Trang chủ     Đăng ký nhận tin    Ý kiến bạn đọc   Liên kết website English 
Thứ sáu, ngày 19 tháng 12 năm 2014 Tìm kiếm
 Tìm kiếm nâng cao

QUỸ DÂN SỐ LIÊN HỢP QUỐC

(United Nations Population Fund - UNFPA) Trang web chính thức: www.unfpa.org

I. TỔ CHỨC – TÔN CHỈ, MỤC ĐÍCH:
1. Tổ chức:
Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) bắt đầu các hoạt động từ năm 1969 và lúc đầu được đặt dưới sự quản lý của Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP). Năm 1971, Đại hội đồng Liên hợp quốc giao cho UNFPA đóng vai trò chính trong việc thúc đẩy các hoạt động về dân số và một năm sau (năm 1972), do sự phát triển về nguồn vốn và phạm vi hoạt động, UNFPA được đặt dưới sự điều hành trực tiếp của Đại hội đồng Liên hợp quốc, nâng vị trí của UNFPA lên ngang với Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) và UNDP.
Các nước thành viên của Liên hợp quốc đều được coi là thành viên của UNFPA. Đứng đầu UNFPA là Giám đốc chấp hành, hiện nay là bà Thoraya Obaid, quốc tịch A-rập Xau-đi. Cơ quan điều hành UNFPA là Hội đồng chấp hành, gồm 36 nước thành viên. Các thành viên Hội đồng chấp hành UNFPA cũng đồng thời là thành viên  Hội đồng chấp hành UNDP. Hội đồng chấp hành UNDP/UNFPA chịu sự chỉ đạo về mặt chính sách của Đại hội đồng LHQ và Uỷ ban Kinh tế Xã hội LHQ (ECOSOC).
Trụ sở chính của UNFPA đặt tại thành phố Niu Oóc (Mỹ). UNFPA có Văn phòng Đại diện tại Việt Nam, do Đại diện thường trú UNFPA đứng đầu.
2.         Tôn chỉ và mục đích của UNFPA:
*/ Trợ giúp các nước đang phát triển thông qua việc cung cấp các dịch vụ có chất lượng trong sức khoẻ sinh sản và kế hoạch hoá gia đình trên cơ sở sự lựa chọn của cá nhân; Hỗ trợ việc xây dựng các chính sách dân số phục vụ phát triển bền vững.
*/ Thúc đẩy việc thực hiện chiến lược dân số do Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển thông qua năm 1994 (ICPD) và được kiểm điểm tại Khoá họp đặc biệt của Đại hội đồng LHQ năm 1999 (ICPD + 5). Chiến lược này không chỉ hướng vào các chỉ tiêu nhân khẩu học mà còn coi trọng yêu cầu nâng cao năng lực của phụ nữ, đưa lại cho phụ nữ nhiều sự lựa chọn hơn thông qua tăng cường tiếp cận với giáo dục, các dịch vụ sức khoẻ và các cơ hội việc làm.
*/ Thúc đẩy sự hợp tác và điều phối giữa các tổ chức Liên hợp quốc, các tổ chức song phương, các Chính phủ, các tổ chức phi chính phủ (NGOs) và khu vực tư nhân trong việc giải quyết các vấn đề về dân số và phát triển, sức khoẻ sinh sản, bình đẳng giới và nâng cao năng lực phụ nữ.

II. CÁC HÌNH THỨC HỖ TRỢ CỦA UNFPA:
Hỗ trợ của UNFPA mang tính hỗ trợ kỹ thuật thông qua các chương trình, dự án viện trợ được xây dựng với sự phối hợp của Chính phủ nước nhận viện trợ. Từ khi bắt đầu hoạt động năm 1969, Quỹ Dân số đã cung cấp 5 tỉ đô la viện trợ cho các nước đang phát triển. Viện trợ của UNFPA tập trung vào 3 lĩnh vực chương trình chính sau:
1. Sức khoẻ sinh sản:
UNFPA hỗ trợ việc cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản bao gồm việc đưa ra nhiều lựa chọn hơn về các biện pháp kế hoạch hoá gia đình và cung cấp thông tin. Theo định nghĩa của UNFPA, chăm sóc sức khoẻ sinh sản bao gồm: kế hoạch hoá gia đình; làm mẹ an toàn; tư vấn và phòng ngừa vô sinh; ngăn ngừa và chữa trị viêm nhiễm đường sinh sản và các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục bao gồm HIV/AIDS;
2. Chiến lược Dân số và Phát triển:
UNFPA giúp các nước xây dựng, thực hiện và đánh giá các chính sách dân số tổng thể như là một phần trọng tâm của các chiến lược phát triển bền vững. Sự hỗ trợ này bao gồm việc thu thập, phân tích số liệu và nghiên cứu về dân số .
3. Thông tin-giáo dục-truyền thông:
 UNFPA thực hiện các hoạt động thông tin-giáo dục-truyền thông về các mục tiêu của Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển (ICPD) và Khoá họp đặc biệt của Đại hội đồng LHQ năm 1999 (ICPD+5) bao gồm : sức khoẻ sinh sản (SKSS) và các quyền về SKSS; nâng cao địa vị của phụ nữ; tăng tuổi thọ; giảm tử vong bà mẹ và trẻ sơ sinh; tăng cường năng lực quốc gia về xây dựng và thực hiện các chiến lược về dân số và phát triển; nâng cao nhận thức và tăng cường các nguồn lực về dân số và phát triển.

III. QUAN HỆ HỢP TÁC VÀ PHÁT TRIỂN GIỮA VIỆT NAM VÀ UNFPA:
UNFPA tiến hành các hoạt động đầu tiên của tổ chức này tại Việt Nam từ năm 1977 và chính thức hỗ trợ Việt Nam từ năm 1978 với Chương trình quốc gia I (1978-1983). Từ đó đến nay, hợp tác giữa Việt Nam và UNFPA tiếp tục phát triển mạnh và phong phú thông qua các Chương trình quốc gia (CTQG).
Chương trình quốc gia được xây dựng dựa trên các ưu tiên của Chính phủ trong lĩnh vực dân số-kế hoạch hoá gia đình. Các Chiến lược quốc gia về Dân số và Sức khoẻ sinh sản giai đoạn 2001-2010 được Chính phủ thông qua cuối năm 2000 là cơ sở cho việc xây dựng chương trình quốc gia 6 (2001-2005) và các CTQG tiếp theo. Chương trình quốc gia cũng cần phù hợp với tôn chỉ mục đích và các ưu tiên hỗ trợ của UNFPA.  Nguồn vốn phân bổ cho CTQG của các nước được Hội đồng chấp hành UNDP/UNFPA thông qua, hay còn gọi là con số dự kiến viện trợ (Indicative Planning Figure), dựa trên các thông số như thu nhập quốc dân và các chỉ số liên quan đến các mục tiêu của ICPD như việc tiếp cận các dịch vụ y tế cơ bản, tỉ lệ chết trẻ sơ sinh,  tỉ lệ chết mẹ, tỉ lệ phụ nữ được đi học, tỉ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai...và các chỉ số về nhân khẩu học. Việt Nam thuộc "loại B" theo cách tính của UNFPA về phân bổ nguồn lực (loại A gồm những nước kém phát triển hơn và có các chỉ số liên quan thấp). Chương trình quốc gia tạo ra một khuôn khổ cho việc bố trí, sắp xếp các lĩnh vực, dự án cụ thể. Các chương trình quốc gia hợp tác với UNFPA từ năm 1978 đến nay gồm:
Chương trình quốc gia CP-I (1978-1983): có tổng số vốn là 15 triệu đôla Mỹ.
Chương trình quốc gia CP-II (1984-1987): có tổng số vốn là 14 triệu đôla Mỹ.
Chương trình quốc gia CP-III (1988-1991): có tổng số vốn là 25 triệu đôla Mỹ.
Chương trình quốc gia CP-IV (1992-1996): có tổng số vốn là 36 triệu đôla Mỹ.
Chương trình quốc gia CP-V (1997-2000): có tổng số vốn là 24 triệu đôla Mỹ.
Chương trình quốc gia CP-VI (2001-2005): có tổng số vốn là 27 triệu đôla Mỹ.
Chương trình quốc gia CP-VII (2006 - 2010): có tổng số vốn là 28 triệu đôla Mỹ (trong đó, cam kết từ quỹ thường xuyên là 20 triệu đôla, cam kết từ quỹ vận động là 8 triệu đôla)
Nội dung của các chương trình quốc gia hợp tác với UNFPA cũng có sự thay đổi qua từng thời kỳ, nhất là sau Hội nghị Dân số và Phát triển tại Cai-rô năm 1994. Nếu các chương trình quốc gia trước thời điểm đó tập trung chủ yếu vào lĩnh vực kế hoạch hoá gia đình thì từ CTQG 5 (1997-2000), chất lượng dân số và vấn đề chăm sóc sức khoẻ sinh sản trở thành những nội dung chính của CTQG 5, 6 và hiện nay là CTQG 7 (2005-2010).
Việt Nam là thành viên Hội đồng chấp hành UNDP/UNFPA từ năm 2000-2002 và là Phó Chủ tịch Hội đồng này trong 2 năm 2000 và 2001.
Việc Việt Nam được trao giải thưởng dân số của Liên hợp quốc năm 1999 là một trong những sự kiện quan trọng và có ý nghĩa nhất trong quan hệ hợp tác Việt Nam - UNFPA trong gần 30 năm qua./.

(tháng 7/2007)

 
Quay lại Đầu trang In trang Gửi mail

Bản quyền của Vụ Thông Tin Báo Chí - Bộ Ngoại Giao
© Copyright by Press and Information Department - Vietnam Ministry of Foreign Affairs
Email: Banbientap@mofa.gov.vn 
Hiển thị tốt nhất với Internet Explorer. Best viewed with Internet Explorer