đó, núp bóng quân Anh vào giải giáp quân Nhật, Hà Lan đã quay trở lại In-đô-nê-xi-a. Nhân dân In-đô-nê-xi-a đã đấu tranh vũ trang bảo vệ nền độc lập cho đến 1949. Ngày 27/12/1949, tại Hội nghị bàn tròn La Hay, Hà Lan buộc phải công nhận chủ quyền nước Cộng hoà In-đô-nê-xi-a.
- Từ 1949 - 1965, dưới thời chính quyền Xu-các-nô (Trật tự cũ) đã diễn ra cuộc đấu tranh nội bộ gay gắt giữa các phe phái. Tháng 9/1965, Đảng Cộng sản In-đô-nê-xi-a (PKI) thân Xu-các-nô và phái tả trong quân đội tổ chức đảo chính nhưng bất thành và bị đàn áp dã man. Từ 1965 - 1967, tuy trên danh nghĩa Xu-các-nô vẫn là Tổng thống nhưng quyền lực thực sự nằm trong tay tướng Xu-hác-tô.
- Từ 1967 - 21/5/1998, Tướng Xu-hác-tô được bầu làm Tổng thống, mở đầu thời kỳ "trật tự mới". Năm 1998, do khó khăn kinh tế (hậu quả của sự mất giá đồng nội tệ Rupiah và khủng hoảng kinh tế tài chính 1997) và sức ép chính trị nội bộ và quốc tế, Xu-hác-tô buộc phải tuyên bố từ chức (21/5) sau hơn 2 tháng cầm quyền của nhiệm kỳ VII. Theo Hiến pháp, Phó Tổng thống Ha-bi-bi lên thay (22/5/1998).
- Ngày 20/10/1999, Hội nghị Hiệp thư¬ơng nhân dân (MPR), Cơ quan quyền lực cao nhất In-đô-nê-xi-a, bầu ông Ap-đu-ra-man Oa-hít làm Tổng thống thứ 4 của In-đô-nê-xi-a, nhiệm kỳ 1999-2004. Do khả năng lãnh đạo yếu, ông Oa-hít đã bị MPR phế truất ngày 23/7/2001 và phó Tổng thống Mê-ga-oa-ti, con gái cố Tổng thống Xu-các-nô, được bầu làm Tổng thống.
- Ngày 20/10/2004, ông Xu-xi-lô Bam-bang Giu-đô-giô-nô và ông Giu-xúp Ka-la đã tuyên thệ nhậm chức Tổng thống và Phó Tổng thống nhiệm kỳ 2004 - 2009.
III- Thể chế chính trị:
1. Chế độ chính trị: In-đô-nê-xi-a theo chế độ cộng hoà, lấy 5 nguyên tắc Pancasila (1- Tin vào một và chỉ một chúa trời; 2- Nhân đạo, công bằng và văn minh; 3- Sự thống nhất In-đô-nê-xi-a; 4- Nền dân chủ được lãnh đạo bởi sự sáng suốt trong sự nhất trí thông qua bàn bạc giữa những người đại diện và 5- Công bằng xã hội cho toàn thể nhân dân In-đô-nê-xi-a) làm cơ sở tư tưởng quốc gia.
2. Thể chế Nhà nước:
- Nguyên thủ quốc gia: Tổng thống (đồng thời là người đứng đầu Chính phủ).
- Quốc hội: Hội đồng Hiệp thương nhân dân (MPR) là cơ quan quyền lực cao nhất của Inđônêxia, có 678 đại biểu trong đó 550 là đại biểu Hội đồng Đại biểu Nhân dân (DPR, tức Hạ viện) và 128 đại biểu Hội đồng Đại biểu Địa phương (DPD, tức Thượng viện). DPR là cơ quan quyền lực nhất trong ngành lập pháp In-đô-nê-xi-a, có chức năng xây dựng và giám sát thực hiện các bộ luật; thông qua các chương trình và chính sách của Chính phủ; phê chuẩn các chức danh Đại sứ, Tư lệnh cảnh sát quốc gia, Tư lệnh quân đội và Tư lệnh các quân chủng. DPD có chức năng chủ yếu phản ánh tiếng nói và tăng cường vị thế của địa phương đối với Chính phủ TW, vai trò hạn chế hơn so với DPR. MPR có 3 chức năng chính: sửa đổi Hiến pháp, làm lễ tuyên thệ nhậm chức cho Tổng thống và Phó Tổng thống được bầu, thực hiện quá trình luận tội chống lại Tổng thống. Tuy nhiên, hiện nay vai trò MPR đã giảm đi nhiều so với trước.
- Cơ chế bầu cử: Các đại biểu MPR, Tổng thống và Phó Tổng thống được bầu trực tiếp 5 năm một lần (tổng tuyển cử bầu các thành viên MPR trước, sau đó đến bầu Tổng thống và Phó Tổng thống).
- Hệ thống tư pháp bao gồm Toà án, công tố, kiểm sát theo mô hình Nhà nước Cộng hoà.
3. Địa giới hành chính và phân cấp quản lý: Quốc gia được phân chia thành 33 tỉnh và đặc khu, 243 huyện và 3481 tiểu khu. 4. Đảng phái chính trị:
- Từ 1973-1997, In-đô-nê-xi-a thực hiện chính sách đơn giản hoá đảng phái chính trị và chỉ để 3 đảng hoạt động là Tập đoàn chức nghiệp (nay là Đảng Golkar), Đảng Dân chủ In-đô-nê-xi-a (PDI) và đảng Hồi giáo phát triển (PPP). Golkar là đảng cầm quyền, luôn thắng tuyệt đối trong các cuộc tuyển cử; đảng PDI và PPP là 2 đảng đối lập.
- Ngày 7/6/1999 diễn ra cuộc Tổng tuyển cử đa đảng đầu tiên trong suốt 40 năm; kết quả, 21 đảng giành ghế trong MPR, chia thành 11 phe phái chính trị trong đó có 4 nhóm chính: PDI-P, Golkar, lực lượng Hồi giáo do PPP làm nòng cốt và lực lượng vũ trang; Golkar mất vai trò chủ chốt.
- Tổng tuyển cử 2004, hai đảng lớn Golkar và PDI-P chiếm đa số tại DPR, Golkar trở lại vị trí số 1, PDI-P xuống vị trí thứ 2. Điểm nổi bật nữa trong Tổng tuyển cử 2004 là các đảng nhỏ nổi lên, giành khá nhiều ghế tại Quốc hội. Thứ tự các đảng lớn tại Quốc hội là Golkar, PDI-P, PD, PKB, PPP, PKS và PAN.
IV. Kinh tế-xã hội :
1. Kinh tế: - Trong hơn 30 năm Trật tự mới (1966-1998), chiến lược phát triển kinh tế của In-đô-nê-xi-a trải qua 2 giai đoạn chính: giai đoạn thay thế nhập khẩu, hướng nội (1966-1982) với động lực thúc đẩy chính là khai thác dầu khí và giai đoạn hướng ngoại (1983 đến nay) với động lực thúc đẩy chính là xuất khẩu hàng phi dầu lửa. Do có nguồn tài nguyên dồi dào (dầu mỏ, thiếc, cây công nghiệp), sự giúp đỡ của các nước phương Tây trong tổ chức liên chính phủ về In-đô-nê-xi-a (IGGI, nay là nhóm tư vấn về In-đô-nê-xi-a CGI) cộng với chính sách kinh tế thị trường, In-đô-nê-xi-a đã đạt được nhiều tiến bộ to lớn về kinh tế.
- Từ 1970-1983, tốc độ GDP trung bình hàng năm là 7,2%. Trong Kế hoạch phát triển 5 năm lần thứ 5 (Repelita V), GDP tăng trung bình 8,3%/năm, năm 1994: 7,3%; năm 1995: 8,1%; năm 1996: 7,3%.
- Từ 1997 In-đô-nê-xi-a lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng mà đỉnh điểm là năm 1998, GDP: -14%, nợ nước ngoài 144 tỷ USD = 63,9% GDP, là tỷ lệ cao nhất thế giới; FDI¬ còn 13,6 tỷ USD (năm 1997 là 22 tỷ), lạm phát: 77,6%; đồng tiền mất giá (có lúc còn 15.500 Rp/1 USD). Về xã hội, khoảng cách giàu nghèo tăng; thất nghiệp trầm trọng: 30% lực lượng lao động không việc làm; 40 % bán thất nghiệp. In-đô-nê-xi-a đã buộc phải nhờ IMF và cộng đồng tài chính quốc tế giúp đỡ.
- Năm 1999, kinh tế bắt đầu phục hồi: GDP đạt 0,48%; lạm phát khoảng 0,02%/ tháng; tỷ giá hối đoái vững ở mức 7.500-8.000 Rp/1USD; dự trữ ngoại tệ đến 9/1999 là 26,9 tỷ USD.
- Từ 2000 đến nay, mặc dù tình hình chính trị - xã hội trong nước còn nhiều khó khăn, nhưng kinh tế In-đô-nê-xi-a tiếp tục hồi phục, GDP hàng năm đạt 3-4%. Năm 2006, GDP đạt 5,5-5,8%; các chỉ số kinh tế vĩ mô cải thiện: thặng dư thương mại tăng (đạt 30 tỷ USD), xuất khẩu đạt trên 90 tỷ USD, nhập khẩu đạt hơn 60 tỷ USD; FDI đạt trên 14 tỷ USD; dự trữ ngoại tệ đạt hơn 40 tỷ USD; nợ nước ngoài giảm xuống dưới 50% GDP; lạm phát ở mức 6,6%; đồng nội tệ ổn định khoảng 9000 Rp/USD. Năm 2007, GDP tăng 6 - 6,3% tức khoảng 410 tỷ USD (nếu tính theo sức mua là 845,6 tỷ USD)..
2.Văn hoá- xã hội:
- Là quốc gia rộng lớn bao gồm nhiều đảo, quần đảo với nhiều dân tộc sinh sống, In-đô-nê-xi-a có nền văn hoá rất đa dạng, phong phú. Mặt khác, cũng do cách trở về địa lý, trình độ phát triển của các khu vực rất khác nhau. Đảo Java có mật độ dân trí cao, trình độ phát triển và mức sống cao nhất; trong khi các đảo như Kalimantan, Tây Papua dân cư thưa thớt, nhiều nơi không có người ở và đời sống hết sức lạc hậu. Sự khác biệt về phát triển, văn hoá, tôn giáo đặt ra nhiều thách thức đối với sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Inđônêxia, đặc biệt từ 1998 khi Inđônêxia lâm vào khủng hoảng cả về kinh tế, chính trị; điển hình là việc Đông Timo tách khỏi Inđônêxia (1999), xung đột tôn giáo ở Maluku, ly khai ở Aceh và tự trị ở Tây Papua.
V. An ninh quốc phòng:
- In-đô-nê-xi-a xây dựng nền quốc phòng toàn dân với nòng cốt là lực lượng vũ trang ABRI. Ngân sách quốc phòng hàng năm khoảng 1,5 tỷ USD (năm 1999), chiếm trên 1% GDP. Quân số th¬ường trực là 297.000 ng¬ười, dự bị là 400.000 người. Dưới thời Xuháctô, ABRI bao gồm cả lực lượng cảnh sát, được hưởng nhiều đặc quyền đặc lợi và có vai trò lớn trong đời sống chính trị, xã hội của In-đô-nê-xi-a.
- Năm 1999, Tổng thống Oa-hít tách lực lượng cảnh sát ra khỏi ABRI (nay đổi thành Quân đội quốc gia In-đô-nê-xi-a, TNI), trực tiếp điều hành lực lượng này (gồm 195.000 người, trong đó có 14.000 cảnh sát cơ động), cải tổ lãnh đạo Bộ Quốc phòng và ABRI; chuyên nghiệp hoá quân đội, giảm vai trò quân đội trong chính trường và xã hội In-đô-nê-xi-a.
VI. Đối ngoại:
- In-đô-nê-xi-a nêu cao học thuyết tự cường quốc gia, tự cường khu vực và đa dạng hoá trong quan hệ đối ngoại. Do vậy, chính sách đối ngoại của In-đô-nê-xi-a dựa trên nguyên tắc "độc lập và tích cực", nói cách khác là hoà bình, độc lập, trung lập và không liên kết.
- Tháng 8/1990, In-đô-nê-xi-a bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc sau 23 năm gián đoạn. Quan hệ Inđônêxia - Trung Quốc phát triển mạnh trong thời gian gần đây, đặc biệt về kinh tế và quân sự. Hai nước thiết lập quan hệ đối tác chiến lược tháng 4/2005.
- Mỹ coi trọng quan hệ với In-đô-nê-xi-a do vai trò và vị trí địa chính trị của In-đô-nê-xi-a, còn In-đô-nê-xi-a muốn tăng cường quan hệ với Mỹ để làm đối trọng với Trung Quốc, Nhật nhưng không muốn Mỹ có mặt như ở Phi-líp-pin. Tuy vậy quan hệ hai bên thăng trầm, nhiều lúc không suôn sẻ do vấn đề nhân quyền, dân chủ và Đông Timo.
- Nhật Bản là đối tác kinh tế và nhà tài trợ lớn của In-đô-nê-xi-a, là nước nhập khẩu chủ yếu các sản phẩm khai khoáng (dầu thô) và nông nghiệp của Indonesia. Hai nước thiết lập quan hệ đối tác chiến lược tháng 11/2006 và ký Hiệp định đối tác kinh tế (Hiệp định thương mại tự do) tháng 8/2007.
- Là sáng lập viên của ASEAN (1967), In-đô-nê-xi-a có tiếng nói quan trọng trọng trong ASEAN và coi ASEAN là hòn đá tảng trong chính sách đối ngoại; muốn xây dựng ASEAN thành một thực thể mạnh để tạo thế trong quan hệ với Mỹ, Nhật, Trung Quốc, EU. Sau thời kỳ khủng hoảng (sau 1997) và đặc biệt từ sau khi Tổng thống Susilo lên cầm quyền, Indonesia chú trọng tăng cường hoạt động nhằm khôi phục vai trò trong ASEAN.
- In-đô-nê-xi-a là nước chủ trì Hội nghị á - Phi năm 1955 (tiền thân của phong trào KLK). Tháng 9/1992, In-đô-nê-xi-a tổ chức Hội nghị Không Liên kết lần thứ 10 và có nhiều đóng góp tích cực vào việc củng cố và tăng cường vai trò và các hoạt động của phong trào, thúc đẩy hợp tác Nam - Nam và đối thoại Bắc - Nam. Tháng 4/2005 In-đô-nê-xi-a cùng với Nam Phi tổ chức thành công Hội nghị cấp cao Á-Phi lần 2 và Lễ kỉ niệm 50 năm Hội nghị Băng-đung, thiết lập quan hệ đối tác chiến lược Á-Phi, đưa quan hệ giữa hai châu lục vào giai đoạn hợp tác phát triển mới, trong đó In-đô-nê-xi-a giữ vai trò nổi bật được các nước thừa nhận.
- In-đô-nê-xi-a muốn cải tổ và dân chủ hoá HĐBA/LHQ theo hướng mở rộng thành viên thường trực cho Nhật, Đức, Ấn Độ. In-đô-nê-xi-a cũng tích cực tham gia các hoạt động của lực l¬ượng gìn giữ hoà bình LHQ. Hiện nay In-đô-nê-xi-a đang đảm nhận chức vụ Uỷ viên không thường trực HĐBA LHQ nhiệm kỳ 2007-2008.
VII/ Quan hệ với Việt Nam:
1. Về chính trị: Hai nước thiết lập quan hệ ở cấp Tổng lãnh sự quán (30/12/1955) và nâng lên cấp đại sứ (15/8/1964). Hai bên nhất trí lấy ngày 30/12/1955 là Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Tháng 6/1973, ta cử đại sứ Nguyễn Hoà đến Gia-các-ta.
Năm 1963, In-đô-nê-xi-a cho Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đặt cơ quan ở Gia-các-ta; và đến 29/7/l975, In-đô-nê-xi-a công nhận Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam.
- Các giai đoạn :
* Từ 1955 - 1965 : Quan hệ hai nước phát triển trên tất cả các lĩnh vực. Giai đoạn này lãnh đạo cao nhất của Đảng, Chính phủ ta như Hồ Chủ tịch, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Chủ tịch Quốc hội Trường Chinh, đồng chí Lê Đức Thọ, đồng chí Nguyễn Duy Trinh đã thăm In-đô-nê-xi-a. Tổng thống Xu-các-nô, Chủ tịch Quốc hội Sa-tô-nô, Tướng Mô-kô-gin-ta... thăm Việt Nam. Hai bên đã ký Hiệp định thương mại và Hiệp định văn hoá. Năm 1957, Hội hữu nghị Việt Nam - In-đô-nê-xi-a thành lập.
* Từ 1966 - 1973: Sau đảo chính quân sự 30/9/1965, quan hệ hai nước trở nên lạnh nhạt, nhiều năm không có đoàn qua lại. Sau khi Hiệp định Pa-ri về Việt Nam năm 1973 ký kết, In-đô-nê-xi-a tham gia Uỷ ban quốc tế ở Việt Nam.
* Từ 1974 - 1978: Quan hệ 2 nước bắt đầu cải thiện. Hai bên đã trao đổi các đoàn: Thứ trưởng Ngoại giao Phan Hiền (1976), Thứ trưởng Ngoại thương Nguyễn Chánh (1977), Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh (1977), Thủ tướng Phạm Văn Đồng (1978); Phía In-đô-nê-xi-a có các đoàn Hội đồng cố vấn tối cao (1977), Bộ trưởng Ngoại giao Mốc-ta (1978). Năm 1977, In-đô-nê-xi-a đóng góp 5.000 đô la Mỹ vào quỹ tín dụng Đông Dương của LHQ để giúp Việt Nam và tháng 11/1976 tặng Việt Nam 14.000 lọ thuốc kháng sinh.
* Từ 1979 - 1986 : In-đô-nê-xi-a cùng với ASEAN chống ta trong vấn đề Căm-pu-chia, nhưng tỏ ra ôn hoà, mềm dẻo hơn các nước khác. Ngay từ tháng 12/1979, In-đô-nê-xi-a đã liên tiếp đưa ra các gợi ý để giải quyết vấn đề Căm-pu-chia.
Đại tướng Murdani, Tổng tư lệnh lực lượng vũ trang In-đô-nê-xi-a, đặc phái viên tổng thống, đã ba lần thăm Việt Nam để thăm dò ta về vấn đề Căm-pu-chia. Tháng 9/1985, Ngoại trưởng In-đô-nê-xi-a thăm ta để bàn về vấn đề Căm-pu-chia.
Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch cũng đã bốn lần thăm In-đô-nê-xi-a (tháng 6/1980, tháng 10/1982, tháng 3/1984 và tháng 8/1985). Tháng 4/1985, Bộ trưởng Quốc phòng Văn Tiến Dũng thăm In-đô-nê-xi-a. Cũng trong thời gian này, In-đô-nê-xi-a cho ta vay 300.000 tấn gạo với lãi suất thấp trong lúc ta đang thiếu gạo.
* Từ 1987 - 1990 : Quan hệ In-đô-nê-xi-a - Việt Nam có những bước phát triển vượt xa quan hệ của các nước ASEAN khác với ta. Về kinh tế, kim ngạch buôn bán hàng năm đã đạt mức 50 triệu USD; tháng 6/1989, hai nước chính thức mở đường hàng không Việt Nam - In-đô-nê-xi-a; nhiều tập đoàn lớn của In-đô-nê-xi-a đã vào Việt Nam để tìm kiếm cơ hội đầu tư, nhất là trong các lĩnh vực dầu khí, khách sạn...
* Từ 1990 đến nay : Quan hệ 2 nước bước vào giai đoạn mới với chuyến thăm có ý nghĩa lịch sử của Tổng thống Xu-hác-tô (11/1990). Đây là chuyến thăm đầu tiên của một tổng thống In-đô-nê-xi-a trong 33 năm và cũng là chuyến thăm Việt Nam đầu tiên của một nguyên thủ quốc gia ở Đông Nam á và Nam TBD kể từ 1975 (trừ Lào và Căm-pu-chia). Với chuyến thăm này, In-đô-nê-xi-a là nước đầu tiên trong khu vực vượt qua vấn đề Căm-pu-chia đi đầu trong việc thúc đẩy hợp tác với Việt Nam, thông qua đó đã mở ra một thời kỳ mới trong quan hệ hai nước.
+ Những năm vừa qua, quan hệ hai nước tiếp tục được thúc đẩy. Đặc biệt, tháng 6/2003, trong chuyến thăm chính thức Việt Nam của Tổng thống Mê-ga-oát-ti, hai nước đã ký “Tuyên bố chung về khuôn khổ hợp tác hữu nghị và toàn diện bước vào thế kỷ 21”. Trên cơ sở mối quan hệ tốt đẹp này, gần đây, lãnh đạo hai nước còn nhất trí xây dựng, đưa quan hệ hai nước lên một tầm cao hơn; In-đô-nê-xi-a luôn khẳng định Việt Nam là "một trụ cột quan trọng" trong các mối quan hệ của In-đô-nê-xi-a ở Đông Nam Á.
+ Cho tới nay, hai nước đã ký khoảng trên 20 hiệp định và thoả thuận hợp tác trong các lĩnh vực kinh tế, thương mại, lãnh sự…; đã thành lập UBHH về hợp tác kinh tế và đã họp 4 phiên (lần gần nhất tháng 4/2007). In-đô-nê-xi-a đã lập Tổng lãnh sự quán ở Thành phố Hồ Chí Minh (năm 1993) và đã đồng ý cho ta lập Tổng lãnh sự ở Đen-pa-sa (Ba-li).
+ Ta và In-đô-nê-xi-a cũng ủng hộ và hợp tác tốt với nhau trên nhiều diễn đàn quốc tế và khu vực. In-đô-nê-xi-a ủng hộ lập trường của ta về vấn đề FIR Hồ Chí Minh, tham gia Hội nghị quốc tế về viện trợ phát triển cho Việt Nam ở Pa-ri (11/1993), hoan nghênh việc Mỹ bỏ cấm vận kinh tế đối với Việt Nam, ủng hộ ta về vấn đề nhân quyền và trở thành thành viên thứ 7 của ASEAN.
+ Năm 1998, khi In-đô-nê-xi-a có khó khăn về lương thực, ta đã viện trợ không hoàn lại cho In-đô-nê-xi-a 10.000 tấn gạo và tỏ sẵn sàng bán chịu và trả chậm. Tháng 11/1999, In-đô-nê-xi-a cũng ủng hộ đồng bào bị lũ lụt tại miền Trung Việt Nam 20.000 USD. Sau các trận động đất và sóng thần 12/2004 và 3/2005, Chính phủ Việt Nam đã ủng hộ In-đô-nê-xi-a 150.000 USD và nhân dân Việt Nam đã gửi tặng nhân dân In-đô-nê-xi-a 1,4 triệu USD.
+ Ngày 15/8/2005, Tham khảo chính trị cấp Thứ trưởng Ngoại giao lần thứ nhất giữa hai Bộ Ngoại giao Việt Nam – In-đô-nê-xi-a diễn ra tại Yogyakarta.
+ Tháng 6/2003, hai nước ký Hiệp định Phân định ranh giới thềm lục địa. Hiệp định này đã được Quốc hội Việt Nam phê chuẩn tháng 11/2003 và Quốc hội In-đô-nê-xi-a phê chuẩn ngày 13/02/2007 và chính thức có hiệu lực ngày 30/5/2007 sau khi hai bên trao đổi văn kiện phê chuẩn.
+ Từ 8-9/8/2007, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thăm chính thức In-đô-nê-xi-a. Nhân dịp này, hai nước nhất trí nâng quan hệ song phương lên một tầm cao mới.
+ Ngày 3/12/2007, Tham khảo chính trị cấp Thứ trưởng Ngoại giao lần thứ hai giữa hai Bộ Ngoại giao Việt Nam – In-đô-nê-xi-a diễn ra tại Hà Nội.
2. Về hợp tác kinh tế, đầu tư, thương mại, KH-KT:
- Về đầu tư, In-đô-nê-xi-a tập trung vào các lĩnh vực thăm dò và khai thác dầu khí, khai thác than, ngân hàng, khách sạn, chế biến xuất khẩu gỗ, sản xuất sợi polyester và hoạt chất tẩy rửa DBSA, may mặc. Từ 1998, do lâm vào khủng hoảng kinh tế, đầu tư của In-đô-nê-xi-a vào ta giảm mạnh. Tính đến hết năm 2007, In-đô-nê-xi-a có 17 dự án đầu tư vào ta với tổng số vốn khoảng 142 triệu USD.
- Về thương mại, kim ngạch hai nước cơ bản tăng dần, nhất là những năm gần đây: năm 1995 chỉ đạt 364 triệu USD, đến năm 2003 là 1,08 tỷ USD; năm 2006 đạt khoảng 2 tỷ USD; năm 2007 đạt khoảng 2,4 tỷ USD (trong đó ta xuất 1,1 tỷ USD và nhập 1,3 tỷ USD). Hai nước đã nhất trí cần nâng cao kim ngạch và cân bằng về thương mại vào năm 2012.
3. Về hợp tác an ninh quốc phòng:
In-đô-nê-xi-a là một trong những nước khu vực có quan hệ sớm nhất về an ninh - quốc phòng với ta. Năm 1964, In-đô-nê-xi-a đặt phòng Tuỳ viên quân sự ở Hà Nội; năm 1985, ta đặt phòng Tuỳ viên quân sự tại Gia-các-ta. Hai bên trao đổi nhiều đoàn cấp Bộ trưởng Quốc phòng, Công an và tướng lĩnh cao cấp và đã triển khai hợp tác trên một số lĩnh vực. In-đô-nê-xi-a đang đào tạo sĩ quan ta tại Trường Tham mưu Băng đung (SESKO).
4. Hợp tác trong các lĩnh vực khác:
Gần đây hai nước thúc đẩy mạnh hợp tác, trao đổi đoàn học tập kinh nghiệm trên nhiều lĩnh vực như hành pháp, lập pháp, tư pháp ở cả trung ương và địa phương; đoàn các Bộ, ngành, đoàn thể quần chúng (tổ chức chính phủ, DS-KHHGĐ, Hội cựu chiến binh, Hội nông dân, phụ nữ, sinh viên . . . Bên cạnh đó các hoạt động giao lưu văn hoá, thể thao, văn công tiếp tục cũng tiếp tục được quan tâm.
|
|
|
Các tin liên quan: |
|
