THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ VƯƠNG QUỐC BỈ VÀ QUAN HỆ VỚI VIỆT NAM
I/ Khái quát chung:
- Tên nước: Vương quốc Bỉ
- Thủ đô: Bruxelles. Tại đây có trụ sở của NATO, Quốc hội Châu Âu, Uỷ ban Châu Âu.
- Vị trí địa lý: Nằm ở Tây Âu, phía Đông giáp Đức và Luých-xăm-bua, phía Tây giáp biển Bắc, phía Nam giáp Pháp, phía Bắc giáp Hà Lan.
- Diện tích: 30.528 km2.
- Dân số: 10.403.951 người (tính đến tháng 7/2008). Thủ đô Bruxelles: 1.100.000 người.
- Đơn vị tiền tệ: đồng EURO (từ 01/01/2002).
- GDP: 453,6 tỷ đô la (2007)
- GDP theo đầu người: 35.300 đô la (2007)
- Tỷ trọng các ngành kinh tế: + Công nghiệp và dịch vụ: 98,9%
+ Nông nghiệp: 1,1%
- Nợ : 84,9% GDP
- Tôn giáo: 90% theo Thiên chúa giáo.
- Ngôn ngữ: Có 3 cộng đồng ngôn ngữ: Tiếng Pháp (4 triệu người), tiếng Hà Lan - Flamand (6,5 triệu người) và tiếng Đức (6,5 vạn người). Bỉ không có ngôn ngữ riêng.
- Quốc khánh: 21-7 (21-7-1831, vị vua đầu tiên của Bỉ là Léopold I tuyên thệ tuân theo Hiến pháp do Quốc hội - Congrès national soạn thảo và bắt đầu có hiệu lực từ 7-2-1831).
- Các ngày lễ khác: 15-11 (Lễ nhà vua - Fête de la Dynastie - Fête du Roi).
- Đứng đầu Nhà nước là vua Albert II (lên ngôi ngày 9/8/1993).
- Chính phủ hiện nay do ông Herman Van Rompuy làm Thủ tướng. Bộ trưởng Bộ Ngoại giao: ông Karel De Gucht.
II/ Chính trị:
Hiến pháp 1831 (được sửa đổi vào các năm 1970, 1980, 1988-1989, 1993) qui định Bỉ là một quốc gia thống nhất, theo chế độ quân chủ đại nghị, có Vua và Quốc hội. Quyền lập pháp thuộc về Vua và Quốc hội. Quyền hành pháp thuộc về Vua và Chính phủ. Quyền tư pháp thuộc về các toà án.
Bỉ là một nước nhỏ, nhưng thể chế phức tạp do phân chia làm 3 vùng lãnh thổ và 3 cộng đồng ngôn ngữ. Đây cũng là đặc điểm chính trị nổi bật ở Bỉ, gây tác động không ít đến sự phát triển kinh tế và tình hình chính trị.
Sau ba lần cải cách Hiến pháp vào các năm 1970,1980 và 1988, ngày 1-1-1989 là mốc quan trọng trong lịch sử nước Bỉ: Từ một quốc gia tập quyền, Bỉ trở thành một Nhà nước Liên bang với 3 vùng lãnh thổ: Flandre, Wallonie và Bruxelles - Thủ đô và 3 cộng đồng ngôn ngữ: tiếng Hà Lan, tiếng Pháp và tiếng Đức (trên thực tế, tồn tại 4 khu vực ngôn ngữ, khu vực tiếng Pháp, khu vực tiếng Hà Lan, khu vực Thủ đô Bruxelles nói hai thứ tiếng Pháp và Hà Lan, khu vực tiếng Đức). Mỗi Vùng và Cộng đồng ngôn ngữ đều có Chính phủ và cơ quan hành pháp riêng.
- Vua là nguyên thủ quốc gia có quyền phê chuẩn và ban hành các đạo luật, hoặc chống lại các đạo luật mà quốc hội đã thông qua, giải tán quốc hội hoặc một trong hai viện của quốc hội, triệu tập các kỳ họp bất thường của Quốc hội, chỉ định và bãi nhiễm các Bộ trưởng, ân xá.
- Chính phủ mới của Bỉ thành lập ngày 30/12/2009, do ông Herman Van Rompuy, nguyên Chủ tịch Quốc hội, làm Thủ tướng. Tham gia Liên minh Chính phủ ngoài Đảng Dân chủ Thiên chúa giáo của Thủ tướng Leterme có các Đảng: Phong trào Cải cách, Người Flammand tự do và dân chủ, Trung tâm Dân chủ nhân văn, Mặt trận Dân chủ những người nói tiếng Pháp. Chính phủ mới có 22 thành viên gồm Thủ tướng, 5 Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng, 9 Bộ trưởng và 7 Quốc Vụ khanh, trong đó có 7 nữ, 10 người nói tiếng Flammand và 12 người nói tiếng Pháp. Ông Karel De Gucht thuộc Đảng Người Flammand tự do và dân chủ được đề bạt lên làm Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao. Cựu Thủ tướng Bỉ Yves Leterme đã xin từ chức từ 20/12 và đây là lần thứ 4 ông xin từ chức.
- Quốc hội gồm Thượng viện và Hạ viện, đều có nhiệm kỳ 4 năm. Công dân từ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử, từ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử.
- Thượng viện có 71 ghế, gồm 25 ghế do cử tri đoàn cộng đồng tiếng Hà Lan bầu, 15 ghế do cử tri đoàn cộng đồng tiếng Pháp bầu, 10 ghế do Hội đồng cộng đồng tiếng Hà Lan chỉ định, 10 ghế do Hội đồng cộng đồng tiếng Pháp chỉ định, 1 ghế do Hội đồng tiếng Đức chỉ định, các ghế còn lại được chỉ định theo quy định của Hiến pháp. (Hội đồng ở đây được hiểu là Cơ quan lập pháp của các Cộng đồng ngôn ngữ).
- Hạ viện gồm 150 ghế được bầu theo hình thức phổ thông đầu phiếu. Hạ viện có thực lực hơn Thượng viện.
III/ Kinh tế:
Bỉ là một trong những nước tư bản phát triển ở Tây Âu, là một trong những nước đứng đầu thế giới về sản xuất gang thép (10 triệu tấn/năm), đứng thứ 11 thế giới về xuất khẩu (chiếm 3,2 % xuất khẩu thế giới), đứng thứ nhất thế giới về kim ngạch xuất khẩu tính theo đầu người và tính theo GDP, tuy nhiên phần lớn buôn bán là trong nội bộ khối EU. Bỉ có nhiều ngành tiên tiến, có khả năng cạnh tranh trong Liên minh Châu Âu và trên thế giới, giao thông phát triển, khoa học kỹ thuật tiên tiến.
Về khoáng sản, các tài nguyên khoáng sản như sắt, chì, kẽm, măng gan của Bỉ trữ lượng không lớn. Bỉ chỉ có nhiều than đá, các mỏ than lớn là Borinage, Centre Charleroi, Basse-Sambre, Liège, Pays d’Horver, Vùng Campine. Các mỏ này khai thác đã lâu, nay đã cạn nhiều. Các khoáng sản khác, Bỉ nhập khẩu, chế biến rồi xuất khẩu.
Điểm mạnh cơ bản của kinh tế Bỉ là có một số ngành truyền thống phát triển đến trình độ tiên tiến như luyện kim (có từ thế kỷ 12), chế tạo cơ khí, hoá chất, dệt, thuỷ tinh, đầu máy xe lửa, điện, lọc dầu, vận tải biển. Ngoài ra, Bỉ còn có hệ thống đường bộ, đường không, hải cảng phát triển cao. Về công nghệ, Bỉ có một số mặt mạnh như công nghệ môi trường, tin học ứng dụng.
Điểm yếu cơ bản của kinh tế Bỉ là nghèo tài nguyên. Các mỏ sắt, chì, kẽm, măngan trữ lượng nhỏ. Bỉ phải nhập khẩu tới 80% nguyên nhiên liệu, do đó kinh tế Bỉ phụ thuộc phần lớn vào nguồn cung cấp nguyên liệu từ bên ngoài.
Các thị trường xuất khẩu của Bỉ: Châu Âu 81,32% - Châu á 8,43% - Châu Mỹ 7,29% - Châu Phi 1,86% - Châu Đại dương 0,51% - Còn lại 0,6%.
Bỉ nhập khẩu từ: Châu Âu 75,13% - Châu á 11,58% - Châu Mỹ 9,9% - Châu Phi 2,9% - Châu Đại dương 0,47% - Còn lại 0,01%.
Các mặt hàng xuất khẩu chủ chốt: sản phẩm hoá học và dược phẩm 15,69% - máy móc 15,57% - Vật liệu giao thông vận tải 15,27% - các sản phẩm nhựa 8,02% - Kim loại 7,83%.
Các mặt hàng nhập khẩu: Máy móc 18,25% - Sản phẩm hoá học và dược phẩm 14,47% - Vật liệu giao thông vận tải 13% - Nguyên liệu nhựa 9,59% -Kim loại 6,98%.
IV/ Chính sách đối ngoại:
Bỉ nằm ở trung tâm của Châu Âu: 1100 đại diện tổ chức quốc tế (trong đó có NATO và 6 cơ quan của EU), 600 hãng tin quốc tế, 400 cơ quan đại diện (bên cạnh Bỉ, Cộng đồng Châu Âu, Tổ chức Hải quan quốc tế...), 1700 đại diện của các công ty quốc tế và Châu Âu.
Ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Bỉ là quan hệ trong Liên minh châu Âu, với Mỹ và NATO. Do tính chất liên hiệp của chính phủ hiện nay, nên mức độ đồng tình ủng hộ chính sách của Mỹ có khác nhau trong nội bộ Chính phủ. Bỉ ủng hộ Mỹ trong quan hệ với các cường quốc và giải quyết những điểm nóng trên thế giới, nhưng không đồng tình với giải pháp chiến tranh cho vấn đề Iraq.
Mặc dù là một nước nhỏ trong Liên minh Châu Âu nhưng Bỉ có vai trò quan trọng trong quá trình nhất thể hoá Châu Âu. Là một trong những nước thành viên sáng lập các thể chế đầu tiên của Liên minh Châu Âu ngày nay, Bỉ luôn đi tiên phong trong quá trình này và chủ trương xây dựng một Liên minh Châu Âu mạnh và nhất thể hoá sâu hơn : Mở rộng các lĩnh vực thuộc thẩm quyền cộng đồng (trụ cột thứ nhất- communautaire), trao cho Liên minh tư cách pháp nhân, tăng cường vai trò của Nghị viện Châu Âu để Nghị viện này trở thành cơ quan lập pháp thực sự kể cả trong lĩnh vực chi tiêu ngân sách, bầu Chủ tịch UB Châu Âu cùng với bầu cử Nghị viện Châu Âu, sử dụng rộng rãi hơn hình thức bỏ phiếu theo đa số đủ (majorité qualifiée) và giảm bớt việc bỏ phiếu theo nguyên tắc nhất trí ( unanimité).
Đối với châu Á: Bỉ coi châu Á là lục địa phồn vinh, là nơi tụ hợp ngày càng nhiều các đối tác quốc tế, có di sản văn hoá phong phú, đa dạng, với sự hiện diện ngày càng mạnh mẽ trên diễn đàn thế giới và là một đối tác có trách nhiệm trong tất cả các vấn đề của thế giới, từ an ninh, môi trường đến phát triển thịnh vượng và thúc đẩy các giá trị nhân văn. Bỉ mong muốn đẩy mạnh quan hệ kinh tế, thương mại với các nước châu Á vì đó là những đối tác tin cậy, coi trọng quan hệ kinh tế thực chất. Bỉ muốn tận dụng cơ hội địa lý ở trung tâm châu Âu để đóng vai trò trụ cột của tiến trình toàn cầu hoá với tư cách là đầu mối tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất, trang thiết bị để thúc đẩy các hoạt động đầu tư, thương mại, nghiên cứu, du lịch và sáng tạo.
Đối với quan hệ song phương, Bỉ duy trì tương đối đồng đều quan hệ với các nước: tiếp tục duy trì quan hệ tin cậy, truyền thống với Nhật, thấp hơn một ít là với Hàn Quốc và ngày càng coi trọng quan hệ với Trung Quốc, Ấn Độ. Tại khu vực Đông Nam Á, Bỉ nhấn mạnh việc đặt ngang bằng hai vấn đề dân chủ và thịnh vượng trong việc thúc đẩy quan hệ song phương và hiện coi trọng quan hệ với Malaysia, Singapore, Thái Lan, Việt Nam, Indonesia và Philippines. Bỉ đánh giá cao sự phát triển kinh tế của Việt Nam và tự hào là một đối tác quốc tế đã ủng hộ và đóng góp vào sự thành công này của Việt Nam qua chương trình hợp tác phát triển.
Bỉ bắt đầu viện trợ phát triển từ những năm 1960, chủ yếu cho các nước thuộc địa cũ tại Châu Phi. Theo OECD, hiện nay Bỉ đứng thứ 14 trong số các nước viện trợ cho các nước đang phát triển và đứng thứ 8 về tỷ lệ GDP cho viện trợ. Từ 1999 đến nay, Bỉ đã hai lần giảm số nước nhận viện trợ, lần đầu từ 60 xuống còn 25 nước, lần thứ hai chỉ còn 18 nước. Đối với Châu Phi, Bỉ gắn viện trợ với dân chủ, nhân quyền và di trú. Trên diễn đàn đa phương, Bỉ coi trọng và tham gia tích cực tiến trình ASEM (Bỉ sẽ tổ chức ASEM 2010, với tư cách lúc đó sẽ là Chủ tịch EU), ủng hộ đối thoại EU – ASEAN và giúp đỡ ASEAN. Đối với Bỉ, ASEAN ngày càng là diễn đàn hiệu quả để giải quyết nhiều vấn đề quốc tế.
TÓM TẮT QUAN HỆ VIỆT NAM – VƯƠNG QUỐC BỈ
---*---
I/ Quan hệ chính trị:
Việt Nam và Bỉ thiết lập quan hệ Ngoại giao ngày 22/3/1973. Bỉ mở sứ quán tại Hà Nội tháng 11/1975. Tháng 6/1976, Bỉ cử Đại sứ thường trú tại Hà Nội. Việt Nam mở Đại sứ quán tại Bruxelles tháng 1/1991.
Bỉ có Lãnh sự danh dự tại T.P HCM. Tháng 3/2005, Việt Nam đã khai trương văn phòng Lãnh sự danh dự tại tỉnh Anvers.
Về trao đổi đoàn từ năm 1991 đến nay: Phó Thủ tướng Phan Văn Khải (11/92), Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm (6/92), Thủ tướng Võ Văn Kiệt (6/93), Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh (2/95), Phó Thủ tướng Trần Đức Lương (2/96), Bộ trưởng Kế hoạch-Đầu tư Trần Xuân Giá (3/97), Thủ tướng Phan Văn Khải thăm Bỉ tháng 4/98 và tháng 9/2002, Phó Thủ tướng Vũ Khoan thăm 9/2003, Bộ trưởng Quốc phòng Phạm Văn Trà thăm 11/2003. Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh thăm làm việc tại Bỉ (3/2004), Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An (3/2005), Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thăm làm việc tại Bỉ (9/2006) nhân dịp dự ASEM VI, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Gia Khiêm (9/2008); Phó Chủ tịch Quốc hội Huỳnh Ngọc Sơn (9/2008).
Về phía Bỉ: Bộ trưởng Ngoại giao Willy Claes (5/93), Thủ tướng Jean Luc Dehaene (thăm chính thức 2/96; dự Hội nghị Pháp ngữ cấp cao 7 tại Hà Nội vào tháng 11/97), Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Tài chính và Ngoại thương Ph. Maystadt (12/96), Đoàn Chủ tịch Hạ Nghị viện (9/97), Đoàn Quốc Vụ khanh Hợp tác phát triển Bỉ Eddy Boutmans (2/2000), Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Bỉ Louis Michel (7/2001), Bộ trưởng-Chủ tịch Vùng Flamand Patrick Dewael ( 9/2001), Bộ trưởng Quốc phòng André Flahaut (hai lần vào 1/2002 và 11/2004), Bộ trưởng Nông nghiệp và Ngoại thương Annemie Neyts (5/2002). Bộ trưởng Chủ tịch Vùng Wallonie (10/2002) Van Cauwenberghe, Bộ trưởng-Chủ tịch Uỷ ban cộng đồng tiếng Pháp Vùng Bruxelles-Thủ đô Eric Tomas (11/2002), Bộ trưởng Hợp tác phát triển Marc Verwillghen (12/2003), Bộ trưởng Hợp tác phát triển Armand De Decker thăm chính thức và dự Hội nghị ASEM-5 (10/2004). Thái tử Bỉ Philippe thăm Việt Nam hai lần vào 12/1994 và 10/2003. Tổng tham mưu trưởng quân đội Vương quốc Bỉ, Đại tướng August Van Daele dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao quân đội Bỉ sang thăm hữu nghị chính thức Việt Nam (10/2005). Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng kinh tế Vùng Fla-măng thăm làm việc tại Việt Nam tháng 6/2007. Bộ trưởng Ngoại giao Bỉ Karel De Gucht thăm Việt Nam ngày 12 – 13/6/2008.
- Các Hiệp định đã ký : Hiệp định khung hợp tác kinh tế, công nghiệp và kỹ thuật (10/77), Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư (1/91), Hiệp định tránh đánh thuế trùng (2/96), Hiệp định hợp tác khoa học kỹ thuật (9/2002), Hiệp định xoá nợ đợt I (10/92), Hiệp định xoá nợ đợt II (9/93), Hiệp định xoá nợ đợt III (12/2000), Hiệp định về con nuôi (3/2005), Bản ghi nhớ về các vấn đề di cư (1/2009).
II/ Quan hệ kinh tế:
1/ Viện trợ ODA:
Việt Nam là nước Châu Á duy nhất còn được ưu tiên nhận viện trợ phát triển của Chính phủ Bỉ.
Quan hệ hợp tác phát triển giữa Việt Nam và Vương quốc Bỉ được thực hiện qua rất nhiều nguồn. Ngoài quan hệ hợp tác chính thức với Chính phủ Liên bang của Vương quốc Bỉ, Việt Nam cũng đang nhận được viện trợ không hoàn lại của các cộng đồng, các vùng của Bỉ (Vùng Wallonie, Vùng Thủ đô Brussels và cộng đồng nói tiếng Pháp của Bỉ, Vùng Flander và Cộng đồng nói tiếng Hà Lan) và các tổ chức Bỉ như: VVOB, VLIR, APEFE, NGOs... Theo tính toán, từ năm 1977 đến nay: Bỉ đã cho Việt Nam vay và viện trợ không hoàn lại gần 300 triệu USD (trong đó viện trợ không hoàn lại chiếm khoảng 60%), chia theo các thời kỳ như sau:
- 1977 – 1978: 38 triệu USD (chủ yếu là vay ưu đãi)
- Từ 1994 đến nay: khoảng 210 triệu euro (tương đương với khoảng 270 triệu USD), trong đó:
+ Viện trợ không hoàn lại trong khuôn khổ song phương: 106 triệu euro (1994 – 1995: 10 triệu euro, 1996 – 1998: 15 triệu euro, 2001 – 2003: 30 triệu euro, 2004 – 2005: 19 triệu euro, 2006: 20,7 triệu đôla Mỹ, 2007 – 2010: 32 triệu euro).
+ Viện trợ thông qua hợp tác vùng và NGOs, các trường đại học...: 20 triệu euro.
+ Vay ưu đãi: 85 triệu euro.
Các lĩnh vực hợp tác chủ yếu là phát triển nông thôn - nông nghiệp, giáo dục đào tạo, y tế, môi trường. Viện trợ của Bỉ cho Việt Nam giai đoạn 2007-2010 ưu tiên cho phát triển nguồn nhân lực, quản lý nguồn nước, bảo vệ môi trường, cải thiện điều kiện sức khoẻ và nâng cao chất lượng cuộc sống. Bỉ hứa sẽ giúp Việt Nam giới thiệu mô hình hợp tác Bắc-Nam-Nam và giúp Việt Nam trong các vấn đề nhân đạo. Các dự án hợp tác do Bỉ tài trợ có quy mô vừa phải, phù hợp với khả năng tiếp nhận của các địa phương và tương đối hiệu quả, góp phần tích cực vào công cuộc phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo và tăng cường năng lực tại các điạ phương và lĩnh vực có dự án.
2/ Đầu tư:
Việt Nam và Bỉ ký Hiệp định Khuyến khích và bảo hộ đầu tư ngày 24/1/1991.
- Đầu tư (FDI) của Bỉ vào Việt Nam: Bỉ có nhiều thế mạnh về luyện kim, hoá chất, lọc dầu, cảng biển… Tuy nhiên, quan hệ đầu tư khá khiêm tốn. Hiện Bỉ có 31 dự án với tổng số vốn đầu tư là 83,6 triệu USD, đứng thứ 34/81 nước và vùng lãnh thổ có FDI vào Việt Nam. Vốn đầu tư thực hiện 61 triệu USD. FDI của Bỉ chủ yếu vào các lĩnh vực công nghiệp (58% số dự án và 71,6% tổng vốn đầu tư của Bỉ). Các dự án chủ yếu là 100% vốn (21 dự án với tổng vốn là 74,8 triệu USD) với quy mô tương đối nhỏ (trung bình 2,7 triệu USD/dự án so với mức trung bình cả nước là 10,5 triệu USD/dự án). Hiện Bỉ có 3 dự án có vốn đầu tư trên 10 triệu USD là: (i) Chè Phú Bền 13 triệu USD của 2 công ty Sea holding và SA Sipef; (ii) Cấp nước Đình Vũ (19 triệu USD của Việt kiều đầu tư tại Bình Thuận).
- Đầu tư của Việt Nam sang Bỉ: Hiện Việt Nam mới có 1 dự án là Trung tâm xúc tiến thương mại tại Brussels có tổng vốn là 153.000 USD.
3/ Thương mại:
Bỉ là thị trường xuất khẩu có tiềm năng của Việt Nam tại khu vực EU. Xuất khẩu của Việt Nam vào Bỉ tăng khá nhanh trong mấy năm vừa qua, đã vượt Italia và trở thành thị trường xuất khẩu lớn thứ 5 của Việt Nam trong EU (sau Đức, Anh, Hà Lan và Pháp) và với nhịp độ tăng trưởng xuất khẩu của ta vào Bỉ trong năm 2008, Bỉ có thể sẽ vượt Pháp để trở thành thị trường xuất khẩu lớn thứ 4 của Việt Nam trong các nước EU.
Kim ngạch thương mại hai chiều năm tăng 15% trong 5 năm qua, 2007 đạt 1,16 tỷ USD, trong đó Việt Nam xuất khẩu 849 triệu USD (tăng 23% so với 2006) và nhập khẩu từ Bỉ đạt 312 triệu USD. (Năm 2007 Việt Nam xuất siêu 573 triệu USD). Các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam xếp theo thứ tự từ trên xuống dưới là giầy dép; hàng dệt may; hàng hải sản; túi xách, ví, vali, mũ ô dù; cà phê. Việt Nam nhập khẩu từ Bỉ chủ yếu là máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng, sắt thép các loại, sản phẩm hoá chất, tân dược, chất dẻo nguyên liệu, hoá chất, thức ăn gia súc.
Đến hết tháng 10/2008, kim ngạch xuất nhập khẩu Việt – Bỉ đạt trên 1,1 tỷ USD, tăng 25% so với năm 2007, trong đó Việt Nam xuất sang Bỉ đạt 811,952 triệu USD (giầy dép: 243,720 triệu USD, cà phê: 96,474 triệu USD, dệt may; hàng hải sản; túi xách, ví, vali, mũ, ô dù), nhập khẩu từ Bỉ tính đến tháng 10/2008 đạt 305,325 triệu USD, trong đó các mặt hàng có giá trị lớn nhất là máy móc, thiết bị; sắt thép các loại; hoá chất, chất dẻo nguyên liệu, thức ăn gia súc, tân dược)…
Hiện nay tại Việt Nam có gần 90 Văn phòng đại diện, Chi nhánh, Liên doanh của Bỉ trong đó riêng vùng Flamande có 66 đơn vị. Năm 2007 có thêm 11 doanh nghiệp mới của vùng Wallonie có mặt tại Việt Nam. Tháng 5/2007, nhân chuyến thăm và làm việc tại Việt Nam, bà Phó Thủ tướng phụ trách kinh tế vùng Flamande, Fientje Moerman, đã khai trương Văn phòng đại diện kinh tế vùng tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Công tác xúc tiến thương mại giữa hai nước được hai bên quan tâm và phát triển cả về số lượng đoàn tham gia và các lĩnh vực trao đổi. Quan hệ giữa các tổ chức kinh tế trung ương, địa phương, ngành của Việt Nam với 3 vùng Wallonie – Flamande – Bruxelles Capital ngày càng chặt chẽ.
Tháng 9/2006, Việt Nam đã tổ chức “Những ngày văn hoá Việt Nam tại Bỉ” với nhiều hoạt động xúc tiến thương mại, đầu tư, quảng bá du lịch…
III/ Khoa học – kỹ thuật:
Tháng 9/2002, Việt Nam và Chính phủ Liên bang của Bỉ ký Hiệp định hợp tác Khoa học, công nghệ. Ngày 13-14/10/2003, khóa họp lần thứ nhất Uỷ ban hỗn hợp Việt - Bỉ về hợp tác KH&CN đã diễn ra tại Hà Nội, nhất trí danh sách 4 dự án hợp tác trong 2 năm. Việt Nam - Bỉ. Hợp tác khoa học-kỹ thuật giữa hai nước tập trung trong các lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất ác-tê-mi-a, công nghệ sinh học (phục vụ sản xuất dược liệu nguồn gốc thiên nhiên) và công nghệ vũ trụ. Kỳ họp thứ 3 UBHH Việt-Bỉ về KHCN dự kiến sẽ diễn ra tháng 3/2009.
IV/ Giáo dục – Đào tạo:
Hợp tác theo đường Chính phủ liên bang: 2 dự án là Hỗ trợ học từ xa và dự án Đào tạo giáo viên các trường THSP 7 tỉnh miền núi phía Bắc. Số lượng sinh viên nhận học bổng của Bỉ ngày càng tăng, nhất là trong các lĩnh vực Bỉ có thế mạnh như cầu cảng, môi trường, du lịch…
Hợp tác với cộng đồng người Bỉ nói tiếng Pháp: các dự án về ngôn ngữ, nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học, đào tạo nhân lực, tập trung ở các trường : Đại học Ngoại ngữ, Bách khoa Hà nội, Kinh tế quốc dân, Đại học mở bán công T.P Hồ Chí Minh, Đại học luật T.P Hồ Chí Minh và Chương trình giảng dậy tiếng Pháp và bằng tiếng Pháp tại các trường từ tiểu học đến phổ thông ở Việt Nam.
Hợp tác giữa các trường đại học: 3 dự án tại Đại học Bách khoa Hà Nội và Đại học Cần Thơ (hợp tác với Hội đồng các đại học liên kết phía Bắc Bỉ - VLIR) và Trường Đại học Nông nghiệp I (hợp tác với Đại học Gembloux).
Từ năm 2002, Chính phủ Bỉ đã khôi phục lại chương trình cấp học bổng đào tạo sau đại học cho Việt Nam. Hiện nay trung bình mỗi năm Bỉ cấp 40 suất học bổng đào tạo sau đại học tại Bỉ và 50 suất đào tạo thạc sĩ tại Việt Nam và Thái Lan. Bỉ còn tài trợ thêm 18.000 USD/năm cho một số sinh viên làm thạc sĩ trong nước.
Hiệp định hợp tác giữa Việt Nam và Bỉ về dự án “Quỹ hỗ trợ và đào tạo Việt - Bỉ” được ký ngày 14/7/2006 tại Hà Nội, theo đó Bỉ sẽ viện trợ không hoàn lại 500.000 euro cho hoạt động của Quỹ, với mục đích giúp Việt Nam xoá đói giảm nghèo, tăng trưởng kinh tế, xã hội.
V/ Văn hoá:
Bỉ và Việt Nam thường xuyên trao đổi các đoàn nghệ thuật, tổ chức triển lãm, tuần lễ phim. Tháng 9/2001, Việt Nam đã tổ chức thành công tuần lễ văn hoá Việt Nam tại Bỉ. Từ tháng 9/2003 đã diễn ra cuộc triển lãm "Việt Nam - quá khứ và đương đại" (bảo tàng của Bỉ mượn hiện vật của Việt Nam, dự kiến kéo dài 6 tháng). Tháng 9/2006, Những ngày văn hoá Việt Nam tại Bỉ đã được tổ chức chu đáo, trọng thể rất nhiều hoạt động văn hoá, thương mại quảng bá cho Việt Nam.
VI/ Hợp tác quốc phòng:
Bộ trưởng Quốc phòng Bỉ André Flahaut đã thăm chính thức Việt Nam hai lần vào 1/2002 và 11/2004. Hợp tác Quốc phòng giữa hai nước diễn ra trên các lĩnh vực: xử lý bom mìn, quân y, khoa học kỹ thuật quân sự, trao đổi và đào tạo học viên quân sự. Tháng 11/2003, Bộ trưởng Quốc phòng Phạm Văn Trà đã sang thăm Bỉ. Nhân dịp này, hai bên đã ký Thỏa thuận khung về mối quan hệ và hợp tác giữa hai Bộ Quốc phòng (trao đổi các đoàn quân sự, trao đổi thông tin liên quan đến chính sách quốc phòng, giúp đào tạo, huấn luyện quân sự và thể thao quân sự, hợp tác quân y. Ta đã cử Tùy viên Quốc phòng tại Pháp kiêm nhiệm Bỉ.
Tháng 02/2009
|
|
|
Các tin liên quan: |
|
