Trang chủ     Đăng ký nhận tin    Ý kiến bạn đọc   Liên kết website English 
Thư tư, ngày 19 tháng 11 năm 2008 Tìm kiếm
 Tìm kiếm nâng cao

TỔ CHỨC SỞ HỮU TRÍ TUỆ THẾ GIỚI

(World Intellectual Property Organization - WIPO) Trang web chính thức: www.wipo.int

I. QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP:
1. Nguồn gốc:
Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) được chính thức thành lập ngày 14/7/1967 khi Công Stockhom được thông qua. Năm 1974, WIPO trở thành tổ chức chuyên môn của Liên hợp quốc. Trụ sở của WIPO đóng tại Giơ-ne-vơ, Thụy Sĩ.
2. Thành viên của WIPO:
Công ước thành lập WIPO tuyên bố quyền tham gia sẽ được dành cho mọi quốc gia là thành viên LHQ - tức là chỉ có quốc gia mới có thể trở thành thành viên WIPO. Quốc gia muốn gia nhập gửi Đơn xin gia nhập tới TGĐ WIPO tại Giơ-ne-vơ. Riêng các nước thành viên Công ước Paris và Công ước Bern chỉ có thể trở thành thành viên WIPO nếu họ đã ký kết/phê chuẩn hoặc gia nhập ít nhất là các điều khoản hành chính của Văn kiện Stockhôm (1967) của Công ước Paris hoặc văn kiện Paris (1971) của Công ước Bern. Hiện nay WIPO có 179 nước thành viên.
  3. Sứ mệnh và hoạt động:
WIPO hoạt động nhằm khuyến khích, thúc đẩy  hợp tác quốc tế trong các hoạt động sáng tạo trí tuệ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển giao công nghệ liên quan đến sở hữu công nghiệp vào các nước đang phát triển nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa của các quốc gia đó.
4. Cơ cấu tổ chức:
Đứng đầu WIPO là 1 Tổng Giám đốc (TGĐ). Giúp việc TGĐ là các Phó TGĐ và Ban thư ký. Về cơ cấu, theo Công ước thành lập WIPO, tổ chức này gồm 4 cơ quan chính là Đại hội đồng, Hội nghị, Ủy ban điều phối, Văn phòng Quốc tế (Ban thư ký).  Đại hội đồng (ĐHĐ) là cơ quan quyền lực cao nhất của WIPO. ĐHĐ  bổ nhiệm TGĐ trên cơ sở đề nghị của UB điều phối. ĐHĐ họp một lần/năm (thường vào cuối tháng 9 hàng năm) xem xét và thông qua các Báo cáo của UB điều phối, của TGĐ WIPO, thông qua ngân sách tài chính của tổ chức, thông qua các biện pháp do TGĐ đề ra . TGĐ đứng đầu Ban Thư ký, Ban này  bao gồm các nhân viên được WIPO tuyển chọn trên cơ sở chuyên môn có tính tới yếu tố hợp lý về địa lý. Trong thời gian họp Đại hội đồng WIPO, theo thông lệ, sẽ diễn ra song song các cuộc họp thường kỳ của các nước tham gia các Điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ do WIPO quản lý (thường gọi là cuộc họp của Hiệp hội như Hiệp hội Paris, Hiệp hội Berne, Hiệp hội Madrid vv...)
 5. Một số nét về sở hữu trí tuệ (SHTT):
Quyền sở hữu trí tuệ bao gồm: Quyền sở hữu công nghiệp, Quyền tác giả và Quyền đối với giống cây trồng. Hoạt động của WIPO rất phong phú, đa dạng. Ngoài Công ước thành lập, WIPO còn quản lý 22 Điều ước quốc tế về Sở hữu trí tuệ, trong đó có 16 Điều ước về Sở hữu công nghiệp và 6 Điều ước về Quyền tác giả. Ví dụ: Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp; Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật; Thoả ước Madrid về chống xuất sứ sai nguồn gốc hàng hoá; Hiệp định hợp tác về bằng sáng chế v.v...
Trên trường quốc tế, vị trí của WIPO đã có những thay đổi lớn so với khi mới thành lập: ngoài việc duy trì chức năng quản lý các Điều ước/Hiệp định được ký kết giữa các quốc gia, WIPO đẩy mạnh việc hợp tác liên chính phủ trong quản lý hoạt động sở hữu trí tuệ, song song với việc mở rộng và đa dạng hóa các loại hình hoạt động. Một ví dụ nổi bật là sự gia tăng các hoạt động đăng ký vào các Hiệp ước: Bằng Sáng chế (PCT), Thỏa ước Mađrit và Nghị định thư về Đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa, Hiệp ước La Hay về đăng ký quốc tế Kiểu dáng Công nghiệp v.v… WIPO cũng không dừng ở việc thúc đẩy các đối tượng bảo hộ SHTT, mà đang ngày càng tham gia vào việc giúp đỡ các nước đang phát triển trong việc soạn thảo xây dựng và thực thi pháp luật, trong việc thiết lập cơ cấu hành chính và thiết chế phù hợp, và trong việc giúp đào tạo nguồn nhân lực.
Ngày nay, WIPO thực hiện việc tiếp cận toàn cầu không chỉ đối với vấn để SHTT, mà cả với vai trò SHTT trong khuôn khổ rộng lớn hơn với các vấn đề mới nổi như tri thức truyền thông, văn hóa dân gian, đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường. Thông qua mạng thông tin SHTT toàn cầu (WIPONET), WIPO góp phần nâng cao đáng kể sự hiểu biết của nhân dân về sơ hữu trí tuệ, về nhu cầu cổ vũ và bảo hộ sở hữu trí tuệ.

II. QUAN HỆ VIỆT NAM - WIPO
Việt Nam tham gia WIPO ngày 02 tháng 6 năm 1976 khi phê chuẩn Công ước thành lập WIPO. Trong các Điều ước quốc tế về SHTT do WIPO quản lý, đến nay Việt Nam đã tham gia:
- Hiệp định hợp tác bằng sáng chế;
- Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp: Công ước này áp dụng cho sở hữu công nghiệp theo nghĩa bao gồm sáng chế, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, mẫu hữu ích, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý (chỉ dẫn nguồn gốc và tên gọi xuất xứ) và chống cạnh tranh không lành mạnh;
- Thoả ước và Nghị định thư Madrit về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hoá.
Trong quá trình hội nhập và gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Việt Nam đang xem xét tham gia các Điều ước quốc tế sau về SHTT:
- Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS);
- Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học và nghệ thuật;
- Công ước Geneva về bảo hộ người ghi âm, chống sao chép trái phép bản ghi âm;
- Công ước Brusels về phân phối tín hiệu mang chương trình truyền qua vệ tinh;
- Công ước Rome về bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm và tổ chức phát sóng;
- Công ước quốc tế về bảo hộ giống cây trồng mới.
Là thành viên của WIPO, hàng năm Việt Nam đều cử đại biểu tham dự các cuộc họp quan trọng và các hội thảo, hội nghị do WIPO tổ chức (riêng năm 2005, ta đã cử 22 lựot cán bộ dự các Hội nghị hội thảo nói trên. Đồng thời, WIPO đã cử nhiều cán bộ, chuyên gia sang giúp Việt Nam đào tạo cán bộ về các lĩnh vực chuyên môn như Kiểu dáng công nghiệp, Patent, Sáng chế vv... WIPO đã cung cấp trang thiết bị và tài liệu cho Cục SHTT trong khuôn khổ dự án PCT-ROAD phục vụ nhu cầu chuyển đơn đăng ký quốc tế theo PCT qua mạng Internet cho văn phòng Quốc tế của WIPO.
Nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp và cá nhân Việt Nam đăng ký quốc tế nhãn hiệu ra nước ngoài cũng như người nước ngoài đăng ký vào Việt Nam, năm 2006, Chính phủ Việt Nam đã phê chuẩn việc tham gia Nghị định thư Mađrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa.

III. HỢP TÁC QUỐC TẾ LIÊN QUAN ĐẾN SHTT:
Trong những năm qua, Việt nam đã duy trì và gia tăng các hoạt động HTQT về STTT trong khuôn khổ song phương và đa phương. Các hoạt động này đã và đang mang lại những kết quả tích cực. Cụ thể:
1. Hợp tác với Nhật Bản:
Trong khuôn khổ dự án “Hiện đại hóa quản trị Đơn sở hữu công nghiệp (IPAS) Chính phủ Nhật Bản tài trợ, các hoạt động cơ bản về chuyên môn, nghiệp vụ liên quan đến xử lý Đơn sở hữu công nghiệp của Cục Sở hữu Trí tuệ (thuộc Bộ KH-CN) đã được đẩy nhanh tiến độ, tiết kiệm đáng kể nguồn nhân lực. Đội ngũ cán bộ được đào tạo cơ bản thành các chuyên gia đủ năng lực tiếp quản và vận hành hệ thống IPAS và công nghệ được chuyển giao. Cục Sở hữu Trí tuệ và cơ quan Sáng chế Nhật bản đã ký Thỏa thuận hợp tác trao đổi kết quả xét nghiệm kiểu dáng công nghiệp. Trong năm 2005, Cục SHTT đã triển khai các nội dung về SHTT trong “Sáng kiến chung Việt Nam-Nhật Bản” nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, tăng cường sự cạnh tranh của Việt Nam.
2. Hợp tác với Liên minh Châu Âu:
Dự án Hợp tác EC-Việt Nam do Liên minh Châu Âu tài trợ trong Khuôn khổ Chương trình hợp tác EC-ASEAN về SHTT (ESCAP I và II) nhằm mục tiêu giúp Việt nam xây dựng và hoàn thiện hệ thông pháp luật về SHTT; đồng thời giúp đào tạo nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm việc trong lĩnh vực SHTT. ESCAP II được triển khai trong 2 năm 2005-2006 đã giúp tổ chức gần 40 cán bộ Việt Nam đi khảo sát tại Châu Âu. Ngoài ra, Chương trình hợp tác ESCAP I và II đã cung cấp thiết bị cho Cục SHTT và Sở Khao học Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh, cung cấp sách và tài liệu chuyên môn cho Thư viện Cục SHTT, và giúp đánh giá thực trạng về đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác thực thi quyền sở hữu trí tuệ.
3.  Hợp tác với Thụy Sĩ:
Trong Khuôn khổ về bảo hộ SHTT và hợp tác trong lĩnh vực SHTT Việt Nam-Thụy Sĩ, Chính phủ Thụy Sĩ đã tài trợ cho Việt Nam “Chương trình Hợp tác Đặc biệt Việt Nam-Thụy Sĩ về SHTT” gọi tắt là SPC. Mục tiêu của SPC là giúp Việt Nam nâng cao năng lực của hệ thống SHTT. Cho đến nay, thụy Sĩ đã 9 đoàn gồm 104 cán bộ Việt Nam đi tham quan học tập kinh nghiệm tại Thụy Sĩ. SPC cũng hỗ trợ 12 Hội thảo và khóa đào tạo về các chủ đề SHTT. Chương trình SPC đã giúp 1 số địa phương xây dựng và bảo hộ chỉ dẫn địa lý, cụ thể là giúp xây dựng và bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho Bưởi Đoan Hùng (tỉnh Phú Thọ) và sản phẩm Hoa Hồi (tỉnh Lạng Sơn). Chương trình này được gia hạn đến  31/12/2006.
4. Hợp tác với Cơ quan Sáng chế Châu Âu (EPO):
Đến nay, EPO giúp khoảng 110 lượt cán bộ của Việt Nam dự các Hội nghị, Hội thảo khoa học về Sáng chế và SHTT. Tháng 7/2005, Phó Giám đốc EPO đã sang Việt nam làm việc với Cục SHTT và Bộ KHCNMT  về phương hướng hợp tác với Việt nam trong thời gian tới. Hiện nay hai bên đang chuẩn bị ký kết  bản Ghi nhớ Hợp tác (MOU)

5. Hợp tác với Mỹ:
Trong qúa trình soạn thảo Luật SHTT, Việt Nam đã nhận được nhiều ý kiến đóng góp của phía Mỹ. Đặc biệt, Mỹ đã tài trợ cho một đoàn cán bộ Việt Nam sang Washington để trao đổi ý kiến và quan điểm liên quan đến nội dung cụ thể trong Dự thảo Luật SHTT của Việt Nam. Thời gian qua, Cơ quan Sáng chế và Nhãn hiệu Hoa Kỳ (USPTO) đã tiếp nhận một số cán bộ Việt nam sang dự các khóa đào tạo về SHTT. Tháng 4/2005, Cục SHTT đã phối hợp với Đại sứ quán Mỹ tổ chức Hội thảo về thực hiện quyền SHTT. Hiện nay, USPTO thường xuyên cung cấp cho Cục SHTT các thông tin về bằng sáng chế và nhãn hiệu do cơ quan này công bố.
6. Hợp tác với các đối tác khác:
Ngoài các đối tác trên, những năm qua, Việt nam đã duy trì quan hệ hợp tác với các nước khác như Pháp, Hàn Quốc, Thái Lan, Úc vv.
Hiện nay Việt Nam đang chuẩn bị cho việc gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Trong qúa trình đó, SHTT là lĩnh vực hết sức quan trọng. Chỉ riêng năm 2005, Việt Nam đã tiến hành đàm phán về SHTT tại các phiên thứ 9 và thứ 10 (đa phương) và tại các cuộc đàm phán với EU, Mỹ, Mê-hi-cô (song phương) vv... Việt Nam cũng đã và đang tích cực tham gia các hoạt động hợp tác về SHTT trong APEC, ASEAN nhằm trao đổi thông tin, đối thoại, đào tạo cán bộ, phát triển nguồn nhân lực. Có thể khẳng định quan hệ hợp tác Việt Nam với WIPO và các đối tác nêu trên đã giúp Việt Nam bước đầu đáp ứng yêu cầu về SHTT trong hội nhập kinh tế, giúp Việt nam khẳng định vị thế của mình trong các diễn đàn hợp tác đa phương và các mối quan hệ song phương./.

********************

(tháng 7/2007)

 

 
Quay lại Đầu trang In trang Gửi mail

Bản quyền của Vụ Thông Tin Báo Chí - Bộ Ngoại Giao
© Copyright by Press and Information Department - Vietnam Ministry of Foreign Affairs
Email: Banbientap@mofa.gov.vn