Trang chủ     Đăng ký nhận tin    Ý kiến bạn đọc   Liên kết website English 
Thứ năm, ngày 31 tháng 07 năm 2014 Tìm kiếm
 Tìm kiếm nâng cao

THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ NIU DI-LÂN VÀ QUAN HỆ VIỆT NAM - NIU DI-LÂN


NIU DI-LÂN
(New Zealand)

Tháng 12 năm  2009

 

I. KHÁI QUÁT CHUNG:

- Diện tích

: 270.534 km2

- Dân số

: 4.213.418 người (số liệu đến tháng 7/2009)

- Thủ đô

: Wellington

- Đồng tiền

: Niu Di-lân đô la (New Zealand dollar)

- Toàn quyền

: Ông Anand Satyanand (A-nan Xa-ti-a-nan)

(từ 23/8/2006)

- Thủ tướng

- Chủ tịch Quốc hội

: Ông John Key (lãnh tụ Đảng Dân tộc)

: Lockwood Smith

- Bộ trưởng Ngoại giao

- Lãnh tụ đối lập

: Murray McCully

: Phill Goff

- Ngày Quốc khánh

: 06/02/1840 (Ngày ký Hiệp định Waitangi)

- Các thành phố lớn

: Auckland, Christchurch

- Ngày lập QHNG với Việt Nam

: 19/6/1975

- Thu nhập bình quân đầu người

: 30.049 USD năm 2008 (số liệu của IMF)

II. ĐỊA LÝ- LỊCH SỬ:

Niu Di-lân nằm ở Tây Nam Thái Bình Dương, gồm 2 đảo chính: Bắc và Nam. Phần lớn đất đai là đồi núi, sông ngòi, hồ chứa nước và đồng bằng thấp. Khí hậu đa dạng, mang tính chất khí hậu biển, ôn đới và bán nhiệt đới, nhưng luôn thay đổi do tác động của vị trí địa lý Nam Bán cầu; có nhiều động đất và núi lửa hoạt động ở mức độ nhẹ. Nhiệt độ trung bình là 120C nhưng khác nhau rõ rệt giữa đảo Bắc và đảo Nam. Tài nguyên khoáng sản chủ yếu gồm: gỗ, khí thiên nhiên, than.

Người Maori thuộc chủng tộc Polynesia ở Thái Bình Dương đã phát hiện ra Niu Di-lân vào khoảng thế kỷ thứ 10. Năm 1769, thuyền trưởng James Cook thuộc Hải quân Hoàng gia Anh đã đến thám hiểm, đổ bộ lên đảo và tuyên bố Niu Di-lân là đất của Nhà vua Anh. Người Anh đến định cư ở đảo này đã bị người bản xứ Maori chống lại. Cuộc đấu tranh của người Maori kéo dài gần một thế kỷ, kết quả là hai bên đã thoả hiệp và ký Hiệp định Waitangi ngày 06/02/1840 theo đó người Maori công nhận việc Hoàng gia Anh bảo hộ Niu Di-lân để đổi lại việc Hoàng gia Anh thừa nhận quyền sở hữu đất đai của người Maori.

III. THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ:

1. Niu Di-lân theo chế độ quân chủ nghị viện. Người đứng đầu Nhà nước là Nữ hoàng Anh Ê-li-da-bét II. Toàn quyền do Nữ hoàng Anh cử theo đề nghị của Thủ tướng Niu Di-lân. Niu Di-lân không có Hiến pháp chính thức bằng văn bản. Người đứng đầu cơ quan hành pháp là Thủ tướng, là thủ lĩnh đảng hoặc liên đảng chiếm đa số trong Nghị viện. Thủ tướng chỉ định các Bộ trưởng trong nội các.

Quyền lập pháp thuộc về nghị viện. Nghị viện Niu Di-lân chỉ có 01 viện là Viện Dân biểu. Nghị viện gồm 122 ghế, thường được bầu 3 năm một lần.

Trong cuộc bầu cử quốc hội khóa 49 vào ngày 8/11/2008, Đảng Dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Ông Giôn Ki đã giành thắng lợi, chấm dứt 9 năm cầm quyền liên tục của Bà Hê-len Clác và Công Đảng (từ 27/11/1999-11/2008). Ngày 19/11/2008, ông Giôn Ki và toàn bộ nội các mới đã tuyên thệ nhậm chức.

Về mặt hành chính, Niu Di-lân được chia làm 74 đơn vị hành chính theo lãnh thổ (territorial authority), gồm 15 hội đồng thành phố, 58 hội đồng quận (district council) tại các vùng nông thôn, và 1 hội đồng địa hạt (county council) dành cho vùng Chatham Islands. Mỗi đơn vị hành chính do một thống đốc (mayor) đứng đầu.

2. Hiện nay, Niu Di-lân có khoảng 20 đảng phái, trong đó có 2 đảng lớn là: (a) Đảng Dân tộc - hiện là đảng chính trong liên minh cầm quyền, thành lập năm 1936 - bảo vệ quyền lợi cho tư bản lớn và điền chủ giàu có, thủ lĩnh hiện nay là ông John Phillip Key (Giôn Phi-líp Ky); (b) Công Đảng - hiện là đảng đối lập, thành lập năm 1916 - đại diện cho các công đoàn, (sau thất bại trong cuộc bầu cử ngày 8/11/08, bà Hê-len Clác đã từ chức lãnh tụ Công đảng. Thủ lĩnh hiện nay là ông Phin Gốp); Ngoài ra còn có một số đảng nhỏ khác như Đảng Tiến bộ, Đảng Niu Di-lân Trên hết (New Zealand First), Đảng Tương lai Đoàn kết, Đảng Xanh, Đảng Dân tộc... Liên minh cầm quyền bao gồm Đảng Dân tộc liên minh với các đảng Tương lai Đoàn kết, Maori và đảng ACT.

IV. KINH TẾ-XÃ HỘI:

Niu Di-lân có cơ sở kinh tế nông-công nghiệp phát triển, trong đó chăn nuôi giữ vai trò quan trọng; cơ cấu kinh tế: nông nghiệp (4,4%), công nghiệp (26%), dịch vụ (69,6%); 3/4 sản phẩm nông nghiệp hàng năm dùng để xuất khẩu. Thu nhập bình quân đầu người khoảng 28,000 USD (2008-PPP). Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm trên 2%. Riêng năm 2008 GDP tăng 0,1% do bị tác động từ khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Quý 2/2009 là (-2,1%).

Nền kinh tế Niu Di-lân chủ yếu dựa vào thương mại, xuất nhập khẩu hàng hoá. Niu Di-lân buôn bán với hầu hết các nước trên thế giới, trong đó các bạn hàng lớn nhất là Ô-xtrây-lia, Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Anh. Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là các sản phẩm sữa, thịt gia súc, gỗ, cá, thiết bị máy móc, rau và hoa quả. Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là phương tiện giao thông, máy móc, nhiên liệu, chất dẻo, thiết bị y tế....

Đầu tư nước ngoài trực tiếp (FDI) vào Niu Di-lân chủ yếu đến từ Ô-xtrây-lia, Nhật Bản, Xinh-ga-po, Anh, Mỹ, tập trung vào các lĩnh vực như sản xuất, xây dựng và du lịch.

Niu Di-lân được Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) xếp hạng cao về khả năng cạnh tranh. Tuy nhiên, kinh tế Niu Di-lân hiện cũng chịu tác động nặng nề từ cuộc khủng hoảng tài chính thế giới, đẩy tỉ lệ thất nghiệp lên 4,6% (cao nhất từ năm 2003) và giá nhà đất giảm xuống mức kỷ lục (10-15%).

V. CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI:

Cho đến những năm 1960, Niu Di-lân phụ thuộc vào Anh, Mỹ và phương Tây về mặt đối ngoại. Từ đầu những năm 1970 đến nay, Niu Di-lân thực hiện chính sách đối ngoại độc lập hơn, nhất là trong quan hệ với Mỹ, tăng cường quan hệ gần gũi với Ô-xtrây-lia và các nước đảo ở Nam Thái Bình Dương.

Định hướng chiến lược 2009-2012 của Chính phủ hiện nay là phát triển các mối quan hệ giúp bảo đảm lợi ích an ninh và kinh tế của Niu Di-lân. Cụ thể: (i) củng cố và duy trì quan hệ với hai đối tác trọng yếu Ô-xtrây-li-a và Mỹ; (ii) Tăng cường quan hệ với Trung Quốc, Ấn Độ và các nước Châu Á-Thái Bình Dương, (iii) Phát triển quan hệ với các nước đảo Nam Thái Bình Dương, (iv) thúc đẩy tự do hóa thương mại thông qua ký kết các thỏa thuận kinh tế, (v) tích cực tham gia vào các thể chế khu vực và đa phương như APEC, ASEM, WTO…và chống phổ biến vũ khí hạt nhân.

Quan hệ Niu Di-lân - Mỹ vẫn được duy trì trên nền tảng những giá trị đã gây dựng từ thời Chính phủ Công Đảng. Ngoại trưởng Niu Di-lân thăm Mỹ (6-8/4/09), cùng Bộ trưởng Thương mại Niu Di-lân đồng chủ trì Diễn đàn Đối tác Niu Di-lân – Mỹ  tại Washington (từ 6-8/10/09). Niu Di-lân tập trung đẩy mạnh đàm phán FTA và tiếp tục đồng thuận với Mỹ trên nhiều vấn đề như Mi-an-ma, Ap-gha-nix-tan, Đông Ti-mo, Ca-dắc-xtan, Bắc Triều Tiên... Gần đây, Niu Di-lân đã thành công trong việc vận động Mỹ tham gia vào Hiệp ước Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP).

Quan hệ truyền thống với Ô-xtrây-li-a tiếp tục được tăng cường, đặc biệt là hợp tác an  ninh, quốc phòng. Từ khi lên cầm quyền, Thủ tướng John Key đã thăm chính thức Ô-xtrây-li-a hai lần (1-3/3/09 và 18-22/8/09). Ô-xtrây-li-a và Niu Di-lân tích cực hợp tác đẩy mạnh vai trò tại khu vực Nam Thái Bình Dương (đồng viện trợ cho các nước Nam Thái Bình Dương phòng chống cúm H1N1, gây sức ép đình chỉ tư cách thành viên Khối thịnh vượng chung của Fiji…)

Quan hệ với Trung Quốc cũng được chú trọng. Thủ tướng John Key thăm chính thức Trung Quốc sau khi nhậm chức (14-18/4/209). Nhân dịp này, hai bên ký hai Hiệp định về hợp tác giáo dục và tăng cường công nghệ kỹ thuật thông tin. Gần đây, Niu Di-lân đón Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường sang thăm để thảo luận các vấn đề kinh tế, thương mại, biến đổi khí hậu và một số vấn đề quốc tế (01-03/11/2009).

Niu Di-lân tiếp tục coi trọng và muốn tăng cường quan hệ chặt chẽ với các nước Châu Á-Thái Bình Dương, đẩy mạnh quan hệ thương mại thông qua ký kết Hiệp định thương mại tự do với ASEAN, Malaysia, Hiệp định Đối tác kinh tế gần gũi với Hồng Công và hiện đang thúc đẩy đàm phán FTA với Ấn Độ. Thủ tướng John Key thăm Nhật Bản (27/10-02/11/2009), đón Tổng thống Hàn quốc (27-28/2), Ngoại trưởng McCully cũng vừa có chuyến thăm Hàn Quốc (26/10/2009).

Niu Di-lân chú trọng đẩy mạnh quan hệ kinh tế với các nước phương Tây.  Niu Di-lân đón Ngoại trưởng Hà Lan thăm (22-23/01/09); Bộ trưởng Thương mại Niu Di-lân thăm Thuỵ sỹ, Đức, Bỉ (28/1-5/2/09);  BTNG Mc Cully sang Châu Âu để dự cuộc gặp Nhóm làm việc cấp BT khối Liên hiệp Anh về vấn đề Fiji (1-5/3); Bộ trưởng Ngoại giao NZ đến Bỉ (16/5/09) theo khuôn khổ tham vấn chính sách đối ngoại diễn ra 6 tháng/lần giữa NZ và châu Âu)

Với ASEAN, Niu Di-lân tiếp tục chú trọng quan hệ cả song phương và đa phương. Bộ trưởng Thương mại Niu Di-lân dự lễ nhậm chức của Tổng thống In-đô-nê-xi-a (18/10/2009), thăm Ma-lai-xi-a và ký Hiệp định Thương mại song phương (25-27/10/09), hỗ trợ Việt Nam, Campuchia, Phi-líp-pin khắc phục hậu quả bão lụt và đẩy mạnh hợp tác quốc phòng với các nước trong khu vực (tiến hành tập trận thường niên với Ô-xtrây-li-a, Ma-lai-xi-a, Xinh-ga-po, Anh vào tháng 8/2009). Ngoài hợp tác song phương, Niu Di-lân cũng tăng cường vai trò tại các cơ chế đa phương: đón Tổng thư ký ASEAN (04/9/2009), tích cực tham gia Cấp cao Đông Á, APEC, vận động xin gia nhập ASEM…

Niu Di-lân chú trọng đề cao vai trò và duy trì ảnh hưởng khu vực Nam Thái Bình Dương. Thủ tướng John Key thăm 4 nước Tonga, Samoa, Niue và đảo Cook (7-10/7/2009) và đón Thủ tướng Tonga sang thăm (13-19/5/2009). Tuy phải chịu tác động mạnh từ cuộc khủng hoảng tài chính thế giới nhưng Chính phủ Niu Di-lân vẫn tăng mức viện trợ ODA cho các nước Nam Thái Bình Dương, đồng thời cũng viện trợ 1,5 triệu NZ$ cho Tonga để khắc phục hậu quả trận sóng thần cuối tháng 9/09. Riêng với Phi-Gi quan hệ vẫn diễn biến xấu kể từ khi Đại sứ Niu Di-lân tại Phi-Gi bị trục xuất (6/2007) và gần đây lại nóng lên khi Phi-Gi xảy ra cuộc đảo chính quân sự (tháng 4/2009). Niu Di-lân đẩy mạnh việc khai trừ Phi-Gi ra khỏi khối Thịnh vượng chung, kết quả là hiện Phi-Gi đã bị đình chỉ tư cách thành viên của tổ chức (01/9/09).

VI. QUAN HỆ VỚI VIỆT NAM:

Ngày 19/6/1975, Việt Nam và Niu Di-lân thiết lập quan hệ ngoại giao. Đại sứ quán Niu Dilân tại Hà Nội và Tổng Lãnh sự quán Niu Dilân tại TP Hồ Chí Minh thành lập từ tháng 11/1995. Ta lập Đại sứ quán tại Niu Dilân tháng 5/2003. Đến nay, quan hệ song phương giữa hai nước phát triển mạnh mẽ và mở rộng trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, thương mại, đầu tư, an ninh quốc phòng, giáo dục đào tạo, du lịch… Tình hình hợp tác trên các lĩnh vực cụ thể như sau:

1. Hợp tác chính trị: tiếp tục được đẩy mạnh và phát triển theo hướng thuận lợi. Hai bên trao đổi nhiều đoàn cấp cao. Các chuyến thăm Niu Dilân của Thủ tướng Phan Văn Khải (tháng 11/2005), Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết (tháng 9/2007) và chuyến thăm Niu Di-lân của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh (9/2009) đã đánh dấu những bước phát triển mới trong quan hệ hai nước. Hai bên đã ký "Tuyên bố về Hợp tác giữa Việt Nam và Niu Di-lân" (ký năm 2005 nhân chuyến thăm của Thủ tướng Phan Văn Khải) nhất trí thiết lập Quan hệ đối tác toàn diện (nhân chuyến thăm của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh 9/09). Hiện hai bên đang xúc tiến xây dựng Chương trình hành động nhằm cụ thể hóa các lĩnh vực hợp tác. Thủ tướng, Toàn quyền và Niu Di-lân dự kiến thăm Việt Nam trong năm 2010. Ngoại trưởng Niu Di-lân sẽ thăm ta tháng 01/2010. Năm 2010 cũng là năm Việt Nam-Niu Di-lân kỷ niệm 35 năm thiết lập quan hệ ngoại giao.

2. Hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư: Hai nước đã ký được một số Hiệp định hợp tác như Hiệp định Hợp tác Kinh tế Thương mại, Hiệp định Khuyến khích và Bảo hộ Đầu tư, Hiệp định Hàng không và nhiều thỏa thuận khác.

+ Về thương mại: Kim ngạch thương mại hai nước tăng đều qua các năm, từ 187,8 triệu USD năm 2001 lên 313, 641 triệu USD năm 2008 (ta xuất 76, 641 triệu USD và nhập 237 triệu USD). Tuy nhiên, do tác động của cuộc khủng hoảng toàn cầu, thương mại song phương năm 2009 có chiều hướng sụt giảm. 10 tháng đầu năm 2009, thương mại hai chiều đạt 234,2 triệu USD, trong đó ta xuất 51,1 triệu USD và nhập siêu 183,1 triệu USD.

Niu Di-lân đã phê chuẩn Hiệp định Thương mại tự do ASEAN-Ô-xtrây-li-a-Niu Di-lân (AANZFTA) và công nhận quy chế kinh tế thị trường cho Việt Nam vào tháng 2/2009. Đặc biệt trong khuôn khổ FTA, Niu Di-lân đồng ý tiếp nhận 300 lao động Việt Nam, trong đó 100 kỹ sư và 100 đầu bếp sang làm việc tại Niu Di-lân trong năm 2010 và dự kiến tiếp nhận 100 lao động còn lại theo chương trình kỳ nghỉ vào năm 2011. Hai nước cũng đang chuẩn bị tiến hành Kỳ họp lần thứ 3 Uỷ ban hỗn hợp kinh tế-thương mại Việt nam – Niu Di-lân (dự kiến tháng 02/2010).

+ Về đầu tư: Tính đến hết tháng 10/2009, Niu Di-lân đã có 18 dự án đầu tư ở Việt Nam với tổng số vốn đăng ký trên 96,1 triệu USD (đứng thứ 37/81 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam), có nhiều dự án có giá trị đang được triển khai (ví dụ dự án xây dựng trường ĐH tại TP.HCM trị giá 25 triệu USD). Các dự án của Niu Di-lân tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp chế biến (9 dự án).  Về địa bàn, đầu tư của Niu Di-lân tại 6 tỉnh, thành phố trên cả nước, tập trung Bình Định và thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về giáo dục: Mỗi năm Bạn cam kết cho ta 20 học bổng sau đại học và 23 học bổng đào tạo tiếng Anh ngắn hạn cho cán bộ. Hiện có khoảng 1.500 sinh viên Việt Nam đang theo học theo đường học bổng Chính phủ 322 hoặc tự túc tại Niu Di-lân. Hai trường Đại học AUT, Victoria đồng ý tiếp nhận chương trình đào tạo cán bộ nguồn của ta theo dự án 165. Trong năm 2009, Niu Di-lân nối lại tài trợ cho giai đoạn 3 Chương trình đào tạo tiếng Anh cho cán bộ Việt Nam với 18 suất học bổng/năm và giành riêng 4 suất học bổng đào tạo tiếng Anh cho cán bộ Ngoại giao ta theo học tại Niu Di-lân để hỗ trợ Việt Nam đảm đương vai trò ASEAN vào năm 2010.

4. Về ODA: Niu Di-lân giành ODA cho ta bắt đầu từ năm 1995 và tăng dần đều qua các năm. ODA của bạn chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực xóa đói giảm nghèo, sinh kế nông thôn, giáo dục đào tạo.... Do khủng hoảng tài chính nên ODA bạn giành cho ta năm 2009/2010 chỉ đạt 7,77 triệu USD, giảm nhẹ so với năm 2008 là 8,34 triệu USD. Tại Hội nghị tư vấn các nhà tài trợ (12/2009, Niu Di-lân cam kết viện trợ 8,1 triệu USD cho năm 2010. Niu Di-lân đã hỗ trợ ta khắc phục hậu quả thiên tai hai lần trong năm thông qua Hội chữ thập đỏ (tháng 9 và tháng 11) với tổng giá trị đạt 370.000 USD.

5. Về an ninh, quốc phòng: Niu Di-lân đã cử Tuỳ viên Quốc phòng kiêm nhiệm Việt Nam thường trú tại Băng-cốc từ tháng 02/2001; Việt Nam chưa cử Tuỳ viên quốc phòng thường trú tại Niu Di-lân.

Niu Di-lân tích cực hỗ trợ ta đào tạo chỉ huy tham mưu cho sỹ quan và cấp học bổng cho các học viên quân sự Việt Nam theo học một số ngành, nhất là về kỹ thuật quân sự. Hai bên đã tổ chức Tham vấn Quốc phòng Thường niên lần thứ 3 tại Việt Nam (02-03/9/2009). Về an ninh, hiện hai bên đang xúc tiến ký kết Thỏa thuận giữa Bộ Công an CHXHCN Việt Nam với Cơ quan cảnh sát Niu Di-lân về hợp tác đấu tranh chống tội phạm xuyên quốc gia.

6.Khoa học-công nghệ: hoạt động hợp tác về KH-CN giữa Việt Nam và Niu Di-lân so với các lĩnh vực khác hiện vẫn còn rất khiêm tốn. Hiện hai bên đang xúc tiến ký kết thoả thuận hoặc bản ghi nhớ về về hợp tác hoa khoa học và công nghệ (dự kiến ký vào tháng 01/2010).

7. Nông nghiệp và phát triển nông thôn: Chính phủ Niu Di-lân rất tích cực hỗ trợ Việt Nam phòng chống cúm gia cầm thông qua việc hỗ trợ kinh phí trong “Chương trình hành động Quốc gia phòng chống cúm gia cầm và cúm ở người, dự án “Hỗ trợ hệ thống giám sát cúm gia cầm tại Việt Nam. Bên cạnh đó Chính phủ Niu Di-lân còn hỗ trợ Bộ Nông nghiệp và PTNT một số dự án nhỏ khác.

8. Hợp tác du lịch: Hiện nay, cơ quan du lịch quốc gia hai nước chưa thiết lập mối quan hệ hợp tác. Niu Di-lân là một trong những thị trường du lịch quan trọng của Việt Nam. Lượng khách Niu Di-lân đến Việt Nam có su hướng tăng. Năm 2007, lượng khách Niu Di-lân đến Việt Nam đạt 20.173 lượt; năm 2008 là 20.809 lượt, tăng 5,6% so với năm 2007. Đến nay, do tình hình khó khăn chung về kinh tế, lượng khách Niu Di-lân vào Việt Nam giảm nhẹ so với năm trước.

9. Về quan hệ giữa Quốc hội hai nước: Quốc hội Việt Nam khóa XI đã thành lập Nhóm Nghị sỹ hữu nghị Việt Nam - Ô-xtrây-li-a và Niu Di-lân (là một trong 34 Nhóm Nghị sỹ Quốc hội thuộc Tổ chức Nghị sỹ Quốc hội Việt Nam với các nước). Tháng 7/2007, Quốc hội Niu Di-lân mới thành lập Nhóm NSQH Niu Di-lân - Việt Nam. Quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa hai nước tại các diễn đàn liên nghị viện khu vực và quốc tế diễn ra tốt đẹp. Chủ tịch Quốc hội Niu Di-lân thăm ta từ 14-17/4/2009 nhằm tăng cường quan hệ giữa hai quốc hội hai nước.

10. Hợp tác trong khuôn khổ đa phương: Niu Di-lân coi trọng vai trò, ảnh hưởng, vị thế của Việt Nam trong ASEAN, tại khu vực và coi ta là đối tác quan trọng của Niu Di-lân, mong muốn ta làm cầu nối để Niu Di-lân hội nhập sâu hơn vào khu vực. Niu Di-lân ủng hộ và hợp tác tốt với ta tại các diễn đàn đa phương như WTO, APEC, LHQ… Niu Di-lân đã sớm ủng hộ ta làm thành viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc 2008 - 2009. Hiện Niu Di-lân tỏ sẵn sàng hỗ trợ ta trong đàm phán về Hiệp định đối tác chiến lược kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) và đang tích cực vận động ta ủng hộ Bạn gia nhập ASEM và ứng cử Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2015-2016.

11. Việt kiều: Hiện nay, cộng đồng người Việt Nam sống ở Niu Di-lân có khoảng 4.700 người Việt định cư và 1.500 sinh viên, nghiên cứu sinh, chủ yếu sinh sống ở Auckland và Wellington.

VII. TRAO ĐỔI ĐOÀN:

Các đoàn cấp cao Việt Nam thăm Niu Di-lân có: Thủ tướng Võ Văn Kiệt (5/1993), Tổng Bí thư Đỗ Mười (7/1995), Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm (7/1996 và 02/1997), Thủ tướng Phan Văn Khải dự Hội nghị cấp cao APEC (9/1999) và thăm chính thức (5/2005), Phó Chủ tịch Quốc hội Trương Mỹ Hoa (10/2001), Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao Nguyễn Đình Bin thăm chính thức và khai trương Đại sứ quán Việt Nam tại Niu Di-lân (5/2003), Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên (02/2004) và Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An (7/2004), Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa (10/2006). Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết (9-12/ 9/2007), Phó Chủ tịch Quốc hội Tòng Thị Phóng (20 - 24/01/2008), Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân (27-29/02/2008); Thứ trưởng thường trực Phạm Bình Minh (15-17/4/2009); Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh (10-12/9/2009). Nhân chuyến thăm của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, hai bên  đã nhất trí thiết lập Quan hệ đối tác toàn diện.

Phía Niu Di-lân thăm Việt Nam có: Thủ tướng James Bolger (11/1995), Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Mc Kinnon (7/1994 và 7/1999), Lãnh tụ Đối lập Helen Clark (6/1998), Thủ tướng Helen Clark (10/2003), Chủ tịch Quốc hội Jonathan Hunt (4/2000), Bộ trưởng Ngoại giao và Thương mại Phil Goff (7/2001 và 7/2004), Bộ trưởng Đàm phán Thương mại Jim Sutton (3/2003), Bộ trưởng Giáo dục Trevor Mallad (5/2003), Nghị sỹ Quốc hội Martin Gallagher (7/2003), Toàn quyền Niu Di-lân (24-30/11/2005), Thủ tướng Helen Clark sang dự Cấp cao APEC 14 (tháng 11/2006), Thứ trưởng Bộ Giáo dục (6/2007), Bộ trưởng Cựu chiến binh Rick Carter (24-28/02/2008), Bộ trưởng Giáo dục Chris Carter (31/3 - 02/4/2008), Tư lệnh Quân đội, Trung tướng Jeremiah Mataparae (7-9/8/08), Chủ tịch Quốc hội Niu Di-lân (14-17/4/2009), Thứ trưởng thường trực Quốc phòng Niu Di-lân (13-17/5/2009) và Thứ trưởng Ngoại giao Tony Brown (tháng 10/2009).

VIII. CÁC CƠ CHẾ HỢP TÁC:

- Ủy ban hỗn hợp về Hợp tác Kinh tế và Thương mại: thành lập năm 2005, do Thứ trưởng Công thương chủ trì theo cơ chế hai năm/lần/luân phiên mỗi nước; kỳ 1 vào tháng 10/2005 tại Niu Di-lân; kỳ 2 vào tháng 10/2007 tại Hà Nội, kỳ 3 dự kiến vào tháng 2 (2010) tại Niu Di-lân.

- Tư vấn hàng năm về Hợp tác phát triển Việt Nam - Niu Di-lân: thường niên từ năm 1997. Đến nay đã họp được 7 phiên.

- Tham khảo chính trị cấp Thứ trưởng Ngoại giao: thành lập tháng 10/1996, theo cơ chế luân phiên 2 năm /lần. Đến nay đã họp được 7 phiên.

Tại Hà Nội: Lần 1, 3, 5, 6 lần lượt vào các năm 1996, 2000, 2004 và 2007

Tại Niu Di-lân: Lần 2, 4, 7 lần lượt vào các năm 1998, 2002, 2009.

- Tham vấn Quốc phòng: thường niên cấp Cục trưởng; thành lập vào tháng 9/2007. Đến nay họp được 3 phiên.

 
Quay lại Đầu trang In trang Gửi mail

Bản quyền của Vụ Thông Tin Báo Chí - Bộ Ngoại Giao
© Copyright by Press and Information Department - Vietnam Ministry of Foreign Affairs
Email: Banbientap@mofa.gov.vn 
Hiển thị tốt nhất với Internet Explorer. Best viewed with Internet Explorer