Việt Nam có thể kiện Mỹ ra WTO thế nào?
Quan hệ và hợp tác là một xu thế tất yếu của thời đại ngày nay. Chưa bao giờ chúng ta cảm nhận hơi thở của quá trình hội nhập một cách rõ ràng như lúc này. Tuy vậy, cùng với quá trình gia tăng giao thương với các nước, mức độ cạnh tranh cũng gia tăng một cách chóng mặt. Cạnh tranh không chỉ diễn ra ở mức độ các doanh nghiệp mà nó còn là sự cạnh tranh giữa những ngành hàng của các quốc gia có quan hệ giao thương.
Giới lãnh đạo ở mỗi nước đang đứng trước nghịch lí: Một mặt phải phát triển ngoại thương. Nói cách khác phải thúc đẩy quá trình tự do hóa thương mại. Mặt khác khi hàng hóa của nước ngoài nhập khẩu quá nhiều đe dọa đến nền sản xuất trong nước thì một nhu cầu khác lại xuất hiện đó là bảo hộ mậu dịch. Dưới góc độ luật học các biện pháp bảo hộ gồm các loại sau: Chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ thương mại.
Cách đây vài năm, lần đầu tiên Việt
Theo nguồn tin từ Tuổi Trẻ thì các vấn đề mà Việt
- Phương pháp quy về 0 (zeroing) sử dụng trong tính toán biên độ phá giá
- Phương pháp ký quỹ liên tục
- Phương pháp xác định thuế suất thuế chống bán phá giá cho các bị đơn tự nguyện không được lựa chọn và việc áp dụng mức thuế suất toàn quốc
Đáo tụng đình: Lợi hay hại?
Cũng có thể nói đây là lần đầu tiên Việt
Trước diễn biến của vụ việc, có nhiều tâm lí lo ngại. Dù muốn hay không chúng ta cũng phải thừa nhận Hoa Kỳ hiện là một trong những thị trường lớn của Việt
Trước hết về mặt bang giao quốc tế, không phân biệt lớn hay nhỏ về nguyên tắc các quốc gia đều có địa vị pháp lí bình đẳng với nhau. Trong WTO với tư cách là thành viên thứ 150 của tổ chức này Việt Nam hoàn toàn bình đẳng với Hoa Kỳ cũng là một thành viên của tổ chức này. Mục đích của WTO là tạo lập nên một môi trường tự do thương mại giữa các quốc gia trên cơ sở của các hiệp định có liên quan.
Mặt khác, với quá trình hợp tác một cách rộng rãi như vậy, không tránh khỏi tình trạng "lời qua tiếng lại" giữa các quốc gia thành viên. Bản thân WTO cũng dự liệu những cơ chế để giải quyết cho tình trạng này.
Như vậy, có thể thấy việc khởi kiện một quốc gia khác ra trước cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO khi có cơ sở để cho rằng quốc gia đó vi phạm quyền lợi của mình là hoàn toàn phù hợp với qui định của WTO. Hoa Kỳ và Việt
Cũng cần thấy việc một quốc gia khởi kiện một quốc gia khác là chuyện hoàn toàn bình thường. Các nước EU, Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan.... cũng đã từng khởi kiện đối với Hoa Kỳ xoay quanh việc áp dụng phương pháp qui về 0 gây nhiều tranh cãi của nước này trong việc xác định biên độ phá giá ra trước WTO.
Việc khiếu kiện Hoa Kỳ được tiến hành trên cơ sở yêu cầu của Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản VN (VASEP). Là đại diện một ngành hàng VASEP không có quyền khởi kiện đối với một quốc gia. Do vậy, với việc khởi kiện Hoa Kỳ, Việt
Việc nhà nước đứng ra bảo vệ cho quyền lợi của nhà sản xuất trong nước không phải là chuyện cá biệt. Bản thân Hoa Kỳ tiến hành vụ kiện bán phá giá đối với cá basa, tôm Việt
Trong bối cảnh Việt Nam đang muốn có những doanh nghiệp vươn ra biển lớn, nhưng chưa có sự gắn kết chặt chẽ giữa Nhà nước và các doanh nghiệp, việc khởi kiện này ngoài tác dụng bảo vệ cho các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản mà lớn hơn đó còn có tác dụng cổ vũ cho mối quan hệ hỗ tương giữa chính quyền và doanh nghiệp trên con đường vươn ra biển lớn.
Dưới góc độ của doanh nghiệp, nếu chúng ta thành công trong vụ việc này, các doanh nghiệp xuất khẩu tôm đông lạnh có thể thoát khỏi tình trạng bán phá giá, qua đó nâng cao được năng lực cạnh tranh của mặt hàng này với các nhà xuất khẩu khác tại thị trường Hoa Kỳ.
Viễn cảnh
Trong vụ việc này Việt
Còn quá sớm để có thể khẳng định bất cứ điều gì, trong phạm vi bài viết tác giả sẽ cố gắng đưa ra những phác thảo về các vấn đề mà phía Việt
Phương pháp qui về 0
Phương pháp qui về o (Zeroing) có nghĩa là những giao dịch có biên dộ phá giá nhỏ hơn không (tức có giá trị âm) thì được qui đổi về 0. Một cách đơn giản phương pháp này được tiến hành như sau:
Ví dụ nếu một nhà xuất khẩu của Việt Nam bị Hoa Kỳ điều tra bán phá giá thực hiện 3 giao dịch xuất khẩu, trong đó có một giao dịch xuất khẩu có biên độ phá giá là 20%, một giao dịch có biên độ phá giá bằng 0 và một giao dịch có biên độ phá giá -25%
Trong đó biên độ phá giá được xác định bằng cách lấy giá bán tại thị trường Việt
|
|
Giá bán tại VN |
Giá bán tại Hoa Kỳ |
Chênh lệch giá |
|
Giao dịch 1 |
100 |
80 |
20 |
|
Giao dịch 2 |
100 |
100 |
0 |
|
Giao dịch 3 |
100 |
125 |
-25 |
Theo qui định của WTO khi xác định bán phá giá phải xác định bằng con số bình quân của các giao dịch. Như vậy tổng các giao dịch trên sẽ được cộng lại để xác định có phá giá hay không. Cụ thể như sau:
Không sử dụng phương pháp zeroing, bình quân biên độ phá giá của nhà xuất khẩu này sẽ là (20% + 0% - 25%): 3 = -1,66% (với biên độ phá giá âm, tức là không phá giá)
Phương pháp zeroing thì biên độ phá giá trung bình sẽ là (20% + 0% + 0%): 3 = 6,66% (và kết quả là nhà xuất khẩu này bán phá giá). Lưu ý: vì giao dịch thứ 3 có giá trị âm (-25%) nên được qui về 0.
Theo Hiệp định thực thi điều VI của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994 hay đôi khi còn gọi là Hiệp định chống bán phá giá (Agreement WTO on anti-dumping). Sau đây gọi tắc là Hiệp định chống bán phá giá thì việc xác định có tồn tại hành vi bán phá giá hay không phải dựa trên việc so sánh giá. Nếu như giá xuất khẩu của sản phẩm được xuất khẩu từ một nước này sang một nước khác thấp hơn mức giá có thể so sánh được của sản phẩm tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khẩu theo các điều kiện thương mại thông thường thì được coi là có hành vi phá giá.
Việc so sánh giá này phải được thực hiện trên nguyên tắc công bằng. Theo đó cách xác định là phải bảo đảm rằng Thực hiện các qui định điều chỉnh sự so sánh công bằng tại đoạn 4, việc xác định có tồn tại biên độ phá giá hay không trong suốt giai đoạn điều tra, thông thường sẽ dựa trên cơ sở so sánh giữa giá trị bình quân gia quyền thông thường với giá bình quân gia quyền của tất cả các giao dịch xuất khẩu có thể so sánh được hoặc thông qua so sánh giữa giá trị thông thường với giá xuất khẩu trên cơ sở từng giao dịch (Điều 2.4.2 Hiệp định chống bán phá giá)
Với những gì mà chúng ta vừa bàn luận về Phương pháp qui về 0 chúng ta thấy nguyên tắc này đã không bảo đảm yếu tố "bình quân" của tất cả các giao dịch (vì những giao dịch có biên đô phá giá nhỏ hơn 0 đã được qui về 0). Đây cũng là cơ sở để các cá nhân trong thời gian qua có thái độ lạc quan về khả năng thắng kiện của Việt
Phương pháp kí quĩ liên tục
Phương pháp ký quỹ liên tục theo đó các nhà nhập khẩu phải đặt cọc trước toàn bộ số tiền tương ứng với số thuế chống bán phá giá sẽ áp dụng trong cả năm. Trong kinh doanh, vấn đề vốn là một trong những vấn đề rất quan trọng. Với việc kí quĩ một khoản tiền như vậy, các nhà nhập khẩu Hoa Kỳ sẽ có tâm lí e ngại. Họ sẽ phải cân nhắc trước khả năng tiếp tục nhập khẩu tôm từ Việt
Hiệp định chống bán phá giá không đề cập đến vấn đề này. Cơ sở duy nhất mà các cá nhân trong thời gian qua lạc quan về khả năng thắng của Việt
Với những gì vừa phân tích, đã có những cơ sở ban đầu để chúng ta có lòng tin khi thực hiện vụ khiếu kiện này. Nhưng cũng phải thấy bên cạnh những tín hiệu lạc quan đó, khó khăn lớn nhất của chúng ta là chưa có nhiều kinh nghiệm trong những khiếu kiện như thế này. Như vậy, bản thân tác giả rất đồng tình với thứ trưởng Lê Danh Vĩnh khi ngài nói rằng không khẳng định như vậy (về khả năng thắng lợi 60% hoặc 90%, cách khẳng định như vậy là vội vàng, mang tính chủ quan và sẽ chuẩn bị thật kĩ cho vụ khiếu kiện này. Hàng ngàn doanh nghiệp Việt
(tuanvietnam.net, 24/2/2010)
|
|
|
Các tin liên quan: |
|
