THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ VƯƠNG QUỐC ANH VÀ BẮC AI-LEN VÀ QUAN HỆ VIỆT NAM-LIÊN HIỆP VƯƠNG QUỐC ANH VÀ BẮC AI-LEN
I. THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ LIÊN HIỆP VƯƠNG QUỐC ANH VÀ BẮC AI-LEN:
Tên nước: Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ai Len (gọi tắt là Anh);
Thể chế: Quân chủ lập hiến;
Thủ đô: London (7,3 triệu người);
Vị trí địa lý: Nằm ở Tây Âu, giáp Ai Len với đường biên giới dài 360km;
Khí hậu: Ôn đới;
Diện tích: 244.820 km2 (Đất liền 241.590 km2; mặt nước 3.230 km2);
Dân số: 61 triệu người (7/2008);
Quốc khánh: Ngày 11 tháng 6 (Ngày sinh Nữ Hoàng Elizabeth II);
Đơn vị tiền tệ: Pound (Bảng Anh); tỷ giá 1 GBP = 1,9 USD;
Các dân tộc : Người Anh: 83,6%, người Scotland 8,6%; người xứ Wales 4,9%; người Bắc Ai Len 2,9%;
Ngôn ngữ: Tiếng Anh. Ngoài ra còn có các tiếng địa phương như tiếng Welsh, tiếng Scottish;
Tôn giáo: Đa số theo đạo Tin Lành/ Anh Giáo
Lãnh đạo chủ chốt hiện nay: Nữ hoàng Elizabeth II (Nguyên thủ quốc gia, đăng quang ngày 2/6/1953); Thủ tướng Gordon Brown (Công Đảng); Bộ trưởng Ngoại giao David Miliband (Công Đảng); Chủ tịch Thượng Viện Baroness Hayman (Công Đảng); Chủ tịch Hạ Viện John Bercow (Công Đảng).
1. Lịch sử:
Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ai len bao gồm 4 xứ: Anh (England, diện tích 130.281 km2, dân số 49.537.000 người), Xứ Uên (Wales, 20.732 km2, 2.919.000 người), Xcốt-len (Scotland, 5.055.000 người) và Bắc Ai Len (Northern Ireland, 1.679.000 người); mỗi xứ có lịch sử và văn hoá riêng.
Các mốc chính trong lịch sử:
Từ 43 – 409: Bị người La Mã chiếm đóng;
Năm 450: Người Bắc Âu xâm chiếm và hình thành các Vương quốc Anglo – Saxon;
Năm 597: Bắt đầu sự xâm nhập của Thiên Chúa giáo;
Năm 789: Bắt đầu các cuộc tấn công của người Viking;
Từ 1017 - 1042: Triều đại của người Viking gốc Đan Mạch;
Năm 1066: Người Norman xâm chiếm, du nhập tiếng Pháp vào giới quí tộc Anh;
Năm 1337: Cuộc chiến tranh trăm năm giữa Anh và Pháp bắt đầu;
Năm 1547: Tin Lành trở thành Quốc đạo ở Anh;
Năm 1707: Đạo luật hợp nhất Anh và Xcốt-len;
Từ 1760 – 1830: Cách mạng Công nghiệp ở Anh;
Từ 1775 – 1783: Thất bại trong cuộc chiến thuộc địa tại Mỹ;
Năm 1800: Đạo luật hợp nhất Anh và Bắc Ai Len;
Năm 1947: Với việc Ấn Độ và Pakistan giành độc lập, Đế chế Anh bắt đầu tan vỡ;
Năm 1973: Vương quốc Anh gia nhập EEC (nay là EU).
2/ Chính trị :
Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ai Len là nước quân chủ lập hiến, có hệ thống luật pháp theo mô hình Luật án lệ. Các thể chế chính trị chính gồm:
- Nữ hoàng: là Nguyên thủ Quốc gia, đứng đầu Cơ quan Lập pháp và Hành pháp, Tổng tư lệnh tối cao các lực lượng vũ trang, đứng đầu Giáo hội Anh và là Nguyên thủ Quốc gia của 16/53 nước thuộc Khối thịnh vượng chung. Tuy nhiên, trên thực tế quyền lực của Nữ hoàng chỉ mang tính chất tượng trưng.
- Cơ quan lập pháp: Quốc hội Anh được cấu thành bởi 3 thành phần: Vua (hay Nữ hoàng), Thượng viện và Hạ viện, và cả ba thành phần chỉ họp chung trong những sự kiện đặc biệt (như khi Nữ hoàng khai mạc Quốc hội mới). Mỗi viện đều có các uỷ ban đảm nhiệm các công việc khác nhau. Hạ viện là cơ quan duy nhất được dân bầu và trên thực tế là cơ quan lập pháp chủ yếu.
+ Thượng viện (House of Lords): Còn gọi là Viện Nguyên lão, hiện có 618 nghị sỹ với nhiệm kỳ 5 năm, gồm các Thượng nghĩ sỹ cha truyền con nối có dòng dõi quý tộc và Hoàng gia. Thượng nghị sỹ là những chức sắc quan trọng của Giáo hội Anh và những chính khách có công lao lớn với đất nước. Chính phủ Công đảng đang tiến hành cải cách Thượng viện theo hướng xoá bỏ chế độ cha truyền con nối, thay vào đó là cử những người có công với đất nước được Nữ hoàng phong cấp.
+ Hạ viện (House of Commons): Là Cơ quan lập pháp chủ yếu gồm 646 nghị sỹ, được bầu theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu, nhiệm kỳ 5 năm. Chức năng chính của Hạ viện là thông qua các đạo luật, chủ trương, chính sách lớn về kinh tế, xã hội, chính trị đối nội và đối ngoại, giám sát hoạt động của Chính phủ. Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, Đảng Bảo thủ và Công Đảng thay nhau chiếm đa số trong Hạ Viện. Hiện nay, Công Đảng chiếm đa số tuyệt đối và là đảng cầm quyền. Sau tuyển cử ngày 5/5/2005, Công Đảng chiếm 355 ghế, Bảo thủ 198 ghế, Dân chủ tự do 62 ghế. Ngoài ra còn các đảng mang tính chất địa phương như đảng Plaid Cymru ở Xứ Uên, đảng Quốc gia Scốt ở Scotland, đảng Liên hiệp Ulster ở Bắc Ai-len... chiếm 31 ghế.
- Cơ quan hành pháp:
+ Thủ tướng: Do Nữ hoàng bổ nhiệm và được Hạ viện thông qua. Chức năng chính là điều hành nội các, kiến nghị Nữ hoàng bổ nhiệm các giám mục và quan toà. Thủ tướng có quyền, được sự đồng ý của Nữ Hoàng, tuyên bố giải tán Quốc hội và định ngày tuyển cử Quốc hội.
+ Nội các: Khoảng 20 - 22 thành viên do Thủ tướng chỉ định và Nữ Hoàng phê duyệt, bao gồm các Bộ trưởng các bộ, Bộ trưởng không bộ tạo thành Chính phủ của Nữ hoàng. Chức Quốc Vụ khanh tương đương với chức Thứ trưởng của Việt Nam. Từ năm 1995 dưới chính quyền của Đảng Bảo thủ có chức Phó Thủ tướng. Hiện nay, dưới chính phủ mới do Công đảng lãnh đạo chức vụ này không được duy trì.
3/ Kinh tế:
Kinh tế Anh là nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, chủ yếu dựa vào khu vực kinh tế tư nhân (chiếm 80% sản lượng và 75% lao động). Trong những năm 80, dưới thời Thủ tướng M.Thatcher, Anh đi đầu các nước phương Tây trong việc tư nhân hóa doanh nghiệp nhà nước.
Hiện Anh là nền kinh tế lớn thứ 5 thế giới (thứ 2 trong EU, sau Đức) với GDP năm 2008 đạt 2.281 tỷ USD (tính theo PPP), GDP trên đầu người (tính theo PPP) năm 2008 đạt 37.400 USD. Anh nổi bật là một trong những nền kinh tế toàn cầu hoá nhất thế giới, với chính sách tự do thương mại, chống bảo hộ (tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Anh năm 2008 đạt khoảng 1.114 tỷ USD).
Thành phố Luân Đôn là một trong những trung tâm tài chính quan trọng nhất thế giới cùng với New York và Tokyo. Năm 2005, Anh xuất khẩu 21 tỷ Bảng (tương đương 40 tỷ USD) dịch vụ tài chính.
Trong thời gian qua, nền kinh tế đã duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao so với các nước EU (2006: 2,8%, 2007: 3,1%, 2008 : 1,1%) ; thất nghiệp thấp (khoảng 5%); lạm phát thấp và ổn định nhất kể từ năm 1959, được Ngân hàng Trung ương điều tiết quanh mức 2%.
Các ngành kinh tế mũi nhọn của Anh gồm ngân hàng, tài chính, bảo hiểm; sản xuất thép, đóng tàu, khai thác than; các ngành công nghiệp hoá chất, điện tử; viễn thông, công nghệ cao; dệt, may mặc.
Về thương mại, Anh đứng thứ 4 thế giới (sau Mỹ, Đức và Nhật Bản) với xuất khẩu 468 tỉ USD và nhập khẩu đạt 645 tỉ USD (2008). Thương mại có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân (xuất khẩu chiếm 26% GDP); thị trường chủ yếu là EU, chiếm 53% tổng xuất khẩu và 52% tổng nhập khẩu của Anh, sau đó đến Mỹ, Nhật, Trung Quốc. Xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ của Anh tính theo đầu người cao hơn Mỹ hoặc Nhật. Hàng xuất chủ yếu gồm sản phẩm dịch vụ, công nghiệp chế tạo, chất đốt, hoá chất, lương thực, đồ uống, thuốc lá trong khi hàng nhập khẩu chủ yếu gồm nguyên nhiên liệu, sản phẩm công nghiệp chế tạo, lương thực.
Về đầu tư, Anh đứng thứ 5 thế giới về đầu tư ra nước ngoài, chiếm khoảng 6,5% tổng đẩu tư của thế giới và đứng thứ 2 thế giới (139,5 tỷ USD) về nhận đầu tư nước ngoài, chiếm 11,5% tổng đầu tư thế giới.
4/ Chính sách đối ngoại:
Anh có một chính sách đối ngoại mang tính toàn cầu. Anh là Uỷ viên thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc, thành viên quan trọng trong NATO, thành viên EU, thành viên G8, đứng đầu Khối Thịnh Vượng chung gồm 53 nước (chủ yếu là những nước thuộc địa cũ của Anh) và là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế quan trọng khác, có tiếng nói quan trọng trên trường quốc tế. Anh có quan hệ ngoại giao với 165 nước.
Mục tiêu chính sách đối ngoại của Anh hiện nay là
- Ưu tiên đối ngoại hàng đầu là củng cố và phát triển quan hệ đồng minh chiến lược với Mỹ trong đó NATO là hạt nhân quan trọng;
- Phát triển quan hệ với EU nhưng không đối trọng với Mỹ, tăng cường ảnh hưởng và sự lãnh đạo của Anh tại châu Âu, phát huy vai trò cầu nối giữa châu Âu và Mỹ;
- Tăng cường sức mạnh Khối Thịnh vượng chung;
- Phát huy vai trò của Liên Hiệp Quốc trong các hoạt động gìn giữ an ninh và hoà bình, phát triển quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia, hợp tác quốc tế trong các vấn đề kinh tế, xã hội, văn hoá và nhân đạo mang tính toàn cầu, và bảo vệ nhân quyền;
- Đi đầu trong các vấn đề bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.
Gần đây Anh bắt đầu đẩy mạnh quan hệ với các nước ASEAN và châu Á, khu vực trước đây Anh chưa mấy chú trọng. Một mặt, Anh có nhu cầu củng cố vai trò và vị trí của mình tại các thuộc địa cũ trong khu vực trước ảnh hưởng ngày càng lớn của Trung Quốc, mặt khác Anh thực sự thấy lợi ích trong phát triển quan hệ hợp tác kinh tế với khu vực này./.
II. TÓM TẮT QUAN HỆ VIỆT NAM – ANH :
1/ Quan hệ chính trị:
Việt Nam và Anh thiết lập quan hệ ngoại giao cấp đại sứ ngày 11/9/1973. Tuy nhiên quan hệ hai nước chỉ thực sự phát triển tốt từ giữa thập kỷ 90. Hợp tác đầu tiên giữa hai nước là nhằm giải quyết vấn đề hồi hương người Việt Nam ra đi bất hợp pháp trong các trại tị nạn ở Hồng Kông. Hiện nay quan hệ Việt Nam và Anh có thể nói đang phát triển khá rộng trên nhiều lĩnh vực chính trị, kinh tế, giáo dục, an ninh quốc phòng… Anh đã ký với Việt Nam hầu hết các hiệp định kinh tế khung; trở thành một trong những nhà tài trợ ODA hàng đầu cho Việt Nam; ủng hộ Việt nam tăng cường quan hệ với EU.
Trao đổi đoàn cấp cao giữa hai nước:
- Phía Việt Nam: Thủ tướng Võ Văn Kiệt (1993); Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh (1994); Thủ tướng Phan Văn Khải dự ASEM-2 và thăm Anh (1998); Phó Thủ tướng Vũ Khoan (2003); Chủ tịch nước Trần Đức Lương (2004); Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An (2005); Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng (2008); Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng (2009); Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải (2009).
- Phía Anh: Công tước Xứ York - Hoàng tử Andrew (1999; 2006, 2008 và 2009); Công chúa Anne (1995 và 2002); Phó Thủ tướng John Prescott (2001 và 2004); Ngoại trưởng Anh (1995 và 1997).
Tháng 1/2009, Việt Nam và Anh thiết lập cơ chế tham vấn chính trị cấp Thứ trưởng Ngoại giao nhằm bàn phương hướng hợp tác song phương và trao đổi các vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm. Tại phiên tham vấn đầu tiên (13/1/2009), hai bên đã ký Biên bản ghi nhớ về hợp tác Việt - Anh đến năm 2013, trong đó đề ra các mục tiêu và biện pháp cụ thể tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực ưu tiên.
2/ Quan hệ kinh tế:
- Về thương mại, quan hệ thương mại Việt Nam và Anh tăng nhanh từ những năm 90 đến nay. Chính sách thương mại của Anh tương đối cởi mở, không theo chủ nghĩa bảo hộ. Trong các vấn đề tranh chấp thương mại giữa Việt Nam và EU (vụ kiện bán phá giá, vụ hải sản nhiễm kháng thể, vấn đề GSP), Anh thường có lập trường ủng hộ Việt Nam.
Tổng kim ngạch hai nước năm 2008 đạt gần 2 tỷ USD, trong đó Việt Nam xuất khẩu 1,5 tỷ USD, tăng 10% so với năm trước và nhập 386 triệu USD, tăng 62% so với 2007.
Những mặt hàng Việt Nam xuất chủ yếu sang Anh gồm: giày dép (53%), dệt may (12%), chè và cà phê (8%), gạo (8%), thuỷ sản (3%), cao su… nhập về hàng gia công chế biến và thiết bị công nghiệp (38%), hoá chất (21%), thiết bị viễn thông (6%), thuốc lá (3%)…
Hiện Anh có 138 văn phòng đại diện thương mại thường trú và chi nhánh thương nhân tại Việt Nam. Các văn phòng này nhìn chung hoạt động tốt. Anh lập Cộng đồng các Nhà doanh nghiệp Anh tại Việt Nam (BBGV) năm 1998 nhằm thúc đẩy quan hệ kinh tế với Việt Nam và các hoạt động từ thiện tại Việt Nam.
Tháng 7/2007, hai bên đã ký thoả thuận thành lập Uỷ ban hỗn hợp về kinh tế và thương mại (JETCO) nhằm đề ra các biện pháp thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư song phương.
Về đầu tư, các công ty Anh vào Việt Nam khá sớm (1988-89) nhưng thời gian đầu chủ yếu tập trung vào dầu khí (70% tổng đầu tư). Nay đầu tư của Anh đã mở rộng ra nhiều lĩnh vực mới như ngân hàng tài chính, công nghiệp chế tạo, may mặc... Nhìn chung các dự án đầu tư của Anh có quy mô vừa và nhỏ, tập trung vào các lĩnh vực: dầu khí (5 dự án chiếm 61,3% tổng vốn đầu tư của Anh), công nghiệp nặng (6 dự án chiếm 29,2% tổng vốn đầu tư), công nghiệp nhẹ (8 dự án, chiếm 3% tổng vốn đầu tư), tài chính ngân hàng, bảo hiểm, may mặc, công nghiệp chế tạo…).
Tính đến nay, Vương quốc Anh có 108 dự án với tổng vốn đầu tư trực tiếp là 1,4 tỷ USD (đứng thứ 3 trong các nước EU, sau Hà Lan và Pháp và đứng thứ 12/61 trong số các nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam). Theo con số của Anh là 2,2 tỷ USD do tính cả các công ty Anh đầu tư từ Hồng Kông, Singapore...
Các công ty lớn có mặt tại Việt Nam: Công ty dầu khí BP, nhôm BHP Billiton, động cơ máy bay Rolls-Royce, viễn thông Vodafone, cá cược Ladbrokes, vận tải P&O, hoá chất dược GlaxoSmithKline, các ngân hàng HSBC, Standard Chartered (100% vốn nước ngoài), bảo hiểm Prudential.
3. Hợp tác phát triển:
Năm 1992, Chính phủ Anh bắt đầu nối lại viện trợ cho Việt Nam. Từ 2001, viện trợ của Anh dành cho Việt Nam tăng nhanh rõ rệt do hai nguyên nhân chính: thứ nhất, chính phủ Công đảng ưu tiên hợp tác phát triển và xây dựng một chính sách hỗ trợ đối với các nước đang phát triển, lập ra Bộ Phát triển Quốc tế (DFID – Department for International Development) chuyên trách viện trợ phát triển thay vì để Bộ Ngoại giao quản lý như trước đây; thứ hai, Việt Nam với chính sách xóa đói giảm nghèo đúng đắn đã tạo dựng được uy tín đối với các nhà tại trợ quốc tế, do đó thu hút được sự chú ý của chính phủ Anh.
Một số dự án tài trợ của Anh tại Việt Nam đã rất thành công và được Anh coi là “tấm gương điển hình” cho các dự án tài trợ. Anh thành lập văn phòng đại diện của DFID tại Hà Nội từ năm 1999 để trực tiếp quản lý viện trợ phát triển tại Việt Nam. Chính sách viện trợ của Anh khá linh hoạt, dành cho nước nhận viện trợ quyền quyết định sử dụng nguồn viện trợ vào các mục tiêu ưu tiên của mình. Năm 2005 Anh tham gia thí điểm chương trình 135 (dự án xóa đói giảm nghèo của chính phủ Việt Nam), rót thẳng 10 triệu bảng Anh vào ngân sách nhà nước Việt Nam, để Việt Nam toàn quyền điều tiết theo mục tiêu đề ra của chính phủ.
Anh đã tăng đáng kể mức tài trợ cho Việt Nam và hiện nay Anh là nhà tài trợ không hoàn lại lớn nhất cho Việt Nam trong EU: viện trợ của Anh giai đoạn 2002-04 tăng từ 20 triệu bảng Anh (35 triệu USD) năm 2002 lên tới 40,5 triệu bảng Anh (60 triệu USD) năm 2004. Trong chuyến thăm Anh của Chủ tịch nước Trần Đức Lương năm 2004, Anh cam kết tăng mức viện trợ cho Việt Nam lên 55 triệu bảng Anh năm 2005 (90 triệu USD). Ngoài ra Anh cam kết thay Việt Nam trả nợ Ngân hàng thế giới 100 triệu USD (bằng 10% tổng nợ của Việt Nam trong giai đoạn 2005-2015).
Tháng 9/2006, hai bên đã ký Thoả thuận Đối tác Phát triển theo đó Anh dành cho Việt Nam 250 triệu bảng (khoảng 442 triệu USD) cho giai đoạn 2006-2011, chủ yếu là viện trợ không hoàn lại, đưa Anh trở thành nhà tài trợ không hoàn lại lớn nhất cho Việt Nam trong EU. Trong chuyến thăm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thăm Anh (tháng 3/2008), Thủ tướng Anh Gordon Brown cấp trực tiếp 100 triệu bảng viện trợ cho Việt Nam để tiếp tục thực hiện chiến lược xoá đói giảm nghèo đến năm 2011, như một phần trong cam kết viện trợ được ký vào tháng 9/2006.
4. Quan hệ văn hoá – giáo dục:
Trong những năm qua, hợp tác giữa Việt Nam và Anh trong lĩnh vực giáo dục đào tạo phát triển tích cực. Hàng năm, Chính phủ Anh dành từ 25-30 suất học bổng cho học sinh Việt Nam. Số người Việt Nam nhận học bổng của Chính phủ Anh cho đến nay là trên 600. Hiện có khoảng 6000 sinh viên Việt Nam đang theo học tại các trường của Anh quốc.
Hội đồng Anh (BC) có mặt tại Việt Nam từ cuối 1993, có trụ sở ở Hà Nội và TP HCM. Đến nay BC đã tổ chức các lớp bổ túc tiếng Anh miễn phí cho trên 1.000 cán bộ của Việt Nam, trong đó có hơn 40 cán bộ cấp Thứ trưởng và tương đương. Ngoài ra, thông qua Hội đồng Anh, Chính phủ Anh đã giúp Việt Nam đào tạo tiếng Anh và cung cấp nhiều học bổng ngắn hạn cho công chức của Việt Nam. Đại sứ quán Anh và BC thường xuyên tổ chức triển lãm giáo dục của Anh ở Việt Nam. Hiện nay, Hội đồng Anh và Bộ Giáo dục – Đào tạo đang gấp rút đưa ra Quy chế hoạt động mới cho Hội đồng Anh tại Việt Nam.
Từ 1994 đến nay đã có khoảng 20 chương trình liên kết đại học Việt Nam-Anh. Hiện Đại học East Anglia đã được cấp giấy phép mở Văn phòng đại diện tại Hà Nội; Đại học Webminster liên kết với Đại học Bách khoa Hà Nội đang xin mở Văn phòng đại diện; Đại học West of England xin phép liên kết với Đại học thành phố Hồ Chí Minh mở lớp đào tạo Master về luật.
Tháng 3/2008, Việt Nam đã ký với Anh Hiệp định cấp chính phủ về hợp tác giáo dục – đào tạo, hai bên nhất trí sẽ thiết lập từ 40 đến 60 liên kết trường học cấp (phổ thông, trung cấp, đại học) trong 3 năm và cam kết cho phép thành lập trường Apollo tại Việt Nam nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy tiếng Anh. Tháng 9/2008, trong chuyến thăm Việt Nam, Hoàng tử Anh Andrew đã chứng kiến Lễ ra mắt trường Đại học Apollo tại Hà Nội.
5. Cộng đồng người Việt tại Anh:
Cộng đồng người Việt Nam sinh sống tại Anh có khoảng 40.000 người, nhìn chung sống hoà nhập, ổn định. Anh đã quyết định miễn thị thực quá cảnh cho cán bộ của Việt Nam mang hộ chiếu ngoại giao và công vụ./.
|
|
|
Các tin liên quan: |
|
