THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ NƯỚC CỘNG HOÀ DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO VÀ QUAN HỆ VIỆT NAM-LÀO
I. Khái quát chung:
Tên nước: Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào
Thủ đô: Viêng-chăn
Vị trí địa lý: Phía Bắc giáp Trung Quốc 416 km đường biên; Tây Bắc giáp Mi-an-ma 230 km; Tây Nam giáp Thái Lan 1.730 km; Nam giáp Campuchia 492 km và phía Đông giáp Việt Nam 2.067 km đường biên.
Diện tích: 236.800 km 2
Dân số: 6.320.000 người (số liệu năm 2009).
Lào có 49 dân tộc, có những dân tộc gồm nhiều nhánh tộc và được chia thành 04 nhóm ngôn ngữ: nhóm ngôn ngữ Lào-Thái, nhóm ngôn ngữ Mon-Khơ Me, nhóm ngôn ngữ Mông-Dao, nhóm ngôn ngữ Hán-Tây Tạng
Địa lý hành chính: Lào có 16 tỉnh, 1 thành phố (Thủ đô Viêng-chăn)
Khí hậu: Lục địa, chia làm hai mùa là mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 6) và mùa mưa (từ tháng 6 đến tháng 11).
Tôn giáo: Đạo Phật chiếm 85%
Ngôn ngữ: Tiếng Lào
Ngày Độc lập: 12/10/1945
Ngày Quốc khánh: 02/12/1975
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước: Đ/c Chum-ma-ly Xay-nha-xỏn.
Chủ tịch Quốc hội: Đ/c Thoong-xỉnh Thăm-ma-vông.
Thủ tướng Chính phủ: Đ/c Bua-xỏn Búp-phả-văn.
Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao: Đ/c Thoong-lun Xi-xu-lít.
Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam: 05/9/1962
Ngày ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác với Việt Nam: 18/7/1977
Tỷ giá hối đoái: 1 kíp Lào ≈ 2.0 VND.
Thu nhập bình quân đầu người: 841 USD năm 2008.
II. Lịch sử:
Trước thế kỷ 14, lịch sử Lào không được ghi chép rõ ràng, chủ yếu là theo truyền thuyết, theo đó thì vào khoảng thế kỷ thứ 7 (năm 658) "Khun-Lo" lập nước tại Mường-xoa (Luông-pha-bang ngày nay). Sáu người em của Khun-Lo chia nhau cai trị các tiểu vương quốc lân cận.
Vào thế kỷ thứ 14 (năm 1353) Vua Phà Ngừm thống nhất các Tiểu vương quốc (Hủa-phăn, Mương-phương, Viêng-chăn, Chăm-pa-xắc...) thành Vương quốc Lạn-xạng (Triệu voi) bao gồm diện tích hiện nay và vùng I-xản (18 tỉnh Đông Bắc Thái Lan) cùng một phần tỉnh Stung-treng (Đông Bắc Căm-pu-chia). Vua Phà-ngừm đã xây dựng chế độ phong kiến tập trung, đây là thời kỳ rực rỡ nhất của lịch sử phong kiến Lào. Đầu năm 2003, lần đầu tiên Lào tổ chức lễ kỷ niệm vua Phà Ngừm.
Giữa thế kỷ 16 (năm 1556), Vua Xệt-tha-thi-lạt đã rời đô từ Luông-pha-băng về Viêng-chăn. Cũng vào thời kỳ này (1559-1571), Vương quốc Lạn-xạng bị Miến Điện xâm lược ba lần. Nhân dân Lào kiên cường nổi dậy khởi nghĩa chống ách thống trị của Miến Điện và đến năm 1581 giành lại độc lập. Sau đó dưới thời Vua Xu-li-nha Vông-xả, đất nước Lạn-xạng được khôi phục về mọi mặt. Sau khi Vua Xu-li-nha Vông-xả mất, các thế lực phong kiến nổi lên tranh giành chính quyền. Năm 1713, Lạn-xạng bị chia thành 3 vương quốc là Luông-pha-bang, Viêng-chăn và Chăm-pa-xắc.
Năm 1778, Xiêm đưa quân sang đánh Lào. Năm 1779, đất nước Lào Lạn-xạng trở thành thuộc địa của phong kiến Xiêm. Nhân dân Lào dưới sự lãnh đạo của Vua A-nụ đã vùng lên chống lại ách đô hộ của phong kiến Xiêm.
Từ 1893-1945, Pháp đô hộ Lào. Trong thời kỳ này đã nổ ra nhiều cuộc khởi nghĩa vũ trang dưới sự lãnh đạo của Pho-ca-đuộc, Ông-Kẹo, Côm-ma-đăm, Chậu-phạ-pắt-chay nhưng đều thất bại. Đáng chú ý là năm 1892, sau cuộc chiến tranh Pháp-Xiêm, Pháp đã ký một hiệp ước bất bình đẳng gây thiệt hại cho Lào là cắt vùng I-xản (các tỉnh Đông Bắc Thái lan hiện nay) cho Thái lan, lấy sông Mê-công làm biên giới.
Ngày 12/10/1945, nhân dân Lào dưới sự lãnh đạo của Đảng và Mặt trận Lào It-xa-la đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền và tuyên bố độc lập. Từ 1953-1974, tiến hành kháng chiến chống Mỹ. Thời kỳ này có 3 lần hòa hợp dân tộc (lần thứ nhất: 18/11/1957; lần thứ hai: 23/6/1962; lần thứ ba: 5/4/1974). Ngày 2/12/1975, dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, nhân dân Lào lật đổ chế độ Quân chủ lập hiến. Nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào ra đời.
III. Thể chế chính trị:
1. Lào đang trong giai đoạn xây dựng và phát triển chế độ Dân chủ Nhân dân, tạo tiền đề để từng bước tiến lên chủ nghĩa xã hội.
2. Chế độ một đảng; Đảng NDCM Lào lãnh đạo toàn diện; Quốc hội do dân bầu, nhiệm kỳ 5 năm; Chính phủ có 15 Bộ và cơ quan ngang Bộ;
3. Phân chia địa phương, lãnh thổ và địa giới hành chính: cả nước có 16 đơn vị hành chính cấp tỉnh và Thủ đô Viêng-chăn.
+ Từ Đại hội IV (1986) Đảng NDCM Lào đã đề ra đường lối đổi mới, cụ thể hóa và bắt tay thực hiện. Đại hội V (1991) tiếp tục hoàn thiện đường lối đổi mới với chủ trương tiếp tục xây dựng và phát triển chế độ Dân chủ nhân dân, từng bước tiến tới mục tiêu XHCN. Đại hội VI (1996) tổng kết 5 bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn 10 năm lãnh đạo thực hiện đổi mới và đánh giá đó là thành quả lịch sử quan trọng. Đại hội VII (2001) đã triển khai đường lối đổi mới thành chiến lược phát triển đất nước đến năm 2020; đề ra chỉ tiêu phấn đấu khắc phục tình trạng đói nghèo, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng chậm phát triển. Đại hội VIII (3/2006) tiếp tục khẳng định hai nhiệm vụ chiến lược là bảo vệ và xây dựng Tổ quốc và đường lối đổi mới để phát triển đất nước vững chắc hơn, đưa Lào ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo tiền đề vững chắc cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hướng tới CNXH".
IV. Kinh tế -xã hội:
- Lào là nước nằm sâu trong lục địa, không có đường thông ra biển và chủ yếu là đồi núi trong đó 47% diện tích là rừng. Có một số đồng bằng nhỏ ở vùng thung lũng sông Mê-công hoặc các phụ lưu như đồng bằng Viêng-chăn, Chăm-pa-xắc...45 % dân số sống ở vùng núi. Lào có 800.000 ha đất canh tác nông nghiệp với 85% dân số sống bằng nghề nông.
- Lào có nguồn tài nguyên phong phú về lâm, nông nghiệp, khoáng sản và thuỷ điện. Nhìn chung kinh tế Lào tuy phát triển song chưa có cơ sở bảo đảm ổn định.
- Nền kinh tế trong những năm gần đây có nhiều tiến bộ. Các mục tiêu kinh tế-xã hội do các kỳ đại hội và các chương trình kế hoạch 5 năm được triển khai thực hiện có hiệu quả. Lào đang nắm bắt thời cơ, đang tạo nên những bước đột phá và đang có những tiền đề cho một thời kỳ tăng tốc. Tăng trưởng GDP năm 2007 đạt 8%, năm 2008 đạt 7,9%. Thu nhập bình quân đầu người tăng dần, năm 2000 đạt 298USD/người/năm; năm 2006 đạt 546USD/người/năm, năm 2007 đạt 678USD/người/năm, năm 2008 đạt 841USD/người/năm. Đến năm 2020, Lào phấn đấu đạt GDP bình quân đầu người tăng gấp 2-3 lần hiện nay, khoảng 1.200-1.500 USD/năm.
- Kinh tế đối ngoại: đến năm 2007, Lào có quan hệ thương mại với 60 nước, ký Hiệp định thương mại với 19 nước, 39 nước cho Lào hưởng quy chế GSP. Hàng hoá xuất khẩu chủ yếu là khoáng sản và gỗ.
- Đại hội Đảng NDCM Lào lần thứ VIII (3/2006) đề ra mục tiêu đến năm 2020: xây dựng vững chắc hệ thống chính trị dân chủ nhân dân, trong đó Đảng là hạt nhân lãnh đạo, giữ vững ổn định chính trị, an ninh trật tự an toàn xã hội; đưa đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển; kinh tế phát triển dựa trên sự phát triển nông nghiệp vững chắc và lấy phát triển công nghiệp làm cơ sở, tạo tiền đề cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tạo chuyển biến cơ bản về chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực; phát triển nhịp nhàng các thành phần kinh tế, trong đó thành phần kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể được củng cố và phát triển vững mạnh. GDP tăng gấp 3 lần năm 2000; chủ động mở rộng hợp tác quốc tế.
V. Chính sách đối ngoại:
CHDCND Lào chủ trương tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại hòa bình, độc lập, hữu nghị và hợp tác; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ; sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước nhằm bảo đảm lợi ích chung và lợi ích riêng của mỗi bên; nhấn mạnh tiếp tục củng cố, tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện với các nước XHCN, trong đó tiếp tục tăng cường tình đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện với Việt Nam, hợp tác toàn diện với Trung Quốc và các nước anh em khác, thắt chặt quan hệ hợp tác với các nước láng giềng có chung biên giới, tích cực tham gia hoạt động trong ASEAN trên tinh thần giữ vững các nguyên tắc cơ bản của ASEAN.
VI. Quan hệ Việt Nam-Lào:
Quan hệ đặc biệt, gắn bó và tin cậy Việt Nam – Lào tiếp tục được củng cố và có những bước phát triển tốt đẹp, ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu và có hiệu quả, đặc biệt là quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư...
1- Quan hệ chính trị:
Hiện nay, hai nước đang triển khai thực hiện Hiệp định về hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học, kỹ thuật giữa hai nước năm 2009. Hai bên tăng cường cơ chế tiếp xúc trao đổi thường xuyên giữa Lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai Nhà nước để thống nhất và định hướng cho việc thúc đẩy phát triển quan hệ hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện hai nước.
Hai bên đã trao đổi nhiều chuyến thăm cấp cao và các cấp ngành, địa phương; đặc biệt là các chuyến thăm hữu nghị chính thức Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước CHDCND Lào Chum-ma-ly Xay-nha-xỏn 19-22/6/2006; chuyến thăm hữu nghị chính thức Lào của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh 10-13/10/2006 đã mở ra thời kỳ mới cho quan hệ hai nước sau khi cả hai nước kết thúc thắng lợi Đại hội Đảng ở mỗi nước. Tần suất các chuyến thăm lẫn nhau của lãnh đạo cấp cao hai nước từ sau Đại hội Đảng ở mỗi nước năm 2006 đến nay ngày càng cao: tất cả các đồng chí lãnh đạo hai nước đã sang thăm chính thức lẫn nhau. Gần đây nhất, chuyến thăm chính thức của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Chum-ma-ly Xay-nha-xỏn 23-25/4/2009 càng khẳng định sự coi trọng của Lãnh đạo cấp cao Lào trong quan hệ đối ngoại với Việt Nam.
Về biên giới, hai bên đang xúc tiến triển khai Dự án tăng dày và tôn tạo mốc quốc giới trên toàn tuyến. Trên thực địa, hai bên đã phối hợp xây dựng và khánh thành mốc đôi 605 tại cửa khẩu quốc tế Lao Bảo – Đen-xa-vẳn (ngày 05/9/2008) và cột mốc đại số 528 tại cửa khẩu quốc tế Cha Lo – Na-phàu (18/7/2009). Hai bên cũng đã phối hợp với Campuchia hoàn thành cắm mốc tại ngã ba biên giới Việt Nam-Lào-Campuchia (18/01/2008) và đã ký Hiệp ước xác định giao điểm đường biên giới ba nước Việt Nam-Lào-Campuchia (26/8/2008).
Hợp tác về an ninh, quốc phòng là lĩnh vực hợp tác chặt chẽ. Dự án về hợp tác phát triển và ổn định vùng biên giới cũng như quản lý xuất nhập cảnh hai nước tiếp tục được thực hiện.
Hợp tác giữa hai Bộ Ngoại giao Việt Nam và Lào được duy trì chặt chẽ. Tới nay, hai bên đã tiến hành 5 kỳ giao lưu hàng năm với hiệu quả thiết thực.
2- Quan hệ kinh tế: ngày càng khởi sắc và có hiệu quả hơn. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hai nước năm 2008 đạt 423 triệu USD, tăng 35% so với năm 2007. Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam-Lào 9 tháng đầu năm 2009 đạt 310 triệu USD. Hai bên phấn đấu đến năm 2010 đạt 1 tỷ USD, năm 2015 đạt 2 tỷ, năm 2020 đạt 5 tỷ. Tháng 01/2009, hai bên đã ký Bản thoả thuận về ưu đãi thuế suất thuế nhập khẩu Việt-Lào năm 2009; tiếp tục thực hiện miễn giảm thuế từ 0-50% đối với mặt hàng có xuất xứ của hai nước. Hoạt động đầu tư diễn ra sôi nổi, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã quan tâm tới thị trường Lào. Doanh nghịêp Việt Nam tiếp tục được duy trì ở một trong 3 vị trí dẫn đầu về đầu tư tại Lào. Tính đến cuối tháng 9 năm 2009, Chính phủ Lào đã cấp phép 190 dự án với số vốn cấp phép là 2.167 triệu USD. Đầu tư của Việt Nam tại Lào thông qua nhiều loại hình hoạt động, ở nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó đầu tư vào mỏ, năng lượng và nông nghiệp chiếm khoảng 75%.
3- Quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực khác:
- Hợp tác trên các lĩnh vực thủy điện, khai khoáng, giao thông vận tải, trồng và chế biến cây công nghiệp đạt hiệu quả cao. Hợp tác trong giáo dục đào tạo tiếp tục là lĩnh vực hợp tác chiến lược, chiếm 50% viện trợ không hoàn lại của Việt Nam cho Lào. Hợp tác giữa các địa phương cũng được chú trọng thúc đẩy, đặc biệt là khu vực giáp biên và các giữa các thành phố lớn như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hà Tĩnh với Viêng-chăn, Chăm-pa-xắc và Khăm-muộn.
- Bên cạnh quan hệ hợp tác song phương, hai bên đẩy mạnh hợp tác trong khuôn khổ ASEAN, trong các khuôn khổ hợp tác khu vực và quốc tế như hợp tác trong Ủy hội sông Mê Công (MRC), Tiểu vùng sông Mê Công mở rộng (GMS), hợp tác trong khuôn khổ Hành lang kinh tế Đông - Tây (EWEC), Chiến lược hợp tác kinh tế ba dòng sông Ayeyawady-Chao Praya - Mekong (ACMECS), CLMV, Tam giác phát triển ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia.
Tháng 12 năm 2009
|
|
