THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ CỘNG HÒA PHI-LÍP-PIN VÀ QUAN HỆ VIỆT NAM-PHI-LÍP-PIN
Tháng 12 năm 2009
I. Khái quát chung:
+ Tên nước: Cộng hòa Phi-líp-pin (Republic of the
+ Thủ đô:
+ Vị trí địa lý: Là quốc gia quần đảo với khoảng 7107 đảo, phía Bắc giáp biển Đài Loan, phía Nam ngăn cách với Malaysia bởi biển Sulu và Celebes, phía Đông là Thái Bình Dương, phía Tây ngăn cách với Việt Nam bởi Biển Đông (cách Việt Nam khoảng 1.500 Km).
+ Đặc điểm tự nhiên, khí hậu : Toàn bộ bờ biển Phi-líp-pin dài 23.184 Km. 3/4 diện tích là rừng núi; đồng bằng thấp, nhỏ, hẹp và có nhiều thung lũng xen kẽ các sườn núi. Phi-líp-pin nằm trong khu vực có nhiều động đất và núi lửa với khoảng 10 núi lửa đang trong thời kỳ hoạt động. Phi-líp-pin có khí hậu nhiệt đới gió mùa, thường có bão lớn (trung bình 20 cơn bão/năm). Phi-líp-pin có hai mùa rõ rệt là mùa khô và mùa mưa: mưa-bão từ tháng 6 đến tháng 10; khô-mát từ tháng 11 đến tháng 2; nóng-khô từ tháng 3 đến tháng 5. Nhiệt độ trung bình là 25 độ C.
+ Diện tích: 300.000 km2 + Dân số: 92 triệu người (2009)
+ Dân tộc: 3 nhóm dân tộc chính: Cơ đốc giáo chiếm 3/4 dân số, các dân tộc miền núi khoảng 5%, người Moro theo Hồi giáo khoảng 5% và ngoại kiều chiếm 2%.
+ Tôn giáo: Phi-líp-pin là nước duy nhất ở Châu Á lấy Thiên chúa giáo làm quốc đạo với khoảng 85% dân số theo Thiên chúa giáo, Hồi giáo 10%, Tin lành 5% và các đạo khác.
+ Ngôn ngữ: Tiếng Tagalog. Tiếng Anh được sử dụng rộng rãi và là ngôn ngữ chính thức trong cơ quan và trường học.
+ Tiền tệ: Đồng pê-sô (Peso)
+ Ngày Quốc khánh: 12/6/1898
+ Ngày Mỹ trao trả độc lập : 4/7/1946
+ Lãnh đạo:
|
Tổng thống thứ 14: |
Bà Gloria Macapagal Arroyo (Nhậm chức ngày 30/6/2004) |
|
Phó Tổng thống: |
Ông Noli De Castro (Nhậm chức ngày 30/6/2004) |
|
Chủ tịch Thượng viện: |
Ông Juan Ponce Enrile (Nhậm chức ngày 17/11/2008) |
|
Chủ tịch Hạ viện: |
Ông Prospero Nograles (Nhậm chức ngày 4/02/2008) |
|
Ngoại trưởng: |
Ông Alberto Romulo (Nhậm chức ngày 18/8/2004) |
II. Tóm lược về lịch sử, đất nước, con người:
Thời kỳ Tây Ban Nha xâm lược và đô hộ (1521 - 1898): Năm 1521, Magellan (người Tây ban nha) đã tới quần đảo Phi-líp-pin. Năm 1543, Tây Ban Nha đặt tên quần đảo này là "the
Thời kỳ Mỹ xâm lược và đô hộ (1898-1941): Ngày 10/12/1898, sau khi hạm đội Mỹ đánh tan hạm đội Tây Ban Nha ở Vịnh Manila, Tây Ban Nha phải ký Hoà ước nhượng toàn bộ Phi-líp-pin cho Mỹ. Đến 1913, Mỹ áp đặt sự thống trị lên toàn bộ Phi-líp-pin. Tuy nhiên, năm 1935 Mỹ phải tuyên bố cho người Phi-líp-pin hưởng tự trị trong một số lĩnh vực không quan trọng và hứa 10 năm sau sẽ trao trả độc lập.
Thời kỳ Nhật chiếm đóng (1942-1945): Tháng 12/1941, Nhật xâm lược Phi-líp-pin, Mỹ rút chạy. Năm 1943, Nhật thành lập chính phủ bù nhìn do Laurel đứng đầu, chế độ này tồn tại đến năm 1945.
Thời kỳ Mỹ trao trả "độc lập" và thực hiện chính sách thực dân mới từ sau chiến tranh thế giới thứ 2 đến nay: Năm 1945, Nhật bại trận, Mỹ đưa quân trở lại thực hiện chính sách thực dân mới ở Phi-líp-pin và ép chính quyền Phi-líp-pin ký nhiều Hiệp định bất bình đẳng để kiểm soát các lĩnh vực quân sự, chính trị, kinh tế của Phi-líp-pin. Sau khi chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc, Mỹ trao trả độc lập cho Phi-líp-pin ngày 4/7/1946. Mỹ rút quân khỏi căn cứ không quân Clark và căn cứ hải quân
III. Thể chế chính trị:
1. Thể chế nhà nước: Cộng hòa
+ Từ 1972 trở về trước, Nhà nước Phi-líp-pin tổ chức theo Hiến pháp năm 1935 (giống Hiến pháp Mỹ). Cơ quan lập pháp cao nhất là Quốc hội gồm Thượng viện và Hạ viện. Đứng đầu Nhà nước và Chính phủ là Tổng thống với nhiệm kỳ 4 năm, do dân trực tiếp bầu.
+ Từ 1981-1985: Nhà nước Phi-líp-pin tổ chức theo Hiến pháp năm 1973. Quyền lập pháp giao cho Quốc hội một viện (bỏ Thượng viện). Đứng đầu Nhà nước là Tổng thống với nhiệm kỳ 6 năm, không được tái cử. Đứng đầu Chính phủ là Thủ tướng. Tuy nhiên, mọi quyền lực vẫn tập trung trong tay Tổng thống.
+ Từ 1986 đến nay: Nhà nước Phi-líp-pin tổ chức theo Hiến pháp năm 1987. Cơ quan lập pháp cao nhất là Quốc hội. Tổng thống là người đứng đầu Nhà nước và Chính phủ.
2. Cơ cấu các cơ quan quyền lực nhà nước hiện nay :
a) Nguyên thủ quốc gia: Đứng đầu Nhà nước và Chính phủ Phi-líp-pin là Tổng thống, nhiệm kỳ 6 năm, không tái cử nhiệm kỳ 2. Tổng thống có thể triệu tập khoá họp đặc biệt của Quốc hội vào bất cứ thời điểm nào nếu cần thiết.
b) Quốc hội là Cơ quan lập pháp (Congress) gồm hai viện. Thượng viện gồm 24 thượng nghị sĩ (với nhiệm kỳ 6 năm nhưng không quá hai nhiệm kỳ) và Hạ viện gồm 200 đến 250 hạ nghị sỹ (với nhiệm kỳ 3 năm nhưng không quá ba nhiệm kỳ). Các thượng và hạ nghị sỹ không được nắm giữ bất cứ cương vị gì trong nội các cũng như các cơ quan của Chính phủ kể cả các công ty do Chính phủ kiểm soát. Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền tuyên chiến. Trong trường hợp khẩn cấp hoặc khi gặp thiên tai, Quốc hội có thể uỷ quyền cho Tổng thống ban hành các sắc luật cần thiết để bảo vệ chủ quyền Quốc gia.
c) Chính phủ: Tổng thống cũng là người đứng đầu cơ quan hành pháp. Tổng thống có các quyền: bổ nhiệm các bộ trưởng nội các với sự thông qua của Quốc hội; thành lập các Hội đồng và chọn các cố vấn về các vấn đề cụ thể.
d) Toà án: Hệ thống tư pháp của Phi-líp-pin chịu sự quản lý và giám sát của Toà án Tối cao và hoạt động theo 4 cấp gồm: Tòa án thượng thẩm; Tòa án phúc thẩm; Toà án sơ thẩm vùng; và Toà án sơ thẩm tỉnh, thành phố, quận, huyện. Phi-líp-pin không có cơ quan công tố hay kiểm sát riêng mà chức năng này thuộc tòa án.
e) Cơ chế bầu cử : Theo Hiến pháp năm 1987, dân trực tiếp bầu Tổng thống, Phó Tổng thống và các thượng và hạ nghị sỹ. Cũng theo Hiến pháp 1987 và Luật sửa đổi bầu cử số 7166 ngày 22/7/1991, dân bầu người đứng đầu tỉnh, thành phố, thị xã, và phường, có hội đồng tỉnh, thành phố, thị xã, quận huyện và phường xã.
3. Phân chia địa phương, lãnh thổ và địa giới hành chính : Chính quyền địa phương được chia thành 17 vùng gồm: 81 tỉnh; 65 thành phố và thị xã; các quận huyện; và 41.926 phường, xã.
4. Các đảng phái chính trị: Phi-líp-pin theo thể chế đa nguyên đa đảng.
a) Liên minh cầm quyền hiện nay: Liên minh Lakas-Kampi-CMD. Chủ tịch Đảng hiện là ông Giberto Teodoro (từ ngày 19/11/2009). Tổng thống đương nhiệm Arroyo làm Chủ tịch Đảng từ năm 2004 – 19/11/2009.
b) Các đảng chính trị chính
|
- LDP - UNIDO - PDP-Laban - NUCD - CPP - NDF - LAKAS- NUCD - UMDP - PPC |
Phong trào đấu tranh vì nền dân chủ Phi-líp-pin Đảng Dân tộc Dân chủ Thống nhất Đảng Dân chủ Phi-líp-pin-Sức mạnh quần chúng Liên hiệp toàn quốc những người dân chủ Thiên chúa giáo Đảng Cộng sản thân Trung Quốc, thành lập 1968. Mặt trận Dân tộc Dân chủ ( là lực lượng đấu tranh chính trị của CPP, được coi là hợp pháp và có trụ sở ở Hà Lan). Đảng Sức mạnh quần chúng-Liên hiệp toàn quốc những người dân chủ Thiên chúa giáo. Đảng Liên minh những người dân chủ Hồi giáo. Liên minh Sức mạnh nhân dân gồm các đảng LP, Reporma, Aksyon, Demokratiko, Lakas-NUCD, Promdi và NP |
c) Các lực lượng chống đối vũ trang:
|
- NPA - MNLF - MILF - ASG |
Quân đội Nhân dân mới (lực lượng đấu tranh vũ trang của CPP, bị coi là bất hợp pháp). Mặt trận giải phóng dân tộc Moro, thành lập năm 1969. Năm 1996 MNLF ký Hiệp ước hoà bình với Chính phủ chấp nhận tự quản thay vì độc lập. Mặt trận Giải phóng Hồi giáo Moro, tách ra từ MNLF năm 1977. Nhóm Hồi giáo cực đoan Abu Sayyaf, tách ra từ MILF năm 1991. Hiện đang bị Chính phủ Phi-líp-pin truy quét. |
IV. Kinh tế:
Phi-líp-pin là nước khá giàu tài nguyên thiên nhiên trên đất liền và dưới biển, có nhiều khoáng sản như vàng, đồng, sắt, crôm, măng-gan, than đá, dầu lửa và khí đốt. Năm 2004, Chính phủ ước tính trữ lượng khoáng sản trong lòng đất có tổng giá trị khoảng từ 800 đến 1000 tỷ USD. Tuy nhiên, hiện nay Phi-líp-pin mới chỉ xuất khẩu khoáng sản khoảng 0,5 tỷ USD/năm.
Phi-líp-pin chủ yếu vẫn là một nước nông nghiệp và trình độ phát triển còn thấp, GDP đầu người 1,845 USD (2008). 70 % dân số dựa vào nông nghiệp là chủ yếu. Nông nghiệp chiếm 23% GDP. Tuy nhiên, Phi-líp-pin hàng năm vẫn phải nhập một khối lượng khá lớn lương thực (khoảng 2 triệu tấn gạo/năm, trong đó nhập từ Việt
Dịch vụ ở Phi-líp-pin phát triển khá mạnh, chiếm trên 40% GDP. Xuất khẩu lao động rất quan trọng, với trên 10 triệu người lao động ở nước ngoài, mỗi năm ước tính gửi về nước khoảng 10 - 12 tỷ USD.
Từ 1946, với chiến lược "thay thế nhập khẩu", kinh tế Phi-líp-pin bắt đầu phát triển và có tốc độ tăng trưởng cao hơn In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a và Thái Lan. Sang thập kỷ 70, với chiến lược "hướng vào xuất khẩu", kinh tế Phi-líp-pin đã có một số kết quả tích cực: GNP năm 1979 đạt 7,5% và bình quân đầu người đạt 590 USD. Từ 1983, kinh tế Phi-líp-pin khủng hoảng. Đến 1986, được sự hỗ trợ tích cực của các nước tư bản lớn và các tổ chức tài chính quốc tế, kinh tế Phi-líp-pin phục hồi. Năm 1996, GDP đạt 7,1%, dự trữ ngoại tệ đạt 11,6 tỉ USD, FDI đạt 5,5 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người đạt 1090 USD. Từ 1998 đến 2000 do khủng hoảng tài chính-tiền tệ khu vực và tình hình nội bộ Phi-líp-pin bất ổn nền kinh tế Phi-líp-pin suy giảm. Giá trị đồng peso giảm mức thấp nhất. Xuất khẩu giảm từ 19% năm 1999 xuống 6,7% năm 2000. Nợ nước ngoài tăng (52 tỷ USD). Dự trữ ngoại tệ ở mức 14 tỷ USD. Tỷ lệ lạm phát năm 2003 ở mức 4,2%.
Từ 2004 trở lại đây, kinh tế Phi-líp-pin phát triển tương đối khá, đạt mức tăng trưởng 5 –5,5%/năm, GDP năm 2005 đạt 1.080 USD/người. Xuất khẩu tăng khá, đồng Pêsô tăng từ 57 Pêsô/1 USD lên khoảng 50 Pêsô/1 USD. Tuy nhiên, kinh tế Phi-líp-pin còn nhiều khó khăn do cơ cấu kinh tế nói chung, cơ cấu kinh tế vùng nói riêng không hợp lý, quan hệ kinh tế đối ngoại chưa đa phương hoá, đa dạng hoá, nghèo đói, đặc biệt ở nông thôn chậm được giải quyết, bất ổn chính trị, an ninh, dân số tăng cao...
V. Đối ngoại:
Từ năm 1992, Phi-líp-pin điều chỉnh chính sách đối ngoại với phương châm ngoại giao phục vụ phát triển kinh tế, bắt đầu chú ý đẩy mạnh hơn quan hệ với các nước láng giềng ở Châu Á - Thái Bình Dương.
Hiện nay, Phi-líp-pin chủ trương hoạch định chính sách đối ngoại theo hướng đa dạng hoá, đa phương hoá. Quan hệ đối ngoại của Philippin được quyết định bởi hai nhân tố là truyền thống và hiệp ước. Philippin coi quan hệ với các nước lớn là cơ sở để đề ra chính sách đối ngoại và chủ trương cư xử khéo léo, tinh tế và linh hoạt đối những vấn đề song phương nhạy cảm giữa các nước lớn để duy trì hoà bình, ổn định ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.
Phi-líp-pin khẳng định mục tiêu đối ngoại của Phi-líp-pin là bảo đảm an ninh quốc gia và khu vực, tăng cường hợp tác chống khủng bố, bảo đảm lợi ích người Phi-líp-pin ở nước ngoài và tăng cường hợp tác kinh tế. Phi-líp-pin xác định Mỹ, Trung quốc và Nhật Bản là 3 cường quốc có vai trò chi phối đối với an ninh và phát triển ở khu vực đồng thời thực hiện chủ trương ngoại giao linh hoạt vì lợi ích quốc gia. Người phát ngôn của Tổng thống Arroyo nêu vai trò của 3 nước này: “Mỹ là một trong 3 nước, cùng với Trung Quốc và Nhật Bản, Phi-líp-pin coi là 3 đồng minh quan trọng nhất”.
Phi-líp-pin tiếp tục coi trọng ưu tiên quan hệ với các nước ASEAN. Trong hợp tác với các nước ASEAN, Phi-líp-pin tập trung vào các vấn đề hợp tác chống khủng bố, đảm bảo an ninh khu vực kể cả an ninh năng lượng và hợp tác kinh tế. Buôn bán với các nước ASEAN chiếm 16% ngoại thương của Phi-líp-pin.
VI. Quan hệ Việt
Việt
1. Về chính trị: Hai nước đã ký Tuyên bố chung về "Khuôn khổ Hợp tác song phương trong 25 năm đầu thế kỷ 21 và thời kỳ tiếp theo" (nhân chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Arroyo năm 2002) và Bộ trưởng Ngoại giao hai nước đã ký Chương trình Hành động 2007 – 2010 nhằm triển khai Tuyên bố chung nhân chuyến thăm chính thức Phi-líp-pin của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng (8/2007). Hai bên thường xuyên tiến hành các cuộc trao đổi đoàn và tiếp xúc cấp cao. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thăm Phi-líp-pin (tháng 8/2007) và có cuộc gặp với Tổng thống Arroyo bên lề HNCC ASEAN-Hàn Quốc tại Chechu (tháng 6/2009) và Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm gặp Ngoại trưởng Phi-líp-pin bên lề Hội nghị AMM tại Thái Lan (tháng 7/2009)….
2. Hợp tác biển: Đây là một trong những trụ cột chính trong quan hệ hợp tác hai nước. Trong những năm qua, hợp tác biển giữa Việt Nam và Phi-líp-pin không ngừng được củng cố và mở rộng trên nhiều lĩnh vực: nghiên cứu khoa học biển (JOMSRE), thăm dò địa chấn chung (JMSU), hợp tác hải quân, tìm kiếm cứu nạn, ứng phó sự cố tràn dầu, thủy sản, khí tượng thủy văn biển, phối hợp lập trường trên các diễn đàn quốc tế và khu vực…
- Ngày 4/8/2009, Phi-líp-pin đã gửi Công hàm lên Ủy ban ranh giới thềm lục địa để phản đối báo cáo ranh giới ngoài thềm lục địa của Việt Nam và báo cáo chung Việt Nam-Ma-lai-xi-a khu vực phía Nam Biển Đông. Hiện 3 bên đang tích cực hợp tác để tìm giải pháp cho vấn đề này.
3. Kinh tế, đầu tư, thương mại :
- Về thương mại: kim ngạch thương mại hai nước tăng dần đều qua các năm, từ 541 triệu USD năm 2000 lên khoảng 2,2 tỷ USD năm 2008 trong đó ta xuất 1,8 tỷ USD (1,17 tỷ USD là xuất khẩu gạo) và nhập 400 triệu USD, vượt trước mục tiêu đạt 2 tỷ USD cho năm 2010. Do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính, trong 9 tháng đầu năm 2009, kim ngạch hai nước đạt khoảng 1,5 tỷ USD, trong đó ta xuất 1,17 tỉ USD (giảm 25% so với cùng kỳ năm trước) và nhập 310 triệu USD (tăng 6,2% so với cùng kỳ năm trước). Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của ta sang Phi-líp-pin là gạo, linh kiện điện tử và hàng nông sản và nhập của Phi-líp-pin chủ yếu là phân bón, máy móc thiết bị phụ tùng, khoáng chất, khí hóa lỏng, xăng dầu, dược phẩm, vật liệu xây dựng...
- Về hợp tác buôn bán gạo: Gạo là mặt hàng chủ lực của ta xuất sang Phi-líp-pin trong nhiều năm qua, chiếm 60 – 70% kim ngạch xuất khẩu. Trung bình ta xuất khẩu từ 1,5 - 1,7 triệu tấn/năm cho Phi-líp-pin. Năm 2005, ta xuất gần 1,7 triệu tấn gạo, năm 2006 ta xuất 1,53 triệu tấn, năm 2007 ta xuất 1,5 triệu tấn và khoảng 1,7 triệu tấn trong năm 2008. Trong năm 2009, ta đã xuất được 1,5 triệu tấn gạo cho Phi-líp-pin.
- Về đầu tư: Phi-líp-pin đầu tư vào Việt Nam còn khiêm tốn. Tính đến tháng 10/2009, Phi-líp-pin có 43 dự án còn hiệu lực với tổng số vốn đầu tư hơn 300 triệu USD, đứng thứ 26/86 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư tại Việt Nam. Tháng 7/2008, Việt Nam đã đồng ý để Phi-líp-pin thành lập Trung tâm Đầu tư và Thương mại tại Thành phố Hồ Chí Minh nhằm tìm hiểu thị trường và cơ hội đầu tư tại Việt Nam cho các doanh nghiệp Phi-líp-pin. Trung tâm này trực thuộc Đại sứ quán Phi-líp-pin tại Hà Nội và hoạt động phi lợi nhuận.
4. Về an ninh-quốc phòng : Phi-líp-pin mong muốn thúc đẩy hơn nữa lĩnh vực hợp tác này với ta. Tư lệnh hải quân Phi-líp-pin thăm Hà Nội ngày 28/11/2009. Hai bên đang tích cực thúc đẩy để ký Biên bản Ghi nhớ về Hợp tác Quốc phòng song phương và Hợp tác hải quân, cũng như sớm triển khai kênh liên lạc trực tiếp giữa Cảnh sát biển Việt Nam và Lực lượng bảo vệ bờ biển của Phi-líp-pin.
5. Về nông nghiệp: Quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Viện nghiên cứu lúa quốc tế ở Phi-líp-pin (IRRI) được thiết lập từ năm 1968. Hiện có khoảng 60-70% diện tích trồng lúa ở Việt Nam đang áp dụng những tiến bộ kỹ thuật về canh tác lúa và các giống lúa mang nguồn gốc IRRI. IRRI đã tài trợ cho hơn 600 lượt cán bộ nghiên cứu Việt Nam. Hiện bình quân mỗi năm có khoảng hơn 100 lượt các nhà khoa học và cán bộ nghiên cứu của IRRI sang Việt Nam và 60-70 lượt các nhà khoa học Việt Nam sang IRRI học tập và làm việc. Việt Nam đã đóng góp cho IRRI hơn 600.000 USD (thông qua tài trợ của chính phủ Ôxtrâylia).
6. Về giáo dục: Đây là lĩnh vực rất tiềm năng giữa hai nước. Hiện có khoảng 500 sinh viên Việt Nam đang học đại học, thạc sĩ, tiến sĩ bằng học bổng hoặc từ nhiều nguồn khác nhau tại Phi-líp-pin và con số này đang tăng nhanh.
7. Các cơ chế hợp tác:
- Ủy ban Hỗn hợp về hợp tác song phương Việt Nam – Phi-líp-pin: Tháng 3/1994, hai nước ký thoả thuận thành lập Ủy ban về hợp tác kinh tế, khoa học và kỹ thuật (Ủy ban Hỗn hợp) giữa hai chính phủ và cho đến nay đã họp được 5 lần: lần 1 tại Manila năm 1995, thứ 2 tại Hà Nội năm 1997, thứ 3 tại Manila năm 2003, thứ 4 tại Hà Nội năm 2005, thứ 5 tại Manila năm 2008. Dự kiến, lần thứ 6 sẽ tổ chức tại Việt Nam trong năm 2010.
- Nhóm công tác chung thường niên về các vấn đề biển và đại dương (JPWG): Bộ Ngoại giao hai nước đã luân phiên tổ chức các Cuộc họp Nhóm Công tác chung thường niên Việt Nam – Phi-líp-pin về các vấn đề biển và đại dương (lần 1 năm 2004; lần 2 năm 2005; lần 3 năm 2006; lần 4 năm 2007; lần 5 năm 2009). Mục đích là để kiểm điểm, đánh giá việc thực hiện các thỏa thuận từ các cuộc họp trước và trao đổi phương hướng hợp tác trong một số lĩnh vực (bảo vệ môi trường biển, khí hậu biển, an toàn hàng hải, quản lý thủy sản) cũng như phối hợp tại các diễn đàn quốc tế liên quan đến biển.
8. Các chuyến thăm:
a/ Về phía Việt Nam có: Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh (01/1978); Thủ tướng Phạm Văn Đồng (9/1978); Thủ tướng Võ Văn Kiệt (02/1992); Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh (5/1993); Phó Thủ tướng Trần Đức Lương (12/1993); Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm (02/1995); Chủ tịch Lê Đức Anh (12/1995); Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn (6/1998); Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm (7/1998); Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên (6/2000); Chủ tịch Trần Đức Lương thăm chính thức (11/2001); Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên họp UBHH lần 3 (2/2003); Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An thăm chính thức (12/2003); Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng dự Hội nghị AIPO lần thứ 27 tại Cebu (9/2006); Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tham dự Hội nghị Cấp cao ASEAN 12 tại Cebu (1/2007); Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thăm chính thức Phi-líp-pin (8/2007). Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm thăm chính thức và đồng chủ trì Ủy ban hỗn hợp hai nước (02/2008). Bộ trưởng Bộ Công An Lê Hồng Anh thăm chính thức (2/2009).
b/ Về phía Phi-líp-pin có: Ngoại trưởng R.Manglapus (1988); Chủ tịch Hạ nghị viện Ramon Mitra (1991); Bộ trưởng Ngoại giao Roberto Romulo (1992); Tổng thống F. Ramos (1994); Bộ trưởng Ngoại giao Domingo L. Siazon Jr. (1997 và 1999); Tổng thống J. Estrada (1998); Cựu Tổng thống Fidel Ramos (1999); Chủ tịch Hạ viện De Venecia (1999 và 2002); Tổng thống Arroyo thăm chính thức (11/2002); cựu Tổng thống A-ki-nô (2/2003); Ngoại trưởng Delia Domingo Albert thăm chính thức (3/2004); Chủ tịch Thượng viện Drilon (4/2004). Tổng thống Arroyo dự ASEM 5 tại Hà Nội (10/2004); Bộ trưởng Nông nghiệp.... Bộ trưởng Ngoại giao Phi-líp-pin Rô-mu-lô thăm chính thức và đồng chủ trì cuộc họp lần 4 UBHH (11/2005); Tổng thống Arroyo dự APEC 14 tại Hà Nội (11/2006); Bộ trưởng Nội vụ và Chính quyền địa phương (5/2009); Ngoại trưởng Romulo dự FMM 9 (5/2009).
9. Các văn kiện đã ký kết:
Hiệp định Hợp tác Kinh tế, Khoa học và Kỹ thuật (1/78); Hiệp định Thương mại (1/78); Hiệp định Vận chuyển Hàng không (11/88); Nghị định bổ sung danh mục hàng hoá buôn bán (3/1990); Hiệp định Khuyến khích và Bảo hộ Đầu tư (2/92); Hiệp định Vận tải Hàng hải (2/92); Bản ghi nhớ về hợp tác liên doanh trong một số lĩnh vực của nông nghiệp (3/92); Hịêp định thành lập Uỷ ban hỗn hợp về Thương mại và Kinh tế Việt Nam – Phi-líp-pin (2/92); Hiệp định Hợp tác Văn hoá (3/94); Hiệp định Hợp tác Du lịch (3/94); Thoả thuận lập Uỷ ban Hỗn hợp (3/94); Nghị định thư về danh mục hàng hoá trao đổi giữa hai nước (3/94); Bản nghi nhớ về các nguyên tắc hồi hương người Việt nam không phải tỵ nạn ở Philippin (2/95); Nghị định thư về du lịch (7/95); Bản ghi nhớ về việc ký lại Hiệp định Thương mại mới (11/95); Tuyên bố chung về nguyên tắc 9 điểm giải quyết tranh chấp ở Biển Đông (11/95); Kế hoạch Hành động về giáo dục nhằm thực hiện Hiệp định Văn hoá (11/95); Hiệp định Hợp tác Khoa học Kỹ thuật (4/96); MOU về nghiên cứu chung về biển (4/96); Bản ghi nhớ về miễn thị thực cho người mang hộ chiếu ngoại giao (01/97); Bản ghi nhớ về miễn thị thực cho người mang hộ chiếu công vụ và cấp thị thực nhanh cho người mang hộ chiếu phổ thông (12/98); Hiệp định hợp tác giữa hai Chính phủ về phòng và chống các tội phạm hình sự (12/98); Thoả thuận về hợp tác Nông nghiệp (10/99); Hiệp định tránh đánh thuế trùng (11/2001); Khuôn khổ hợp tác song phương trong 25 năm đầu thế kỷ 21 và thời kỳ tiếp theo (11/2002) và Bản ghi nhớ về hợp tác thể dục thể thao (12/2002). Hiệp định ba bên Trung Quốc – Phi-líp-pin – Việt Nam về thỏa thuận thăm dò địa chấn trên biển trong Khu vực thoả thuận tại Biển Đông (3/2005); Kế hoạch hợp tác du lịch giữa Việt Nam và Phi-líp-pin giai đoạn 2006 - 2008 (10/2006); Nghị định thư về Hợp tác Văn hóa (8/2007); Bản thỏa thuận về Hợp tác Xúc tiến Thương mại (8/2007); Chuơng trình hành động giai đoạn 2007-2010 (ký 8/2007). /.
|
|
