Trang chủ     Đăng ký nhận tin    Ý kiến bạn đọc   Liên kết website English 
Thứ bẩy, ngày 11 tháng 02 năm 2012 Tìm kiếm
 Tìm kiếm nâng cao

THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ MA-LAI-XI-A VÀ QUAN HỆ VIỆT NAM - MA-LAI-XI-A


  
          
MA-LAI-XI-A (MALAYSIA)

I. Khái quát chung:

Tên nước: Ma-lai-xi-a (Malaysia).
Thủ đô: Ku-a-la Lăm-pơ (Kuala Lumpur).
Thủ đô hành chính: Pu-tra-day-a (Putrajaya)
Vị trí địa lý: Ma-lai-xi-a nằm trong vùng Đông Nam Á có diện tích 329.847 km2.
Khí hậu: Nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình từ 21-320C, độ ẩm cao.
Dân số: Khoảng 25,715,819 người (7/2009). Tỉ lệ tăng trưởng dân số: 1.723% (2009 est.)
Dân tộc: người Mã-lai (50,4%); người Hoa (23,7,0%); người Ấn Độ (7,1%); thổ dân (11%),  các dân tộc khác (7,8%).
Tôn giáo: Đạo Hồi (60,4%); Phật giáo (19,2%); Thiên chúa giáo (9,1%), Hin-đu (6,3%); các tôn giáo khác (5,0%).
Ngôn ngữ: Tiếng Mã-lai (quốc ngữ); tiếng Hoa (nhiều tiếng địa phương khác nhau); tiếng Anh (được sử dụng rộng rãi), tiếng Tamil và một số ngôn ngữ địa phương khác.
Ngày Quốc khánh: 31/8/1957.
Đơn vị tiền tệ: Ring-gít Ma-lai-xi-a (Ringgit - RM), tỷ giá hiện nay 3,4 RM = 1 USD (2009    ); GDP (thực tế) 214,7 tỷ USD (2008); Thu nhập bình quân đầu người: 8141 USD năm 2008 (số liệu của IMF)
Các lãnh đạo chủ chốt hiện nay:
- Quốc vương: Toan-ku Mi-gian Giai-na A-bi-đin I-bơ-ni A-ma-hum Xun-tan Ma-mút A-mu-ka-phi Bi-la Sa (Tuanku Mizan Zainal Abidin ibni Al-Marhum Sultan Mahmud Al-Muktafi Billah Shah), nhậm chức Quốc vương thứ 13 của Ma-lai-xia từ ngày 13/12/2006).
- Thủ tướng: Mohd Na-Gíp Bin Tun Ha-gi Áp-đu Ra-giắc (Dato’Seri Mohd Najib Bin Tun Haji Abdul Rajak), nhậm chức Thủ tướng ngày 03/4/2009.
- Ngoại trưởng: Đa-túc A-ni-pha A-man (Datuk Anifah Aman), được bổ nhiệm ngày 9/4/2008.
- Chủ tịch Thượng viện: Áp-đun Ha-mít Pa-oan-tê (YB Tan Sri. Dato’ Seri Dr. Abdul Hamid Pawanteh) từ 07/7/2003 đến nay.
- Chủ tịch Hạ viện: Tan Xơ-ri Đa-túc Pan-đi-ka A-min bin Ha-gi Mu-lia (YB Tan Sri Datuk Pandikar Amin bin Haji Mulia), từ 28/4/2008 đến nay, nhiệm kỳ 5 năm.

II. Lịch sử:

Từ thế kỷ 16 trở về trước, các tiểu vương quốc trên bán đảo Ma-lai-xi-a thường bị các vương quốc ở nam Thái Lan và In-đô-nê-xi-a đô hộ. Sau này các nước phương Tây như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan, Anh đã tới vùng này chiếm Ma-lắc-ca, Xa-ba, Xin-ga-po... Năm 1896, Anh lập Liên hiệp các quốc gia Mã Lai gồm các tiểu bang Pe-rắc, Xe-lan-go, Nê-gri Xem-bi-lan và Pa-hang. Một số tiểu bang khác (Giô-hô, Ke-đa, Pơ-li, Ke-lan-tan) cũng nhận sự bảo hộ của Anh mặc dù không tham gia Liên hiệp.
Năm 1941, Nhật chiếm bán đảo Mã Lai; năm 1946, Nhật đầu hàng. Anh định lập lại chế độ thuộc địa nhưng gặp phải sự chống đối mạnh mẽ của nhân dân Ma-lai-xi-a. Năm 1948, Anh buộc phải ký với các tiểu vương hiệp ước thành lập Liên bang Mã lai, công nhận chủ quyền của các tiểu vương, trừ Pe-nang và Ma-lắc-ca trước là lãnh thổ của Anh, các bang này có Thống đốc bang.
Hội nghị Luân Đôn 1956 quyết định trao trả độc lập cho Ma-lai-xi-a. Ngày 31/8/1957 Liên bang Mã Lai trở thành quốc gia độc lập.
Ngày 16/9/1963, Bang tự trị Xinh-ga-po gia nhập Liên bang Mã lai. Đến năm 1965, quan hệ giữa Chính phủ Liên bang với Bang tự trị Xinh-ga-po trở nên căng thẳng và ngày 9/8/1965, Bang tự trị Xinh-ga-po tách khỏi Liên bang Mã Lai trở thành nước Cộng hoà Xinh-ga-po.

III. Thể chế chính trị:

1. Thể chế Nhà nước:

Nhà nước Ma-lai-xi-a là nhà nước quân chủ lập hiến, Quốc Vương đứng đầu quốc gia có nhiệm kỳ 5 năm, do Hội đồng Tiểu vương bầu ra và được lựa chọn trong số 9 Tiểu vương của 9 bang (có 4 bang Xa-ba, Xa-ra-oác, Pe-nang và Ma-lắc-ca không có Tiểu vương).

2. Cơ cấu quyền lực của Nhà nước:

Quốc Vương là nguyên thủ quốc gia song chỉ có tính chất tượng trưng, quyền lực thực sự thuộc về Thủ tướng. Thủ tướng là lãnh tụ phe đa số tại Hạ viện, nhiệm kỳ 5 năm.
Quốc hội Ma-lai-xi-a gồm 2 viện: Thượng viện (Dewan Negara) có 70 ghế, trong đó 44 ghế do Quốc Vương bổ nhiệm, 26 ghế do Viện lập pháp bang của 13 bang bầu, nhiệm kỳ 3 năm. Hạ viện (Dewan Rakyat) có 222 ghế, hoàn toàn do bầu cử với nhiệm kỳ 5 năm. Thủ tướng và Phó Thủ tướng phải là hạ nghị sĩ, các bộ trưởng là thượng hoặc hạ nghị sĩ. Quốc hội là cơ quan lập pháp, làm luật của Liên bang; luật được áp dụng cho toàn Liên bang. Một dự luật cần được hai viện thông qua, sau đó phải được đệ trình lên Quốc Vương để xin chấp thuận, rồi trở thành luật.
Trong Quốc hội, Chủ tịch Hạ viện có quyền lớn hơn Chủ tịch Thượng viện.

3. Phân chia địa phương, lãnh thổ và địa giới hành chính:

Lãnh thổ Ma-lai-xi-a được chia thành 13 bang và 3 lãnh thổ Liên bang. Mỗi bang tương đương với cấp tỉnh, dưới bang là cấp quận (huyện), dưới quận (huyện) là cấp xã (thôn). Hiện nay ở Ma-lai-xi-a có 116 quận (huyện).
+ Phía Tây gồm 11 bang và 02 Lãnh thổ Liên bang gọi là bán đảo Ma-lai-xi-a, phía Bắc giáp với Thái Lan, phía Nam giáp Xin-ga-po và eo biển Ma-lắc-ca.
+ Phía Đông, còn gọi là Bô-nê-ô có 2 bang là Xa-ba và Xa-ra-oác và 01 lãnh thổ liên bang giáp với In-đô-nê-xi-a và Bru-nây.
Hai khu vực này cách nhau 650 km qua Biển Đông
+ 3 Lãnh thổ liên bang là 3 khu vực hành chính đặc biệt, bao gồm Thủ đô Ku-a-la Lăm-pơ, La-bu-an và Pu-tra-day-a. Các khu vực này thuộc chỉ đạo trực tiếp của Liên bang.

4. Đảng phái chính trị: Ma-lai-xi-a theo chế độ đa đảng.

a. Các Đảng trong Mặt trận Quốc gia cầm quyền (Barisan National-BN) gồm 14 đảng, trong đó có 3 đảng chính là:
- Tổ chức Dân tộc Mã Lai Thống nhất (UMNO), đại diện cho người Mã, thành lập năm 1946. UMNO lấy ngày 11/5 để kỷ niệm ngày thành lập đảng, là đảng lớn nhất, liên tục cầm quyền từ khi Ma-lai-xia giành độc lập tới nay, hiện có hơn 3 triệu đảng viên. Theo truyền thống, Chủ tịch và Phó Chủ tịch thứ nhất của Đảng giữ chức Thủ tướng và Phó Thủ tướng.
- Hội người Mã gốc Hoa (MCA) là Đảng lớn thứ hai, đại diện cho tầng lớp tư sản người Hoa, lực lượng nắm kinh tế ở Ma-lai-xi-a .
- Hội người Mã gốc Ấn (MIC) là Đảng lớn thứ 3, đại diện cho cộng đồng người Ấn ở Ma-lai-xi-a.
Tại cuộc tổng tuyển cử ngày 9/3/2008, cán cân quyền lực đã thay đổi đáng kể khi Liên minh cầm quyền BN chỉ đạt 141/222 ghế, chiếm 64% trong Quốc hội (so với chiến thắng áp đảo 91% trong bầu cử năm 2004) và mất quyền kiểm soát tại 4 bang truyền thống là Pe-nang, Kê-đa, Pe-rắc, Xe-lang-go. Do đó, hiện BN chỉ còn kiểm soát 8 trong tổng số 13 bang. Tuy nhiên gần đây, BN đã giành lại được bang Pe-rắc do một vài đảng viên đối lập chuyển sang UMNO.

b. Các Đảng đối lập hợp pháp: có hơn 20 đảng, phần lớn là các đảng nhỏ. Tại cuộc tuyển cử ngày 9/3/2008, phe đối lập đã giành thắng lợi lớn, cụ thể:
- Đảng Công lý Quốc gia (Keadilan) do vợ của cựu Phó Thủ tướng An-oa I-bra-him thành lập 4/1999 nhằm đấu tranh đòi tự do cho An-oa. Hiện ông An-oa giữ chức Chủ tịch Đảng kiêm Lãnh tụ đối lập trong quốc hội.
- Đảng Dân chủ Hành động (DAP), phần lớn đảng viên là người Hoa, có quan hệ với Đảng Nhân dân Hành động của Xinh-ga-po. Đây là đảng đối lập lớn thứ hai.
- Đảng Hồi giáo Ma-lai-xi-a (PAS), ly khai khỏi UMNO năm 1951, gồm những người Mã theo Hồi giáo cực đoan. Trước bầu cử tháng 3/2008, PAS từng là đảng đối lập lớn nhất.

IV. Tình hình chính trị - kinh tế:

1. Về chính trị: tình hình Ma-lai-xi-a dần đi vào ổn định sau khi cựu Thủ tướng Badawi bàn giao chức vụ cho ông Najib Razak vào tháng 4/2009. Bên cạnh một số  thành công trong các nỗ lực cải thiện nền kinh tế, mở rộng quan hệ đối ngoại và trấn áp phe đối lập, Chính phủ của Thủ tướng Najib vẫn phải đối mặt với một số vấn đề nội bộ trong Đảng Dân tộc Mã-lai thống nhất (UMNO), đảng nòng cốt trong liên minh Mặt trận Quốc gia cầm quyền (BN) và sự đấu tranh bền bỉ của phe đối lập với nòng cốt là Đảng Công lý Nhân dân (PKR) của cựu Phó Thủ tướng Anwar Ibrahim. Trong thời gian tới, Chính phủ Ma-lai-xi-a sẽ chú trọng xây dựng một xã hội thống nhất, xoá dần sự phân biệt về tôn giáo, tộc người (1 Malaysia concept).

2. Về kinh tế:
Ma-lai-xi-a là nước sản xuất và xuất khẩu dầu cọ và cao su hàng đầu trên thế giới, các ngành kinh tế phát triển mạnh là chế tạo, xây dựng và dịch vụ.
- Sau khi giành được độc lập (31/8/1957), Ma-lai-xi-a là một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu. Những năm 1970, Ma-lai-xi-a thực hiện chính sách hướng Tây nhằm tranh thủ vốn và kỹ thuật. Đến đầu những năm 1980, Ma-lai-xi-a chuyển sang chính sách hướng Đông, chủ yếu tăng cường quan hệ với Nhật và một số nước NIC, nhằm học tập và tranh thủ vốn và kinh nghiệm để hiện đại hoá đất nước. Những năm gần đây, trong khi vẫn tranh thủ vốn, kỹ thuật và đầu tư của các nước phương Tây và các nước NICs, Ma-lai-xi-a đã thực hiện chính sách hướng Nam, tăng cường hợp tác với các nước đang phát triển để mở rộng thị trường.
- Tốc độ tăng trưởng GDP của Ma-lai-xi-a trong giai đoạn từ 1970-1996 liên tục tăng và ở mức cao bình quân 6,7%/năm, cao nhất là năm 1990 là 9,8 %. Trong 2 năm 1997 và 1998, kinh tế Ma-lai-xi-a rơi vào khủng hoảng khá trầm trọng. Năm 1998, GDP là -6,7%, đồng ring-gít mất giá 65%. Tuy nhiên, nhờ có biện pháp khắc phục khủng hoảng đúng đắn trong đó có việc ấn định tỷ giá và kiểm soát vốn, nền kinh tế Ma-lai-xi-a từ đầu năm 1999 đến nay đã phục hồi khá nhanh. Tăng trưởng kinh tế (GDP) trong những năm gần đây khá ổn định, trung bình trên 6%/năm, riêng năm 2008 đạt mức tăng trưởng 5,1% do tác của khủng hoảng kinh tế toàn cầu.
Tình hình kinh tế Ma-lai-xi-a có dấu hiệu phục hồi. Tốc độ tăng trưởng kinh tế quý 3 đạt -1,2% (quý 1 là -6,2%, quý 2 là -3,9%); đến tháng 10/09, dự trữ ngoại tệ đạt 96 tỷ USD; tỷ lệ thất nghiệp đạt 3,6%. Dự kiến tăng trưởng kinh tế năm 2009 là -2 đến -3% và khoảng 3% cho năm 2010. Chính phủ Ma-lai-xi-a đã thành công trong nỗ lực vực dậy nền kinh tế khi nhanh chóng chuyển hướng thị trường xuất khẩu từ các nước truyền thống như EU, Bắc Mỹ sang các thị trường khác như Châu Á, Trung Đông và đưa ra hai gói kích cầu trị giá khoảng 18 tỉ USD.

V. An ninh - quốc phòng:

- Ma-lai-xi-a áp dụng chính sách phòng vệ độc lập kết hợp với hợp tác quân sự với bên ngoài, chú trọng bảo vệ những khu vực có lợi ích chiến lược của họ nhất là đường biển và vùng đặc quyền kinh tế. Ma-lai-xi-a là thành viên của Hiệp định phòng thủ FPDA (Five Power Defence Arrangement) gồm 5 nước Anh, Ô-xtrây-li-a, Niu Di-lân, Xinh-ga-po, Ma-lai-xi-a. Sau khi Mỹ rút quân khỏi Phi-líp-pin, Ma-lai-xi-a đã ký với Mỹ “Hiệp định bảo đảm hậu cần, cung cấp cảng khẩu sửa chữa cho tàu quân sự Mỹ”.
- Lực lượng vũ trang của Ma-lai-xi-a gồm quân chính quy, quân dự bị và lực lượng dân quân tự vệ hợp thành. Quân chính quy hiện có khoảng 130.000 người, chia thành 3 quân chủng là Lục, Hải và Không quân. Bắt đầu từ thập niên 90, Ma-lai-xi-a tích cực mở rộng quân sự, chi phí quốc phòng đạt 1,55 tỷ USD, năm 1995 là 1,7 tỷ USD (đứng thứ 2 về chi phí quốc phòng trong số 6 nước ASEAN lúc đó) và năm 1997 lên tới 2,5 tỷ USD. Tỷ lệ tăng trung bình hàng năm là 26,4%, chiếm khoảng 11,6% ngân sách tài chính quốc gia. Gần đây, Ma-lai-xi-a tiếp tục chương trình hiện đại hoá các lực lượng vũ trang, nâng cao khả năng của quân đội nhằm đảm bảo cho Ma-lai-xi-a theo kịp với các lực lượng quân đội nước khác và có khả năng ngăn cản được sự xâm lược từ bên ngoài.

VI. Đối ngoại:

- Mục tiêu chính sách đối ngoại của Ma-lai-xi-a là nhằm thúc đẩy quan hệ hữu nghị vững chắc với các nước Đông Nam Á, thiết lập môi trường ổn định và hoà bình trong khu vực, đảm bảo và phát huy lợi ích kinh tế quốc tế của Ma-lai-xi-a thông qua việc thắt chặt quan hệ trực tiếp với các nước khác hoặc thông qua các diễn đàn đa phương, tăng cường hợp tác kinh tế với các nước đang phát triển thông qua sự ủng hộ mạnh mẽ và thúc đẩy quan hệ Nam-Nam.
- Trong quá trính triển khai chính sách đối ngoại của mình, Ma-lai-xi-a chú trọng quan hệ với các nước lớn Mỹ, Nhật, Trung Quốc, muốn duy trì sự có mặt của Mỹ ở Đông Nam Á để giữ cân bằng với Trung Quốc, nhưng chống sự áp đặt của Mỹ, công khai bất đồng với Mỹ trong vấn đề khu vực phi hạt nhân, đấu tranh với Mỹ và phương Tây dùng nhân quyền can thiệp vào công việc nội bộ của các nước khác. Ma-lai-xi-a tỏ tích cực ủng hộ chống khủng bố nhưng cũng kiên trì đòi định nghĩa rõ ràng về chủ nghĩa khủng bố và nguyên nhân căn bản của nó, đồng thời phản đối việc lạm dụng chống khủng bố để can thiệp vào công việc nội bộ các quốc gia có chủ quyền.
- Tại các diễn đàn quốc tế, Ma-lai-xi-a ủng hộ việc cải tổ bộ máy Liên hợp quốc, mở rộng Hội đồng Bảo an LHQ. Bên cạnh đó, Ma-lai-xi-a tích cực tham gia các hoạt động ủng hộ các nước Ả-rập, nhất là phong trào giải phóng Pa-le-xtin; tích cực hoạt động đề cao vai trò trong thế giới Hồi giáo. Liên quan đến cuộc tấn công của I-xra-en vào Pe-lét-tin vừa qua, Ma-lai-xi-a tích cực phản đối và vận động các nước ủng hộ Pa-lét-tin.
- Ma-lai-xi-a là thành viên của LHQ, WTO, APEC, ARF, ECOSOC, ASEAN, ASEM, Phong trào Không Liên Kết (NAM), Tổ chức các nước Hồi giáo (OIC), Khối Thịnh vượng chung, G15 (nhóm 15 nước đang phát triển).
VII. Quan hệ Việt Nam - Ma-lai-xi-a:
Ngày 30/3/1973, hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao. Năm 1976, hai nước lập Đại Sứ quán ở thủ đô mỗi nước. Quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa hai nước hiện đang phát triển tốt đẹp trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, thương mại, đầu tư, giáo dục, lao động, an ninh, quốc phòng…. Tình hình hợp tác trên các lĩnh vực cụ thể như sau:
1. Hợp tác chính trị: Quan hệ Việt Nam-Ma-lai-xi-a hiện phát triển tốt. Hai bên tích cực trao đổi đoàn và tiếp xúc cấp cao. Chủ tịch Thượng viện Ma-lai-xi-a thăm Việt Nam (5-7/01/09); Quốc vương Ma-lai-xi-a thăm chính thức Việt Nam từ 12-15/3/2009; Thủ tướng ta gặp Thủ tướng Ma-lai-xi-a bên lề hội nghị cấp cao ASEAN-Hàn Quốc (01/6/09); Ngoại trưởng Ma-lai-xi-a gặp Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao ta bên lề cấp cao ASEM tại Hà Nội (24/5/09) và HNCC ASEAN 15 (23-25/10), Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết gặp Thủ tướng Ma-lai-xi-a bên lề cấp cao APEC (15/11/09), Chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội thăm Ma-lai-xi-a (3-5/11/2009). Dự kiến Thủ tướng Ma-lai-xi-a Najib sẽ thăm Việt Nam trong năm 2010.
Hai nước đã ký “Tuyên bố chung về khuôn khổ hợp tác toàn diện trong thế kỷ 21” nhân chuyến thăm Ma-lai-xi-a của Thủ tướng Phan Văn Khải vào tháng 4/2004.

2. Hợp tác kinh tế:

- Về thương mại: Kim ngạch thương mại giữa hai nước tăng trưởng nhanh chóng. Ma-lai-xi-a hiện là đối tác thương mại lớn thứ 3 trong ASEAN và lớn thứ 9 trên toàn thế giới của Việt Nam. 10 tháng đầu năm 2009, kim ngạch thương mại 2 chiều đạt khoảng 3,4 tỷ USD, trong đó Việt Nam xuất 1,4 tỷ (giảm 13,6%) và nhập gần 2 tỷ USD (giảm 10,0%) tỷ. Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang Ma-lai-xi-a là dầu thô, gạo, cà phê, hải sản, dầu mỡ động thực vật…Việt Nam chủ yếu nhập khẩu sắt thép, xăng dầu, dầu mỡ động thực vật, chất dẻo nguyên liệu, máy móc thiết bị, máy vi tính và sản phẩm điện tử…Hai nước đã tổ chức thành công kỳ họp lần thứ nhất Tiểu ban Thương mại Việt Nam-Ma-lai-xia (12/11/2009).
Ngân hàng Hong Leong của Malaixia là ngân hàng Đông Nam Á 100% vốn nước ngoài đầu tiên hoạt động ở Việt Nam.
- Về đầu tư: Hiện Ma-lai-xi-a đứng thứ ba trong số các quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam với những dự án rất lớn như dự án thép của tập đoàn Lion với số vốn đăng ký đạt 9,8 tỷ USD. Tính đến tháng 10/2009, Ma-lai-xi-a có 337 dự án đầu tư vào Việt Nam với tổng vốn đăng ký khoảng 18,06 tỷ USD (đứng thứ 3 sau Hàn Quốc và Đài Loan). Ta đầu tư vào Ma-lai-xi-a 7 dự án với số vốn 812, 427 triệu USD. Đầu tư của Ma-lai-xi-a ở Việt Nam tập trung vào các lĩnh vực như xây dựng, điện, nước và khí ga, cơ khí và ngân hàng.

3. Hợp tác an ninh-quốc phòng: đang ngày càng phát triển cả trên cơ sở song phương và trong khuôn khổ ASEAN giúp đem lại lợi ích thiết thực cho mỗi bên.
- Về An ninh: Quan hệ giữa Bộ Công an Việt Nam và Bộ Nội vụ Ma-lai-xi-a chính thức được thiết lập tháng 4/1994. Năm 1998, Tổng cục Tình báo Bộ Công an đã lập quan hệ hợp tác với Cơ quan Tình báo Ma-lai-xi-a. Hai bên trao đổi một số đoàn.
- Về Quốc phòng: Từ năm 1998, hai nước đã mở văn phòng Tuỳ viên quốc phòng tại ĐSQ mỗi nước. Hai nước đã ký Bản ghi nhớ về hợp tác quốc phòng song phương năm 2008. Hai nước chú trọng tăng cường các hoạt động nhằm triển khai Ghi nhớ về “Hợp tác Quốc phòng song phương” ký tháng 8/2008 nhân chuyến thăm của Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh; tích cực trao đổi các chuyến thăm lần nhau. Đoàn Tư lệnh Hải quân Ma-lai-xi-a thăm Việt Nam (tháng 2/2009). Uỷ viên Trung ương Đảng, Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nguyễn Khắc Nghiên thăm Ma-lai-xi-a tháng 6/2009. Tàu thuyền hai nước ghé thăm cảng của nhau (02 tàu Ma-lai-xi-a thăm cảng HCM từ 2-5/10/2009; 2 tàu của ta sang thăm và giao lưu tại Ma-lai-xi-a từ 14-17/10/2009).
 

4. Hợp tác giáo dục: Hai nước ký MOU về hợp tác giáo dục trong chuyến thăm chính thức Ma-lai-xi-a của Thủ tướng Phan Văn Khải tháng 4/2004. Hàng năm Ma-lai-xi-a cấp học bổng đại học và cao học cho sinh viên ta; tổng số học bổng tính đến năm 2007 là 74 suất (bao gồm học bổng chính phủ và học bổng do các tập đoàn kinh tế lớn của Ma-lai-xi-a như Petronas cấp). Bên cạnh đó, theo chương trình hợp tác thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các nước ASEAN, Ma-lai-xi-a dành cho Việt Nam khoảng 20-30 học bổng ngắn hạn mỗi năm. Tính đến nay có khoảng hơn 300 lưu học sinh đang học tập và nghiên cứu tại Ma-lai-xi-a (trong đó có khoảng 150 người qua kênh của Bộ Giáo Dục và Đào tạo).

5. Hợp tác lao động: Chính phủ Ma-lai-xi-a chính thức mở cửa thị trường lao động cho ta từ năm 2002 và nhất trí đưa vấn đề lao động thành một lĩnh vực hợp tác mới giữa hai nước. Hai nước đã ký Thoả thuận (MOU) cấp Chính phủ về hợp tác lao động vào 01/12/2003. Đây tiếp tục là lĩnh vực hợp tác tiềm năng của hai nước. Trước tác động khủng hoảng kinh tế tài chính vừa qua, số lao động của ta sang Ma-lai-xi-a cũng bị ảnh hưởng (từ đầu năm 2009 đến nay giảm khoảng hơn 2800 lao động. Gần đây, bạn bắt đầu mở lại thị trường lao động cho ta trong lĩnh vực điện tử.

6. Hợp tác trên biển: Ma-lai-xi-a đang tích cực phối hợp với ta chuẩn bị tốt báo cáo chung về ranh giới ngoài thềm lục địa vượt quá 200 hải lý (hai nước đã hoàn thành báo cáo này ngày 6/5/2009 và trình lên LHQ lần 1 ngày 27/8/09).

7. Về hợp tác trong một số lĩnh vực khác:

- Dầu khí: Petrovietnam đã có quan hệ hợp tác với Công ty dầu khí quốc gia Ma-lai-xi-a (Petronas) trên 15 năm trong tất cả các lĩnh vực của ngành công nghiệp dầu khí từ tìm kiếm thăm dò, khai thác, chế biến đến phân phối sản phẩm. Petronas luôn được đánh giá là một trong các đối tác chiến lược quan trọng của Petrovietnam.
- Về việc triển khai tham gia Hiệp hội sản xuất cao su gồm Ma-lai-xi-a, Thái Lan và In-đô-nê-xia (TRC), phía Ma-lai-xi-a nói sau này khi TRC đã đi vào hoạt động ổn định, sẽ mời Việt Nam và một số nước sản xuất cao su khác tham gia.
- Về lĩnh vực Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn: Ma-lai-xi-a là thị trường nhập khẩu hàng nông sản và thủy sản ổn định của Việt Nam.
- Về lĩnh vực dầu ăn, sản xuất chai lọ thuỷ tinh, may mặc, thuốc lá, hoá chất: hai bên đã thành lập được nhiều công ty liên doanh trong các lĩnh vực này và hiện hoạt động rất hiệu quả.
- Về xuất nhập khẩu than: mỗi năm tập đoàn than, khoáng sản Việt Nam (Vinacomin) xuất được khoảng 135.000 tấn than sang Ma-lai-xi-a
- Về Văn hóa: Hai nước tiến hành trao đổi các đoàn nghệ thuật biểu diễn nhân các dịp lễ của hai nước và trao đổi các đoàn cán bộ nghiên cứu trong lĩnh vực thư viện và di sản văn hóa.
- Về thể dục-thể thao: Việt Nam và Ma-lai-xi-a là các nước thành viên của Liên đoàn Thể thao Đông Nam Á, thường xuyên có quan hệ hợp tác chặt chẽ trên tất cả các lĩnh vực về thể dục thể thao như trao đổi đoàn, thi đấu, tập huấn, trao đổi chuyên viên, huấn luyện viên, vận động viên, tham gia các khóa đào tạo, tham dự hội nghị về thể dục thể thao được tổ chức ở mỗi nước.
- Về du lịch: Kể từ khi hai nước miễn thị thực cho công dân mang hộ chiếu phổ thông, lượng du khách Ma-lai-xi-a đến Việt Nam tăng nhanh (năm 2006 là 105.558 lượt; năm 2007 là 153.507 lượt, năm 2008 là 174.008 lượt, tính đến tháng 11/2009 là 146.206 lượt). Bên cạnh đó, hiện Ma-lai-xi-a có 12 dự án đầu tư vào lĩnh vực du lịch với tổng số vốn đăng ký 257,4 triệu USD.
VIII. Các cơ chế hợp tác:
Ủy ban hỗn hợp: thành lập tháng 9/1995. Đến nay đã họp 4 phiên (Lần 1 vào tháng 9/1995 tại Kuala Lumpur, lần 2 vào tháng 10/1996 tại Hà Nội, lần 3 vào tháng 3/2002 tại Kuala Lumpur, lần 4 vào tháng 3/2006 tại Hà Nội)

IX. Các chuyến thăm cấp cao:

- Về phía ta có : Tổng Bí thư Đỗ Mười (3/1994); Chủ tịch nước Trần Đức Lương (18-20/3/1998); Thủ tướng Võ Văn Kiệt (1/1992, 7/1992 và 5/1994); Thủ tướng Phan Văn Khải dự Hội nghị cấp cao APEC (11/1998) và thăm chính thức (21-23/4/2004); Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh (9/1996); Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An (12/2002). Chủ tịch nước Trần Đức Lương dự Hội nghị cấp cao KLK (24-25/2/03). Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dự Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày Độc lập của Ma-lai-xi-a (30/8 - 01/9/2007); Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh (13-16/8/2008); đồng chí Phạm Quang Nghị, UVBCT, Bí thư thành uỷ Hà Nội (18-20/9/2008); Uỷ viên Trung ương Đảng, Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nguyễn Khắc Nghiên dẫn đầu đoàn đại biểu quân sự cấp cao thăm hữu nghị chính thức Inđônêxia và Ma-lai-xi-a (21-27/6/2009), Chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội thăm Ma-lai-xi-a (3-5/11/2009)

- Về phía Ma-lai-xi-a có: Quốc vương Tuanku Abdul Rahman (12/1995); Thủ tướng Mahathir (4/1992, 3/1996 và Hội nghị Cấp cao ASEAN 6 tại Hà Nội 12/1998); Chủ tịch Thượng viện (11/1991); Tổng thư ký UMNO (7/1995 và dự Đại hội Đảng 8 của ta 7/1996) - là cấp cao nhất của các đảng cầm quyền trong các nước ASEAN dự Đại hội 8 của ta; Quốc vương Tuan ku Xi-ét Xi-ra-giu-din (12-16/12/2002) và Thủ tướng Áp-đu-la Ba-đa-uy (26/01/2004); Ngoại trưởng Xi-ét Ha-mít An-ba (thăm và chủ trì kỳ họp lần thứ 4 của UBHH hai nước từ 8-9/3/2006); Bộ trưởng Công thương Muhyiddin Yassin (27-29/7/08), BTNG Ma-lai-xi-a Rais Yatim (11/08), Chủ tịch Thượng viện (5-7/01/2009), Quốc vương Ma-lai-xi-a (12-15/3/2009).

X. Các Hiệp định, Thoả thuận:

Đến nay 2 nước đã ký 13 Hiệp định hợp tác trên nhiều lĩnh vực gồm: Hiệp định về các chuyến bay giữa và qua lãnh thổ hai nước (15/10/1978); Hiệp định Khuyến khích và Bảo hộ Đầu tư (21/1/1992); Hiệp định Hàng hải (31/3/1992); Hiệp định về Hợp tác Kinh tế, Khoa học và Kỹ thuật (20/4/1992); Hiệp định Hợp tác Bưu điện và Viễn thông (20/4/1992); Hiệp định Thương mại (11/8/1992); Hiệp định Thanh toán Song phương giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Ngân hàng Quốc gia của Ma-lai-xi-a (3/1993); Hiệp định Hợp tác Khoa học, Công nghệ về Môi trường (12/1993); Hiệp định về Hợp tác Du lịch (13/4/1994); Hiệp định Hợp tác Văn hoá (4/1995); Hiệp định tránh đánh thuế song trùng (7/9/1995); Hiệp định Hợp tác Thanh niên và Thể thao (14/6/1996); Hiệp định về Miễn thị thực cho người mang hộ chiếu phổ thông (25/9/2001). Tuyên bố chung về Khuôn khổ Hợp tác toàn diện trong thế kỷ 21 giữa Việt Nam và Ma-lai-xi-a (22/4/2004).
Ngoài ra hai nước còn ký một số Bản Ghi nhớ (MOU): MOU về việc Ma-lai-xi-a viện trợ cho Việt Nam 1,72 triệu RM (700.000 USD) để phát triển ngành cao su (1992); MOU về thăm dò khai thác dầu khí ở những vùng chồng lấn giữa hai nước (6/1992); MOU về hồi hương người tị nạn (24/1/95); MOU về hợp tác thông tin (4/7/95) và MOU lập Uỷ ban Hỗn hợp hai nước (9/1995); MOU về Tuyển dụng lao động Việt Nam (12/2003), MOU về Hợp tác giáo dục (4/2004); MOU về Hợp tác Thông tin và Viễn thông; MOU về hợp tác quốc phòng (8/2008); Bản ghi nhớ giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Ngân hàng Negara Malaysia về việc trao đổi thông tin liên quan đến rửa tiền (7/10/2009).  


Tháng 12 năm 2009
 
Quay lại Đầu trang In trang Gửi mail

Bản quyền của Vụ Thông Tin Báo Chí - Bộ Ngoại Giao
© Copyright by Press and Information Department - Vietnam Ministry of Foreign Affairs
Email: Banbientap@mofa.gov.vn 
Hiển thị tốt nhất với Internet Explorer. Best viewed with Internet Explorer