THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ NƯỚC CỘNG HOÀ HỒI GIÁO PA-KI-XTAN VÀ QUAN HỆ VIỆT NAM - PA-KI-XTAN
Tên chính thức: Nước Cộng hoà Hồi giáo Pa-ki-xtan
(The Islamic Republic of Pakistan)
Địa lý:
- Vị trí địa lý: phía Đông giáp Ấn Độ, phía Nam giáp Biển A- rập, phía Tây Nam giáp I-ran, phía Tây và phía Bắc giáp Ap-ga-ni-xtan, phía Đông Bắc là khu vực tranh chấp Ca-sơ-mia(Kashmir) có biên giới giáp Trung Quốc.
- Diện tích: 803.944 km2.
- Thủ đô: I-xla-ma-bát (Islamabad).
- Dân số: gần 165,9 triệu người (2008), trong đó từ 0 đến 14 tuổi chiếm 36,3% (Nam giới 31.316.803, nữ giới 29.567.622); từ 15 đến 64 tuổi chiếm 59,4% (nam: 51.000.863; nữ: 48.648.480); Từ 65 tuổi trở lên chiếm 4.3% (nam giới 3.409.246; nữ giới 3.819026) (ước tính đến 2008)
- Tỷ lệ tăng dân số (năm): khoảng 1,8% (ước tính đến 2008)
- Các thành phố lớn:
+ Islabamad (Thủ đô – 800 nghìn người);
+ Quetta (Thủ phủ Balochistan - trên 3 triệu người);
+ Peshawar (Thủ phủ Tỉnh biên giới Tây Bắc);
+ Lahor (thủ phủ Punjab - trên 5 triệu người) và
+ Karachi (thủ phủ Sind - trên 9 triệu người).
Ngoài ra còn có một số thành phố lớn khác như Faisalabad (trên 2 triệu người), Hyderabad (1,5 triệu người), Rawalpindi (1,4 triệu người) v.v..
- Khí hậu: Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa. Mùa Đông từ tháng 12 - 2; mùa Xuân từ tháng 3-4; mùa Hè từ tháng 5-9 và mùa Thu từ tháng 10-11. Trong mùa hè nhiệt độ khu vực miền Trung và miền Nam có thể lên tới 45 độ C. Khu vực miền Bắc ôn hoà. Giữa tháng 7-tháng 8, là mùa mưa, lượng mưa có thể từ 38 đến 51mm tại khu đồng bằng, 152 – 203 mm tại các thung lũng miền núi phía Bắc.
- Dân tộc: Pa-ki-xtan là quốc gia đa dân tộc, chủng tộc. Có trên 50 chủng tộc, trong đó 5 chủng tộc lớn là người Punjab, Sindhi, Pashtun (còn gọi là Pathan) và Muhajirs (những người di cư từ Ấn Độ sang trong thời gian phân tách và trước đó) và Baloch.
- Tôn giáo: Đạo Hồi là quốc đạo. Trên 97% dân số theo đạo Hồi trong đó dòng Suni chiếm 77%, dòng Shi’a chiếm 20%. Đạo Hindu 1,5% ; Thiên chúa 1% và một số đạo giáo khác.
- Ngôn ngữ: Ngôn ngữ chính: U-du (nhưng chỉ chiếm 8%). Tiếng Anh là ngôn ngữ hành chính, được sử dụng rộng rãi. Các ngôn ngữ của các chủng tộc lớn khác như Punjabi 48%, Sindhi 12%, Balochi 3%, Pashtu 8%, Brahui 1%, Hindko 2%, Burahui và các ngôn ngữ khác 1%.
- Thu nhập bình quân đầu người: 1044 USD năm 2008 (số liệu của IMF)
- Chính quyền: Chính thể Cộng hoà theo thể chế Liên bang.
+ Ngày quốc khánh: 23/3/1956 (Ngày Pa-ki-xtan)
+ Ngày độc lập: 14/8/1947 (tách khỏi Ấn Độ thuộc Anh)
- Hiến pháp: Hiến pháp đầu tiên được thông qua ngày 12/4/1973, bị tạm ngưng 5/7/1977 và phục hồi có sửa đổi ngày 30/12/1985, tạm ngưng 15/10/1999 và phục hồi 31/12/2002. Hiện nay Hiến pháp đã được sửa đổi theo Sắc Lệnh Khuôn khổ Luật (Legal Framme Order) do Tổng thống Musharraf ban hành và có hiệu lực 31/12/2003.
- Hệ thống luật pháp: dựa trên Luật của Anh, có sửa chỉnh phù hợp với nhà nước Hồi giáo, chấp nhận tài phán của Luật Hồi giáo, có xem xét.
- Hành pháp: Tổng thống là Nguyên thủ quốc gia, Thủ tướng và nội các chính phủ. Tại các bang có chính phủ bang (gồm Viện lập pháp bang, chính quyền bang). Đứng đầu là Thủ hiến Bang.
- Lập pháp: Quốc hội lưỡng viện (Majlis-e-Shoora) gồm Thượng viện 100 ghế (Senate) và Quốc hội 342 ghế (National Assembly).
+ Thượng nghị sĩ do các viện lập pháp bang bầu lên, nhiệm kỳ 6 năm, trong đó 1/3 được bầu 2 năm một lần.
+ Nghị sĩ quốc hội bầu qua phổ thông đầu phiếu, nhiệm kỳ 5 năm. Cuộc bầu cử gần đây nhất vào 2/2008, kết quả số ghế tại Quốc hội liên bang đạt được như sau: Trong 268 ghế tranh cử, Đảng PPP được 89 ghế, PML-N: 67, PML-Q: 38, MQM: 19, ANP: 10, MMA: 5, PML-F: 4, BNP(A): 1, PPP-S: 2, NPP: 2, và ứng cử viên độc lập: 28. Như vậy, các đảng đối lập đã thắng lớn, trong đó PPP đứng đầu với 33,6% tổng số ghế được bầu và PML-N về nhì với 25,9%, trong khi đảng cầm quyền PML-Q thân Tổng thống Musharaf về thứ 3, chỉ giành được khoảng 15%. Ngày 17/3, Quốc hội Pa-ki-xtan mới nhóm họp phiên đầu tiên. Quốc hội Pa-ki-xtan đã bầu Bà Fehmida Mirza, ứng cử viên của liên minh do PPP lãnh đạo, làm Chủ tịch Quốc hội nữ đầu tiên của Pa-ki-xtan với 249 phiếu thuận.
- Tư pháp: Toà án Tối cao Hồi giáo Liên bang, còn được gọi là Shari'a Court. (Chánh án do Tổng thống bổ nhiệm); Tại các bang có Toà thượng thẩm.
- Các lãnh đạo hiện nay:
+ Tổng thống: Ông A-xíp A-li Gia-đa-ri (Asif Ali Zardari), từ tháng 9/2008. .
+ Thủ tướng: Ông Xa-it I-u-xap Ra-da Gi-la-ni (Syed Yousaf Raza Gillani - nhậm chức ngày 25/3/2008 ). Thủ tướng sẽ bổ nhiệm Nội các của mình.
+ Chủ tịch Quốc hội hiện nay: Bà Phê-mi-đa Mia-da (Fehmida Mirza- đảng PPP –3/2008).
+ Ngoại trưởng: Ông Mác-đum Sa Ma-mút Qui-re-xi (Makhdoom Shah Mahmood Qureshi- đảng PPP-4/2008).
II. Lịch sử:
Trước ngày độc lập, Pa-ki-xtan là một bộ phận trong tiểu lục địa Ấn Độ thuộc đế quốc Anh. Sau Đại chiến thế giới II, phong trào đấu tranh đòi độc lập dân tộc trên thế giới và ở tiểu lục địa Ấn Độ lan rộng và phát triển. Đế quốc Anh buộc phải trao trả độc lập cho khu vực tiểu lục địa. Thực hiện âm mưu chia để trị, thực dân Anh đã lợi dụng mâu thuẫn tôn giáo (Hồi giáo và Ấn Độ giáo), và sử dụng Liên minh Hồi giáo chia cắt tiểu lục địa thành hai quốc gia : Ấn Độ và Pa-ki-xtan (gồm những khu vực người theo đạo Hồi ở hai phần Tây Pa-ki-xtan và Đông Pa-ki-xtan cách xa nhau hơn 1600 km). Chính quyền và của cải của Pa-ki-xtan hầu như nằm trong tay một số rất ít gia đình tư sản lớn ở miền Tây Pa-ki-xtan. Cuộc sống của nhân dân và nhất là nhân dân miền Đông Pa-ki-xtan ngày càng cực khổ. Phong trào đòi tự trị ở Miền Đông Pa-ki-xtan lên cao trong những năm cuối 1969, đầu 1970. Sau cuộc Tổng tuyển cử tự do tháng 12 năm 1970, Liên đoàn Awami của Sheikh Mujibur Rahman (Sếch Mu-di-bu Ra-man ) thắng cử áp đảo ở Miền Đông Pa-ki-xtan, nhưng Tổng thống Yahya Khan (Ia-Ia Khan) đã bác bỏ kết quả cuộc tuyển cử này. Phong trào đòi tự trị cho Miền Đông lại càng lên mạnh. Chính quyền Tây Pa-ki-xtan đưa quân sang Đông Pa-ki-xtan đàn áp. Ngày 26/3/1971, Sheikh M.Rahman tuyên bố thành lập nước Cộng hoà nhân dân Băng-la-đét và đề nghị Chính phủ Ấn Độ đưa quân vào giúp giải phóng Băng-la-đét. Tháng 12 năm 1971, quân đội Pa-ki-xtan đầu hàng. Từ đó lãnh thổ Pa-ki-xtan chỉ còn ở miền Tây.
III. Thể chế chính trị:
1. Thể chế nhà nước:
+ Từ khi tách khỏi Ấn Độ đến tháng 3/1956: Pa-ki-xtan tồn tại như một lãnh thổ tự trị. Ngày 23/3/1956: Pa-ki-xtan tuyên bố thành lập nước Cộng hoà Hồi giáo. Từ 3/1956 đến tháng 6/1971: là chế độ cộng hoà đại nghị, nhưng chính quyền nằm trong tay phái quân sự.
+ Từ 5/7/1971-1977: Sau khi mất Đông Pa-ki-xtan, chính quyền quân sự sụp đổ. Sau cuộc Tổng tuyển cử tháng 12/1970, đảng Nhân dân Pa-ki-xtan (PPP: Pakistani People's Party) thắng cử và chính quyền dân sự đầu tiên do Z.Ali Bhutto (Dun-phi-ca A-li Bút-tô) làm Thủ tướng lên nắm quyền đến tháng 7/1977.
+ Từ 7/1977- 1988: Tướng Zia Ul Haq (Dia Un Hác) cho hành quyết Z. Ali Bhutto, giải tán Chính phủ, Quốc hội và thiết lập chế độ quân sự độc tài và nắm quyền cho đến 8/1988 (chết trong vụ tai nạn máy bay).
+ Từ 1988 - 10/1999: Pa-ki-xtan trở lại chế độ cộng hoà đại nghị và chính quyền dân sự do các đảng phái thay nhau nắm quyền .
+ Từ 12/10/1999: Tướng Mu-sa-ráp đã lật đổ chính quyền của Thủ tướng Na-oa Sa-ríp (Nawar Sharif), tuyên bố chế độ thiết quân luật, huỷ bỏ quốc hội, và thành lập chính quyền mới tại Pa-ki-xtan. Ngày 20/6/2001, Tướng Mu-sa-ráp tự phong làm Tổng thống thay ông Ra-phích Ta-ra và kiêm nhiệm Người đứng đầu Cơ quan Hành pháp. Ngày 10/10/2002, Pa-ki-xtan tổ chức tuyển cử, bầu Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng, nội các mới và các Viện lập pháp bang. Tướng Mu-sa-ráp tiếp tục là Tổng thống nhiệm kỳ 2002-2007.
+ Từ 2002 đến 2007: Sau cuộc tổng tuyển cử ngày 10/10/2002, đảng PML-Q (phân nhánh của PML-thân Musharraf-78 ghế), đảng PPP (đảng của Benazir Bhutto- 63 ghế) liên kết thành lập chính phủ Trung ương. Đảng MMA (Mutahidda Majlis-e-Amal-liên minh 6 đảng Hồi giáo-45 ghế) trở thành đối lập chính.
+ Từ sau bầu cử 2/2008: Sau cuộc tổng tuyển cử ngày 18/2/2008, đảng PPP (đảng của cố Thủ tướng Benazir Bhutto) và đảng PML-N (đảng của cựu Thủ tướng Nawaz Sharif) liên kết thành lập chính phủ Trung ương. Đảng PML-Q trở thành đảng đối lập.
Pa-ki-xtan là nhà nước theo thể chế liên bang gồm 4 bang là Punjap, Sind, Baluchistan và bang biên giới Tây Bắc và một số lãnh thổ trực thuộc Chính phủ trung ương như Azad Kashmir (A-dát Ka-sơ-mia), Vùng bộ lạc và Thủ đô.
Tại Trung ương:
- Quốc hội là cơ quan lập pháp cao nhất gồm 2 viện: Thượng nghị viện và Hạ nghị viện. Hạ nghị viện được bầu trên cơ sở phổ thông đầu phiếu với nhiệm kỳ 5 năm. Thượng nghị viện có đại diện bình đẳng giữa các tỉnh. Quốc hội bầu nguyên thủ quốc gia là Tổng thống với nhiệm kỳ 5 năm.
- Chính phủ là cơ quan hành pháp cao nhất. Chính phủ gồm Thủ tướng, các Bộ trưởng Liên bang và các quốc vụ khanh.
- Cơ quan tư pháp cao nhất là toà án tối cao. Chánh án toà án tối cao do Tổng thống bổ nhiệm.
Tại địa phương:
- Về mặt hành chính: Pa-ki-xtan chia làm 4 bang là Punjap, Sind, Baluchistan và bang biên giới Tây Bắc và một số lãnh thổ trực thuộc Chính phủ trung ương như Azad Kashmir (A-dát Ca-sơ-mia), một số vùng bộ lạc và thủ đô.
- Tại các bang có chính phủ bang (Viện lập pháp bang, chính quyền bang và toà thượng thẩm). Đứng đầu là Thủ hiến Bang.
2- Các đảng chính trị: Nền chính trị Pa-ki-xtan dựa trên cơ sở đa đảng.
Tại Pa-ki-xtan có hàng trăm đảng phái chính trị, trong đó có các đảng lớn như Đảng Nhân dân Pa-ki-xtan (PPP), Liên đoàn Hồi giáo Pa-ki-xtan (PML: Pakistani Muslim League), Đảng Dân tộc quốc gia (NAP: National Awami Party). Ngoài ra ở Pa-ki-xtan còn có các đảng nhỏ, các liên minh Hồi giáo, nhóm tôn giáo khác nhau. Các đảng và các nhóm này luôn luôn phân tách, liên kết để thành lập chính phủ trung ương và Viện lập pháp bang.
- Đảng Nhân dân Pa-ki-xtan (PPP):
PPP được thành lập tháng 12/ 1967, là đại diện của giai cấp địa chủ phong kiến và tư sản cấp tiến. PPP có cơ sở rộng trong toàn quốc, được sự ủng hộ của giới thanh niên, sinh viên. Đảng có cơ sở mạnh ở nông thôn nhất là ở tỉnh Sind. Đảng này đã trải qua các thời kỳ cầm quyền: 1971 - 1977 (Z.A. Bhutto làm Thủ tướng), 1988 - 1990 và 1993-1996 (Benazir Bhutto làm Thủ tướng). Trong cuộc bầu cử Quốc hội tháng 2/1997, Đảng PPP thất bại nặng và trở thành đảng đối lập trong Quốc hội. Lãnh đạo đảng PPP bị buộc nhiều tội danh và nhiều phân liệt. Ngày 27/12/2007, Chủ tịch Đảng Benazir Bhutto đã bị ám sát. Sau đó, con trai bà Bhutto là Bilawa Zardari và ông Asif Ali Zardari được bầu làm đồng chủ tịch đảng PPP.
Trong cuộc bầu cử tháng 2/2008, đảng PPP giành được 89 ghế, trở thành đảng lớn nhất tại Quốc hội. Tháng 9/2008, Quốc hội Pakistan đã bầu ông Asif Ali Zardari làm Tổng thống Pakistan.
- Liên đoàn Hồi giáo Pa-ki-xtan (PML):
Tiền thân của Đảng này là Liên đoàn Hồi giáo (ML: Muslim League) được thành lập từ năm 1906. Đây là tổ chức chính trị tập hợp các lực lượng đại diện cho lợi ích của các tầng lớp địa chủ và tư sản lớn, có cơ sở và ảnh hưởng trên phạm vi toàn quốc. Đảng trải qua nhiều lần phân liệt, lực lượng ủng hộ PML không ổn định. Tháng 10/1990, các lực lượng đối lập thành lập Mặt trận dân chủ Hồi giáo (IJI) do PML làm nòng cốt, giành thắng lợi trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ và N.Sharif (lãnh tụ của PML - một người rất giàu có ở Pa-ki-xtan) trở thành Thủ tướng. Do đấu tranh quyền lực, nội bộ IJI phân hoá (6/1993), Thủ tướng Sharif bị Tổng thống cách chức, Liên đoàn Hồi giáo mất quyền lãnh đạo và phải ngồi ở vị trí đối lập. Trong bầu cử Quốc hội tháng 2/1997, PML giành thắng lợi lớn, chiếm 184/217 ghế Quốc hội và trở lại cầm quyền do ông N. Sa-ríp làm Thủ tướng cho đến khi bị lật đổ vào tháng 10/1999. Sau đó, Đảng PML bị phân liệt và một bộ phận đảng trở thành PML-Q (thân Musharraf), bộ phận còn lại là đảng PML-N (thân N. Sharif). Trong cuộc bầu cử tháng 2/2008, đảng PML-N đứng thứ 2 về số phiếu, đã liên hiệp với đảng PPP để thành lập chính phủ mới.
- Đảng đối lập:
Trong cuộc bầu cử tháng 2/2008, Đảng cầm quyền PML-Q đứng thứ 3 với 38 ghế, trở thành đảng đối lập.
IV. Kinh tế-Xã hội-Quốc phòng:
Nông nghiệp được phục hồi và hệ thống thủy lợi được cải thiện, chiếm 19,6% GDP (2007), tăng trưởng 5% so với năm 2006.. Các sản phẩm chính là lúa gạo, lúa mỳ, bông và mía đường, thuốc lá… Nghề cá và chăn nuôi khá phát triển. Pa-ki-xtan có đàn trâu bò, gia súc, gia cầm lớn, có giống bò Sind nổi tiếng thế giới.
2. Công nghiệp:
Nhìn chung ngành công nghiệp Pa-ki-xtan chưa phát triển, chỉ chiếm khoảng 26,8% GDP và đạt tốc độ tăng trưởng 6,5% (2007). Ngành khai khoáng và dầu khí của Pa-ki-xtan có sự phát triển nhất định. Trong năm tài chính 2006-2007, Pa-ki-xtan sản xuất hơn 24,6 triệu thùng dầu thô (67.438 thùng/ngày) và khai thác hơn 40,2 tỷ m3 khí đốt (3,9 tỷ feet khối/ngày). Các ngành công nghiệp chế biến nông phẩm, thuỷ, hải sản và sản xuất hàng tiêu dùng phát triển tương đối khá. Các ngành mũi nhọn là dệt, sản xuất đường.
3- Kinh tế-Tài chính:
Sau sự kiện 11/9 và việc Pa-ki-xtan từ bỏ sự ủng hộ chính quyền Taliban, ủng hộ Mỹ và các nước đồng minh trong cuộc chiến ở Ap-ga-ni-xtan, Pa-ki-xtan đã giành được nhiều lợi thế về chính trị, ngoại giao và kinh tế. Mỹ, Nhật Bản và các nước phương Tây đã bỏ cấm vận đối với Pa-ki-xtan (áp dụng 10/1999 và trước đó), nối lại viện trợ kinh tế, xoá một phần nợ đọng. Từ năm 2000, kinh tế bắt đầu có tăng trưởng từ mức tăng trưởng âm năm 1999.
Trong năm 2007, mặc dù có nhiều nhân tố bất lợi như tình hình nội trị bất ổn và giá dầu thế giới tăng cao nhưng tình hình kinh tế Pakistan vẫn tiếp tục phát triển tốt (đạt tốc độ tăng trưởng 7% năm 2007). Các ngành dịch vụ tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao (8%), đưa tỷ trọng dịch vụ lên 53,3% của GDP. GDP năm 2007 đạt 106,3 tỷ USD, tăng 6,3 %; trong đó, dự trữ ngọai tệ tiếp tục tăng và đạt khoảng 16 tỷ USD vào tháng 12/2007. Năm 2007, kim ngạch thương mại đạt 47,5 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 17 tỷ USD và nhập khẩu đạt 30,5 tỷ USD. Vốn đầu tư nước ngoài năm 2007 tăng 45,6% đạt 5,1 tỷ USD.
Trong năm tài khóa 2008, kinh tế Pakistan phát triển chậm lại do tình hình chính trị, an ninh không ổn định và tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới. Tốc độ tăng trưởng GDP chỉ đạt 5,8%. Tỷ lệ lạm phát ở mức 12%. Về kim ngạch thương mại, xuất khẩu tăng 16,5 % và nhập khẩu tăng 31,2% so với năm trước. Vốn đầu tư nước ngoài vào Pakistan tăng không đáng kể và vẫn đạt khoảng 5,1 tỷ USD.
Năm 2009, theo báo cáo của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), thâm hụt tài chính giảm xuống 5,6% so với 7,8% năm 2008; lạm phát vẫn ở mức cao 21% và tỉ lệ tăng trưởng GDP đạt 2% (thấp hơn so với dự báo của ADB vào tháng 4/2009 là 2,8%). Dự kiến, tăng trưởng kinh tế của Pakistan năm 2010 sẽ vào khoảng 3% (nhờ vào Chương trình chi tiêu công rộng rãi hơn và chính sách tài khóa nới lỏng), lạm phát khoảng 10% và thâm hụt vãng lai vào khoảng 4,8%. Tuy nhiên, nền kinh tế Pakistan vẫn gặp nhiều khó khăn do thiếu năng lượng, hàng xuất khẩu thiếu tính cạnh tranh, tình hình kinh tế thế giới vẫn khó khăn...
4- Quốc phòng:
Kể từ ngày tuyên bố là một quốc gia độc lập từ 1956 đến nay, lực lượng quân đội ở Pa-ki-xtan luôn đóng vai trò chủ đạo chính trong lịch sử tồn tại 59 năm của quốc gia này. Sau đảo chính quân sự 12/10/1999, tướng Pơ-vét Mu-sa-ráp vừa giữ chức Tổng tư lệnh quân đội, vừa giữ chức Tổng thống. Ngày 28/11/2007, ông Mu-sa-ráp đã từ chức Tổng tư lệnh quân đội. Hiện nay, tướng Ashafaq Pervez Kiyani giữ chức Tổng tư lệnh quân đội Pa-ki-xtan.
Tiềm năng quân sự của Pa-ki-xtan đủ mạnh với những trang thiết bị và vũ khí hiện đại như tên lửa đạn đạo, vũ khí hạt nhân, máy bay... Cho tới nay, Chính phủ Pa-ki-xtan liên tục đẩy mạnh quá trình hiện đại hoá quân sự của mình, chi phí cho quốc phòng ước tính chiếm 3% GDP, khoảng 4,3 tỷ USD (ước tính năm 2007).
V. Quan hệ đối ngoại:
Chính sách đối ngoại cơ bản của Pa-ki-xtan là mở rộng quan hệ “Hữu nghị và thiện chí với tất cả các dân tộc trên thế giới”, dựa trên cơ sở công bằng, đóng góp vào việc tăng cường hòa bình, thịnh vượng trên thế giới.
Pa-ki-xtan có chính sách đối ngoại theo hướng cân bằng trong quan hệ với các nước lớn, đẩy mạnh chính sách "hướng Đông" và quan hệ với Đông Á, Đông Nam Á, ASEAN. Ngoài ra, Pa-ki-xtan cũng tăng cường quan hệ với các nước Hồi giáo Trung Á. Quan hệ của Pa-ki-xtan với I-ran và Thổ Nhĩ Kỳ và các nước Hồi giáo khác khá mật thiết trong tổ chức Hồi giáo OIC. Pa-ki-xtan tham gia thành lập khối hợp tác kinh tế các nước Hồi giáo (ECO).
Pa-ki-xtan là thành viên Liên Hợp Quốc, Phong trào Không liên kết và nhiều tổ chức quốc tế và khu vực như: Tổ chức các nước Hồi giáo IOC, Khối liên hiệp Anh, Hiệp hội các nước khu vực Nam Á SAARC, Diễn đàn đối thoại châu Á ACD, Tổ chức hợp tác kinh tế khu vực ECO, diễn đàn ARF, ASEM, thành viên đối thoại khu vực ASEAN...
Kể từ năm 1945 đến những năm 60, Việt Nam và Pa-ki-xtan hầu như không có quan hệ gì ngoài một vài cuộc tiếp xúc tại các diễn đàn quốc tế.
Trong giai đoạn 1960-70, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Pa-ki-xtan, mặc dù chưa thiết lập quan hệ ngoại giao nhưng đã có mối quan hệ thông qua đại diện tại Bắc Kinh-Trung Quốc và đã có những cuộc tiếp xúc trực tiếp đầu tiên giữa đại diện Pa-ki-xtan và đại diện Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, trao đổi các chuyến viếng thăm của Đặc phái viên sang hai nước và cũng đã có cuộc gặp gỡ, tiếp xúc tại một số Hội nghị, diễn đàn quốc tế.
Ngày 8/11/1972, Việt Nam và Pa-ki-xtan lập quan hệ ngoại giao. Năm 1973, Pa-ki-xtan lập Đại sứ quán thường trú tại Hà Nội và rút Sứ quán năm 1980 do khó khăn kinh tế. Ta lập sứ quán ở Pa-ki-xtan năm 1978 và rút sứ quán năm 1984 cũng do khó khăn tài chính.
Bộ trưởng Bộ Lao động, Y tế, phúc lợi xã hội và Kế hoạch hoá dân số Pa-ki-xtan Hafeezullah Cheema lần đầu tiên sang thăm Việt Nam và dự lễ kỷ niệm 30 năm ngày Quốc khánh 2/9/1975. Ngày 26-03-1976, Đại sứ Nguyễn Trọng Vĩnh sang Pa-ki-xtan dự Quốc khánh Pa-ki-xtan và chuyển thông điệp của Thủ tướng Phạm Văn Đồng cho Thủ tướng Bhutto. Đặc phái viên Thủ tướng Phan Hiền thăm Pa-ki-xtan tháng 2-1977. Đầu năm 1979 ta cử Đoàn Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh sang thăm Pa-ki-xtan. Ngày 31-8-1983, lần đầu tiên sau khi đóng cửa Đại sứ quán tại Hà Nội 1980, phía Pa-ki-xtan cử Đại sứ Afzal Mahmood tại Mi-an-ma kiêm nhiệm Việt Nam và kể từ đó Đại sứ Pa-ki-xtan tại Mi-an-ma luôn kiêm nhiệm Việt Nam cho đến 10/2000. Ta đóng cửa Sứ quán 6/1982 và tháng 12-1993, Chủ tịch nước đã quyết định cử Đại sứ Việt Nam tại Mi-an-ma kiêm nhiệm Pa-ki-xtan sau gần 10 năm gián đoạn. Tháng 2-1995, Đại sứ Trần Viết Tân tại Mi-an-ma đã sang Pa-ki-xtan trình Quốc thư. Kể từ đó đến nay, các Đại sứ của ta trong nhiệm kỳ công tác tại Mi-an-ma đều sang Pa-ki-xtan công tác và trình quốc thư.
Từ năm 1995, phía Pa-ki-xtan bày tỏ mong muốn tăng cường hợp tác song phương. Pa-ki-xtan muốn bán cho Việt Nam máy dệt, máy kéo sợi, máy làm đường mía, đề nghị Việt Nam mời chuyên gia dầu khí Pa-ki-xtan vào làm việc tại Việt Nam v.v... Tháng 9/1997 ta đã cấp phép cho Pa-ki-xtan xây dựng nhà máy đường tại Bình Thuận với tổng vốn đầu tư 39,8 triệu USD, nhưng dự án này không triển khai và ta đã rút phép năm 2001. Đầu năm 1998, một đoàn thương mại - mía đường của Việt Nam đã sang thăm Pa-ki-xtan. Đoàn đi thăm một số nhà máy lớn như khu liên hợp Cơ khí Taxila, nhà máy xi măng PECTO, nhà máy đường ANSARY, Tổng công ty cơ khí quốc gia Pa-ki-xtan và làm việc với Bộ Thương mại Pakisan. Cho đến năm 2000, thương mại hai chiều Việt Nam - Pa-ki-xtan chỉ đạt khoảng 10 triệu USD.
Quan hệ Việt Nam-Pa-ki-xtan trong mấy năm gần đây có nhiều sự chuyển biến mới tích cực. Tháng 10/2000, Pa-ki-xtan đã mở lại Đại sứ quán và cử Đại sứ thường trú tại Hà Nội. Ta đã mở lại Đại sứ quán tại Ix-la-ma-bát (12/2005) và Văn phòng thương mại tại Ka-ra-chi trong năm (11/2005).
Tháng 5/2001, Người đứng đầu Cơ quan Hành pháp (nay là Tổng thống) Mu-sa-ráp đã sang thăm Việt Nam. Chủ tịch nước ta Trần Đức Lương đã thăm chính thức Pa-ki-xtan 3/2004. Tháng 4-2002, Thứ trưởng Ngoại giao Lê Công Phụng thăm Pa-ki-xtan. Cuối tháng 10/2003, Thứ trưởng Thương mại Đỗ Như Đính dẫn đầu đoàn thương mại Việt Nam thăm Pa-ki-xtan và đầu tháng 4-2004, Thứ trưởng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Bùi Bá Bồng thăm Pa-ki-xtan. Ngày 8-9/7/2003, Thứ trưởng Kinh tế Pa-ki-xtan Waqar Masood Khan thăm và họp Uỷ ban Hỗn hợp Việt Nam - Pa-ki-xtan. Đoàn học viện quân sự Pa-ki-xtan sang thăm ta tháng 4/2002 và tháng 3/2004. Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam cũng đã cử đoàn Phó Vụ trưởng Vụ kinh tế Nông nghiệp sang thăm Pa-ki-xtan (18-30/12/2003). Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên tới Pa-ki-xtan dự cuộc họp ACD 4/2005. Chủ tịch Ủy ban Đối Ngoại Thượng viện Pa-ki-xtan đến thăm Việt Nam (31/6-3/7/2008). Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Pa-ki-xtan thăm việt Nam (4-9/8/2008).
Hai bên đã ký kết thoả thuận thành lập Uỷ ban Hỗn hợp Việt Nam - Pa-ki-xtan (4/2002). Ngày 8-9/7/2003, hai bên đã tiến hành họp lần thứ nhất Uỷ ban Hỗn hợp Việt Nam-Pa-ki-xtan tại Hà Nội do Thứ trưởng Đỗ Như Đính - Bộ Thương mại chủ trì, đã thoả thuận tăng cường trao đổi các đoàn thương mại, chuẩn bị ký kết một số thoả thuận, Hiệp định làm cơ sở pháp lý cho việc hợp tác trong các lĩnh vực.
Nhân dịp 35 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Pa-ki-xtan (8/11/1972- 8/11/2007), Bộ Ngoại giao, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam và các cơ quan đoàn thể đã phối hợp với Đại sứ quán Pa-ki-xtan tại Hà Nội tổ chức một số hoạt động kỷ niệm sự kiện này.
Hợp tác trên diễn đàn quốc tế: Ta đã ủng hộ Pa-ki-xtan trở thành thành viên không thường trực tại Hội đồng Bảo an LHQ khoá 2002-2003 và Pa-ki-xtan cũng đã ủng hộ Việt Nam làm ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an LHQ khoá 2008-2009 và gia nhập tổ chức WTO năm 2006. Việt Nam ủng hộ Pakistan tái cử vào Hội đồng nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2008-2011.
Về quan hệ kinh tế, khoảng cuối những năm 70, ta và Pa-ki-xtan có quan hệ buôn bán, Pa-ki-xtan mua xi măng của ta và bán cho ta phân bón, bao tải và giống bò Sind. Trong những năm gần đây, Pa-ki-xtan tỏ quan tâm nhiều hơn đến phát triển quan hệ Việt Nam trên các lĩnh vực thương mại và đầu tư. Trong chuyến thăm Việt Nam tháng 5/2001 của Người đứng đầu Cơ quan Hành pháp (nay là Tổng thống) Mu-sa-ráp, hai bên đã ký Hiệp định thương mại, thoả thuận đưa kim ngạch hai chiều giữa hai nước lên 50 triệu USD và 100 triệu USD trong những năm tiếp theo. Kim ngạch thương mại hai chiều tăng lên nhanh chóng từ dưới 10 triệu USD (1999). Kim ngạch hai chiều tăng lên nhanh chóng (2000 - 27 triệu USD; 2002 - trên 30 triệu USD; 2002 – 47 triệu), năm 2003 đạt 50 triệu và năm 2004 đạt trên 50 triệu. Năm 2007, kim ngạch hai chiều đạt 134,1 triệu USD, trong đó Việt Nam xuất 81,2 triệu và nhập 52,9 triệu. Năm 2008 kim ngạch hai chiều đạt 149,7 triệu USD, trong đó Việt Nam xuất 95,2 triệu và nhập 54,5 triệu. Các mặt hàng xuất chủ lực của Việt Nam năm 2008 là chè, hạt tiêu, sợi các loại, cao su, hạt điều, sản phẩm gốm sứ, sắt thép. Riêng mặt hàng chè đạt giá trị gần 29 triệu USD. Các mặt hàng nhập chính từ Pa-ki-xtan có nguyên phụ liệu dệt may, da & giầy, vải, sợi các loại, tân dược, lúa mỳ, thức ăn gia súc & nguyên liệu, bông.
+ Hiệp định Thương mại (5/2001),
+ MOU về thành lập Uỷ ban Hỗn hợp Việt Nam-Pa-ki-xtan (4/2002);
+ Tuyên bố chung Việt Nam-Pa-ki-xtan (3/2004);
+ Hiệp định tránh đánh thuế hai lần (3/2004);
+ Hiệp định khung về Hợp tác về Khoa học, Công nghệ (3/2004);
+ MOU về hợp tác và tham khảo hai Bộ Ngoại giao (3/2004) và
+ MOU về hợp tác giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Ngân hàng Trung Ương Pa-ki-xtan (3/2004).
+ MOU về tham khảo thường niên về hợp tác giữa hai Bộ Ngoại giao (3/2004).
+ Hiệp định hợp tác phát triển nghề cá và môi trường thuỷ sản (6/2006);
+ Hiệp định miễn thị thực cho người mang hộ chiếu ngoại giao và công vụ (1/2007).
|
|
