Trang chủ     Đăng ký nhận tin    Ý kiến bạn đọc   Liên kết website English 
Thứ năm, ngày 17 tháng 04 năm 2014 Tìm kiếm
 Tìm kiếm nâng cao

63 năm ngoại giao đầy ấn tượng

Ngày 28/8/1945 - ngày công bố danh sách Chính phủ lâm thời, Bác Hồ đã thành lập Bộ Ngoại giao Việt Nam. Nhân kỷ niệm ngày không thể nào quên này, ông Nguyễn Mạnh Cầm, nguyên Uỷ viên Bộ Chính trị, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam đã dành cho báo TNVN một cuộc trả lời phỏng vấn đầy ấn tượng

63 năm về trước, ngày 28/8/1945 - ngày công bố danh sách Chính phủ lâm thời, Bác Hồ đã thành lập Bộ Ngoại giao Việt Nam và Người chính là vị Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên của nước ta. Nhân kỷ niệm ngày không thể nào quên này, ông Nguyễn Mạnh Cầm, nguyên Uỷ viên Bộ Chính trị, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam đã dành cho phóng viên TNVN một cuộc trả lời phỏng vấn đầy ấn tượng.

Từ văn kiện ngoại giao đầu tiên của nước Việt Nam mới...

PV: Ông có thể khái quát về lịch sử ngành Ngoại giao Việt Nam?

Nguyễn Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm: Ngành Ngoại giao Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập. Ngành Ngoại giao mới của nước Việt Nam mới ra đời cùng một lúc với Chính phủ Việt Nam lâm thời, tức là ngày 28/8/1945. Bốn ngày sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập tại Quảng trường Ba Đình. Về mặt Ngoại giao mà nói thì đó là một văn kiện ngoại giao rất quan trọng đầu tiên của nước Việt Nam mới. Đó là thông điệp ngoại giao đầu tiên mà chúng ta gửi ra toàn thế giới, trong đó khẳng định “Nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do, độc lập và thật sự đã trở thành một nước tự do, độc lập”. Từ đó đến nay đã trải qua 63 năm.

63 năm đó, ngành Ngoại giao gắn chặt với tất cả mọi giai đoạn phát triển, mọi thăng trầm của đất nước, và đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của dân tộc. Ngày nay, Việt Nam được các nước trên thế giới khâm phục, có quan hệ ngoại giao với 176 nước, quan hệ kinh tế thương mại với trên 120 nước, trong đó khoảng 80 nước và vùng lãnh thổ đầu tư trực tiếp vào nước ta. Qua các giai đoạn đấu tranh và phát triển của đất nước, khi thì Ngoại giao giữ vai trò chính, và quyết định giữ vững nền độc lập, bảo toàn chế độ dân chủ cộng hòa, lúc thì phối hợp với các mặt trận khác để giành thắng lợi. Khi các cuộc chiến đấu của chúng ta giành thắng lợi, ngoại giao đóng vai trò kết thúc chiến tranh, ghi nhận thắng lợi của nhân dân ta bằng những Hiệp định có ý nghĩa quốc tế quan trọng.

Sau khi chúng ta giành được thắng lợi hoàn toàn, nước nhà được độc lập và thống nhất, chưa kịp hàn gắn vết thương chiến tranh rất nặng nề, các lực lượng thù địch lại thực hiện âm mưu thâm độc cô lập nước ta về chính trị, bao vây cấm vận nước ta về kinh tế, gây cho chúng ta rất nhiều khó khăn, chúng ta phải trải qua một cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội kéo dài. Trước tình hình đó, Đảng ta chủ trương tiến hành công cuộc đổi mới, trước hết là đổi mới về kinh tế. Mặt trận ngoại giao phối hợp với mặt trận kinh tế tranh thủ những điều kiện cần thiết cho việc khắc phục những hậu quả của chiến tranh, đưa đất nước thoát ra khỏi sự bao vây, cấm vận của các lực lượng thù địch, và từng bước phát triển. Nhưng cuộc đổi mới về kinh tế tiến hành chưa được bao lâu thì các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu tan rã, Liên Xô sụp đổ; chỗ dựa chính của chúng ta về chính trị, kinh tế, quân sự không còn nữa. Chúng ta phải đối diện với cả thế giới. Trong tình hình như vậy, Đại hội VII của Đảng (tháng 6/1991) đã đưa ra đường lối đối ngoại “độc lập tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa” với phương châm “Việt Nam sẵn sàng là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”. 

Đến những sự kiện ghi dấu ấn

PV: Thưa ông, trong 63 năm qua, có những mốc son thể hiện sự thành công rất rực rỡ của Ngoại giao Việt Nam. Ông có thể kể lại những sự kiện ghi dấu ấn đậm nét của Ngoại giao Việt Nam?

Nguyễn Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm:  Trong mấy chục năm hoạt động, tôi được chứng kiến rất nhiều sự kiện quan trọng và đáng ghi nhớ. Tôi có thể kể vài ba sự kiện sau đây không những để lại cho tôi ấn tượng sâu sắc mà cả niềm tự hào về lãnh tụ, về Đảng ta trong trong hoạt động đối ngoại.

Thứ nhất: Năm 1960 có hội nghị 81 đảng cộng sản và công nhân tại Mátxcơva. Hội nghị tiến hành trong mấy ngày và đã đi đến một bản Tuyên bố cuối cùng rất quan trọng. Nhưng lúc bấy giờ giữa hai đảng lớn là Liên Xô và Trung Quốc có sự bất đồng về quan điểm. Đồng thời giữa hai nước cũng bắt đầu có những trắc trở trong quan hệ. Do đó, sau khi bản Tuyên bố được hoàn thành thì đoàn của Liên Xô do Chủ tịch Khơ-rút-sốp dẫn đầu và đoàn của Trung Quốc do Chủ tịch Lưu Thiếu Kỳ dẫn đầu tuyên bố không ký văn kiện đó. Nếu tuyên bố không được ký thì Hội nghị xem như thất bại. Trong tình hình đó, các đảng rất lo lắng. Cuối cùng họ nghĩ đến đồng chí Hồ Chí Minh, họ quyết định đến gặp Bác Hồ và đề nghị Bác Hồ thuyết phục hai đảng Liên Xô và Trung Quốc. Họ cho rằng chỉ có Bác Hồ mới có thể làm được việc này. Bác nhận lời và ngay hôm đó Bác đã gặp Chủ tịch Khơ-rut-sốp và sáng hôm sau gặp Chủ tịch Lưu Thiếu Kỳ. Sau khi Bác gặp thì hai vị đồng ý ký kết vào bản Tuyên bố. Ngay sau đó Hội nghị họp lại và Tuyên bố được ký kết. Bản Tuyên bố đó rất quan trọng vì đã đưa ra một loạt nguyên tắc làm phương châm chỉ đạo hoạt động của các đảng cộng sản và công nhân lúc bấy giờ. Hội nghị kết thúc trong không khí phấn khởi và lãnh đạo các đảng đến bắt tay cảm ơn Bác. Chứng kiến sự kiện đó, chúng tôi vô cùng tự hào trước sự thừa nhận của các Đảng anh em đối với vai trò đoàn kết quốc tế của Bác và uy tín của Bác trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

Thứ hai: Vào lúc cuộc chiến đấu ở miền Nam đang tiếp diễn và Mỹ đang đẩy mạnh cuộc chiến tranh phá hoại chống lại miền Bắc, tôi được tháp tùng Đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ ta do Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu thăm một số nước anh em để tranh thủ sự viện trợ đối với cuộc chiến đấu của nhân dân ta. Trong cuộc hội đàm với lãnh đạo một nước bạn lớn, giữa lúc hai Đoàn đang trao đổi ý kiến, thì thư ký của vị lãnh đạo chủ chốt của bạn đưa vào một tờ giấy, đó là một tin vừa mới nhận được. Vị lãnh đạo đó sau khi xem xong đọc to cho mọi người nghe, trong đó đại ý nói: hai ngày nữa nếu Việt Nam không chấp nhận đàm phán, Mỹ sẽ đổ bộ lên Hải Phòng và sẽ tiến hành cuộc chiến tranh thôn tính miền Bắc. Sau khi nghe tin đó, đồng chí Phạm Văn Đồng cười ha hả, tiếng cười mà bất cứ ai đã có dịp làm việc với đồng chí, gặp đồng chí đều rất biết, tiếng cười lan tỏa sự thoải mái đến tất cả mọi người có mặt. Cười xong, đồng chí nói một cách dứt khoát: “Không có khả năng”. Rồi đồng chí phân tích tại sao không có khả năng và tại sao bây giờ chúng ta chưa thể đàm phán được. Sau khi nghe trình bày như vậy, chúng tôi thấy lộ trên nét mặt đồng chí lãnh đạo của bạn sự thán phục và đồng tình.

Một sự kiện nữa làm tôi nhớ mãi. Đó là sau khi đưa ra đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế, chúng ta chủ trương thúc đẩy việc bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, cải thiện từng bước quan hệ với Mỹ và tiến tới bình thường hóa quan hệ với Mỹ, mở rộng càng nhanh càng tốt quan hệ với tất cả các nước, các tổ chức khu vực và quốc tế. Sau mấy năm hoạt động chủ động và hết sức tích cực, đến tháng 7/1995, trong một tháng đã diễn ra ba sự kiện rất quan trọng. Ngày 12/7, sau một thời gian bao vây cấm vận chúng ta thất bại, Mỹ đã phải tuyên bố bình thường quan hệ với Việt Nam; Ngày 15/7, ta ký kết với Liên minh châu Âu Hiệp định khung về hợp tác kinh tế thương mại và khoa học kỹ thuật mở đầu cho thời kỳ quan hệ hợp tác nhiều mặt giữa ta và các nước châu Âu, và ngày 27/7, chúng ta trở thành thành viên chính thức của ASEAN. Có thể nói, trong lịch sử hoạt động ngoại giao của nước ta, cũng như ngoại giao các nước, ít khi trong cùng một tháng diễn ra ba sự kiện quan trọng như vậy.

Đưa đất nước hội nhập

PV: Thưa ông, trong 50 năm cống hiến trong ngành Ngoại giao, ông đã giữ nhiều cương vị cấp cao. Vậy, có những lúc nào ông đưa ra những quyết định mang tính cá nhân?

Nguyễn Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm: Nếu nói đóng góp cá nhân, tôi có thể kể một việc sau đây. Khi vấn đề Campuchia được giải quyết, chúng ta đã chủ động và tích cực đẩy nhanh việc cải thiện quan hệ với các nước láng giềng trong khu vực ASEAN. Đồng chí Võ Văn Kiệt lúc đó là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, dẫn đầu đoàn đại biểu Chính phủ ta thực hiện sứ mệnh này. Trong khi Đoàn ta đi thăm, có nước gợi ý Việt Nam tham gia ASEAN, tổ chức khu vực được thành lập tháng 8/1967. Đồng chí Võ Văn Kiệt hỏi: Thế nào? Nên hay không? Tôi suy nghĩ một lát và phát biểu với đồng chí Võ Văn Kiệt là tình hình quốc tế đã thay đổi, tình hình khu vực cũng đã thay đổi. ASEAN bây giờ chủ trương hợp tác, đoàn kết để phát triển, chúng ta lại chủ trương đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế nên tham gia ASEAN là cần thiết. Đồng chí Võ Văn Kiệt tán thành.

Sau cuộc đi thăm, chúng tôi báo cáo với Bộ Chính trị. Lúc bấy giờ, việc tham gia ASEAN là rất khó vì rất nhiều người, trong đó có nhiều cán bộ cao cấp, quan niệm ASEAN là nối tiếp của tổ chức SEATO, thuyết phục mọi người không phải dễ. Trong tình hình như vậy, với tư cách là Bộ trưởng Ngoại giao, tôi phải chuẩn bị đầy đủ lập luận với các đồng chí lãnh đạo và thuyết phục những người phản đối. Sau một thời gian nghiên cứu, thảo luận, Bộ Chính trị đồng tình với chủ trương đó. Tháng 7/1992, chúng ta trở thành quan sát viên của ASEAN cùng với Lào. Lúc bấy giờ, các nước ASEAN nói với chúng ta và Lào là phải khoảng 5 năm nữa các bạn mới có thể trở thành thành viên chính thức. Nhưng do chúng ta lúc bấy giờ tiến hành đổi mới có nhiều thắng lợi và rất nghiêm chỉnh trong vấn đề tham gia ASEAN nên đến năm 1994 họ đặt vấn đề với chúng ta: nếu Việt Nam cảm thấy có đầy đủ điều kiện thì ASEAN sẵn sàng kết nạp sớm Việt Nam là thành viên chính thức. Tại hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao các nước ASEAN tháng 7/1994, thay mặt Chính phủ, tôi tuyên bố là sẵn sàng gia nhập ASEAN. Và sau một năm chuẩn bị, tháng 7/1995, lễ kết nạp Việt Nam thành thành viên thứ 7 của ASEAN được tổ chức trọng thể tại thủ đô Brunei. Nay hơn 10 năm nhìn lại, mọi người đều nhất trí việc gia nhập ASEAN là hoàn toàn đúng đắn.

PV: Bác Hồ là nhà ngoại giao kiệt xuất, ông học tập được đức tính gì của Bác Hồ trong hoạt động ngoại giao của mình?

Nguyễn Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm:  Nói đến đường lối ngoại giao Hồ Chí Minh là nói đến sự gắn bó giữa tinh thần yêu nước với đặc điểm văn hóa dân tộc, gắn bó giữa kinh nghiệm hoạt động ngoại giao của cha ông với kinh nghiệm ngoại giao của thế giới. Nói đến ngoại giao Hồ Chí Minh không thể chỉ nói đến quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại mà còn phải nói đến phương pháp, phong cách và nghệ thuật ngoại giao của Người. Điều Bác Hồ làm không phải ai cũng làm được. Chính đồng chí Trường Chinh đã từng nhận xét: “Trong hoạt động ngoại giao, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gắn bó chặt chẽ giữa sự mềm dẻo trong chiến thuật với sự đanh thép trong nguyên lý”. Nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng đã viết: “Trong giao tiếp ngoại giao sự mềm dẻo, linh hoạt của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành huyền thoại”. Cho nên ai làm ngoại giao cũng phải học tập đường lối ngoại giao Hồ Chí Minh, học tập phong cách, học tập nghệ thuật, học tập phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh. Nhưng không ai có thể làm được như Bác. Bản thân tôi khi nói đến phương pháp của Bác thì từ vấn đề mềm dẻo, linh hoạt tôi rút ra cho mình một kinh nghiệm là trong hoạt động ngoại giao, thái độ chân thành và mềm dẻo có thể giúp cho mình giành thắng lợi.

PV: Nhìn lại những thành tựu của ngành Ngoại giao Việt Nam ngày hôm nay, cảm xúc của ông như thế nào?

Nguyễn Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm:  Thắng lợi của ngành ngoại giao Việt Nam là thắng lợi của đường lối Hồ Chí Minh, của tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại, là thắng lợi của sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng. Trước thắng lợi vĩ đại, thắng lợi có ý nghĩa lịch sử của dân tộc, trong đó có phần đóng góp quan trọng của ngành ngoại giao, trước vị thế quốc tế của nước ta không ngừng được nâng cao, được cả thế giới thừa nhận, là người Việt Nam, dù làm ngoại giao hay không làm ngoại giao, đều cảm thấy tự hào, một niềm tự hào chính đáng.

PV: Xin cảm ơn ông và chúc ông dồi dào sức khoẻ!./.

Thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở, ngoại giao đã tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc.

Do những thắng lợi to lớn và sự đóng góp quan trọng nên năm 1995, nhân kỉ niệm 50 năm thành lập ngành Ngoại giao, Đảng và Nhà nước đã tặng cho ngành Ngoại giao Huân chương Sao vàng, phần thưởng cao quý nhất của đất nước...

(VOV)

 
Quay lại Đầu trang In trang Gửi mail

Bản quyền của Vụ Thông Tin Báo Chí - Bộ Ngoại Giao
© Copyright by Press and Information Department - Vietnam Ministry of Foreign Affairs
Email: Banbientap@mofa.gov.vn 
Hiển thị tốt nhất với Internet Explorer. Best viewed with Internet Explorer