Trang chủ     Đăng ký nhận tin    Ý kiến bạn đọc   Liên kết website English 
Thứ ba, ngày 18 tháng 06 năm 2013 Tìm kiếm
 Tìm kiếm nâng cao

Tình hình kinh tế xã hội năm 2004 chỉ tiêu năm 2005


Ngày 25/10/2004, khai mạc Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XI. Tại kỳ họp này, Quốc hội tập trung xem xét các vấn đề kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước; công tác xây dựng pháp luật và quyết định một số vấn đề quan trọng khác. Xin gửi tới các đồng chí một số nội dung chủ yếu về kinh tế-xã hội năm 2004, kết quả bốn năm thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội 2001-2005 và kế hoạch phát triển kinh tế -xã hội năm 2005.


I. Tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2004:  

Trên cơ sở tình hình kinh tế - xã hội trong 9 tháng năm  2004, dự báo khả năng thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2004 như sau:

Tốc độ tăng trưởng GDP khoảng 7,6% so với năm 2003, trong đó khu vực nông, lâm, ngư nghiệp tăng 3,3%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,2%, khu vực dịch vụ tăng 7,3%. Giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp tăng 4,9% so với năm 2003; giá trị sản xuất công nghiệp tăng 15,6%; giá trị các ngành dịch vụ tăng khoảng 8%. Kim ngạch xuất khẩu đạt 25 tỷ USD, tăng gần 24%. Tổng thu ngân sách nhà nước đạt 166,9 nghìn tỷ đồng, vượt 11,8% dự toán năm, bằng 23,5% GDP và tăng 17,4% so với thực hiện năm 2003; tổng chi ngân sách nhà nước cả năm 2004 ước đạt 206,05 nghìn tỷ đồng, vượt 9,8% so với dự toán năm; bội chi ngân sách nhà nước là 5% GDP, bằng dự toán đề ra. Vốn đầu tư toàn xã hội đạt 35,4% GDP. Giá hàng tiêu dùng tăng khoảng 9,5%. Tạo việc làm và bổ sung việc làm mới cho 1,55 triệu người. Số học sinh học nghề tuyển mới tăng 7%. Tỷ lệ hộ đói nghèo còn 8,3%. Tỷ lệ sinh giảm 0,037%. Giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng xuống còn 26%...

Tình hình kinh tế - xã hội cũng nổi lên nhiều khó khăn, thách thức:

- Tăng trưởng GDP mới đạt ở mức thấp của mục tiêu đề ra, chất lượng và hiệu quả tăng trưởng chưa có chuyển biến rõ nét; cơ cấu kinh tế chưa có bước chuyển dịch mạnh theo hướng hiện đại hóa.  

- Triển khai thực hiện vốn đầu tư phát triển còn chậm; tỷ lệ giải ngân đạt thấp.  

- Chỉ số giá tiêu dùng tăng cao so với nhiều năm trước đây đã tác động xấu đến nhiều ngành sản xuất và đời sống nhân dân.  

- Công tác xã hội hóa các lĩnh vực xã hội còn chậm và còn nhiều lúng túng, chưa có các đề án và kế hoạch triển khai cụ thể. Nhiều vấn đề xã hội rất bức xúc, nhất là tình trạng nghiện hút, ma túy, cờ bạc, mại dâm chưa được ngăn chặn, đẩy lùi… 

 

- Cải cách hành chính chưa đạt được kết quả như mong muốn, chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đổi mới.  

- Ngoài ra, dịch cúm gà lan rộng, giá cả một số mặt hàng tăng cao đã tác động xấu đến sản xuất, kinh doanh và ảnh hưởng đến kết quả thực hiện nhiệm vụ đề ra, làm giảm khả năng tăng trưởng kinh tế.  

II. Kết quả 4 năm thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2001-2005:

Nền kinh tế duy trì được tốc độ tăng trưởng khá và ổn định, tăng trưởng GDP bình quân 4 năm 2001-2004 khoảng 7,2% (năm 2001 tăng 6,9%, năm 2002 tăng 7,1%, năm 2003 tăng 7,3%, năm 2004 tăng 7,6%)…

Giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp tăng bình quân trong 4 năm là 5,2% (kế hoạch là 4,8%). Tuy nhiên giá trị tăng thêm (GDP nông nghiệp ) dự kiến chỉ đạt khoảng 3,4%, thấp hơn mục tiêu đề ra (mục tiêu 5 năm là 4%/năm).

Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân trong 4 năm (2001-2004) tăng 15,3% (kế hoạch 5 năm 2001-2005 là 13,1%). Tuy nhiên do chi phí quá cao nên giá trị tăng thêm của công nghiệp bình quân 4 năm chỉ đạt 10%, thấp hơn kế hoạch (kế hoạch 5 năm là 10,4%).

Giá trị các ngành dịch vụ tăng bình quân 4 năm khoảng 7,2%, thấp hơn so với mục tiêu kế hoạch là 7,5%. Giá trị tăng thêm bình quân 4 năm đạt 6,6% (mục tiêu kế hoạch 5 năm là 6,8%).

Tính chung 4 năm tổng kim ngạch xuất khẩu đạt gần 77 tỷ USD, tốc độ tăng xuất khẩu bình quân 4 năm khoảng 14,6% (năm 2001 tăng 4,1%, năm 2002 tăng 11,2%, năm 2003 tăng 20.8%, năm 2004 tăng 24%) (kế hoạch 5 năm là 104-110 tỷ USD, tăng 14-16%). Kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người năm 2004 đạt trên 305 USD/người…

Ước tổng vốn đầu tư đưa vào nền kinh tế 4 năm 2001-2004 (tính theo giá 2000) khoảng 731.000 tỷ đồng, đạt khoảng 88% kế hoạch 5 năm đề ra. Trong đó, vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước chiếm 21,9%; vốn tín dụng đầu tư của nhà nước chiếm 14,7%, vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước chiếm 17,7%; vốn đầu tư của tư nhân và dân cư chiếm 25,7%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 17,3%. Trong 4 năm 2001-2004 cam kết ODA dự kiến đạt khoảng 10,5tỷ USD; giải ngân ODA ước đạt khoảng 6,2 tỷ USD.

Chỉ số giá tiêu dùng tăng bình quân 4 năm khoảng 4,5%/năm (kế hoạch dưới 5%).

Tạo việc làm mới trong 4 năm cho 5,9 triệu lao động (kế hoạch 5 năm là 7,5 triệu ); tỷ lệ hộ nghèo đến năm 2004 giảm còn 8,3% (kế hoạch là 10%).

Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi đến cuối năm 2004 là 26% (kế hoạch là 22-25%).

Tỷ lệ được dùng nước sạch ở nông thôn đến cuối năm 2004 là 58% (kế hoạch là 62%).

Mức tăng trưởng trong 4 năm qua tuy khá, nhưng với quy mô nền kinh tế nước ta thì tốc độ tăng trưởng như vậy còn quá thấp để có thể rút ngắn khoảng cách so với các nước trong khu vực. Điều đó đòi hỏi cần có sự phấn đấu cao hơn, bứt phá mạnh hơn trong các năm tới, trước mắt là năm 2005 để nền kinh tế phát triển nhanh, bền vững và có hiệu quả.

III. Định hướng phát triển kinh tế -xã hội năm 2005:

Năm 2005 là năm cuối cùng thực hiện Nghị quyết Ðại hội Ðảng lần thứ IX và Nghị quyết số 55/2001/QH10 của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001-2005. Ðây là năm có vai trò quyết định trong việc hoàn thành các mục tiêu của kế hoạch 5 năm và cần tập trung thực hiện 5 nhóm mục tiêu sau đây:

- Phát triển kinh tế nhanh, hiệu quả và bền vững. Huy động tối đa và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để phát triển đất nước; tạo bước chuyển biến rõ rệt về chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của các sản phẩm và của nền kinh tế. Ðẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và giảm chi phí sản xuất để nâng cao chất lượng tăng trưởng.

- Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các cam kết và lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế; thực hiện mạnh mẽ các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu đi đôi với khai thác tốt thị trường trong nước.

- Đổi mới mạnh hơn nữa các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, y tế, văn hóa theo hướng đẩy mạnh xã hội hóa, nâng cao chất lượng. Tăng cường công tác nghiên cứu khoa học công nghệ; phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thực hiện tốt chính sách xóa đói, giảm nghèo, cải thiện mức sống của dân cư, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc.

- Tiếp tục đổi mới về tổ chức và nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước. Tăng cường công tác cải cách thể chế kinh tế; đẩy mạnh cải cách hành chính, chống tham nhũng, lãng phí, phát huy dân chủ cơ sở, tăng cường đối thoại giữa chính quyền địa phương với cộng đồng người dân, giữa các doanh nghiệp với các cơ quan nhà nước. 

- Tập trung cải thiện môi trường sản xuất kinh doanh, triển khai mạnh mẽ tiến trình sắp xếp, cổ phần hóa doanh nghiệp quốc doanh. Vận hành thị trường tài chính và bất động sản để tạo năng lực phát triển mạnh trong nền kinh tế.

Thực hiện 5 mục tiêu trên đi đôi với việc tiếp tục giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh biên giới và khu vực biển Đông hải đảo.

Các chỉ tiêu kinh tế:

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng 8 - 8,5% so với năm 2004;

Giá trị tăng thêm (GDP) của ngành nông, lâm, ngư nghiệp tăng 3,4 - 3,8% (giá trị sản xuất tăng 4,9 - 5,2%);

Giá trị tăng thêm của ngành công nghiệp và xây dựng tăng 10,5 - 11,0%, (giá trị sản xuất tăng 15,5 - 16%);

Giá trị tăng thêm của các ngành dịch vụ tăng 7,7 - 8,2%;

Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 14 - 16%;

Tổng nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội 295 - 300 nghìn tỷ đồng, tăng 17,5 - 19,5% so với năm 2004, bằng 36,5% GDP;

Tổng thu ngân sách nhà nước 179,7 nghìn tỷ đồng, tăng 7,7%; tổng chi ngân sách nhà nước 226,45 nghìn tỷ đồng, tăng 9,9% so với ước thực hiện năm 2004; bội chi ngân sách nhà nước khoảng 5% GDP.

Giá tiêu dùng tăng thấp hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế (khoảng 7%);

 

 

Các chỉ tiêu xã hội:

Thực hiện chương trình phổ cập giáo dục trung học cơ sở, tỷ lệ học sinh trung học cơ sở trong độ tuổi đạt 80%.

Tuyển mới đại học, cao đẳng tăng trên 8%; trung học chuyên nghiệp tăng 15%; đào tạo nghề tăng 12%.

Giảm tỷ lệ sinh bình quân trong năm 0,4%o; quy mô dân số 83,2 triệu người, tăng 1,42%.

Tạo việc làm cho khoảng 1,6 triệu lao động, trong đó xuất khẩu lao động 7 vạn người. Giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị xuống 5,5%.

Số hộ được nghe Ðài Tiếng nói Việt Nam đạt 95%; số hộ được xem Truyền hình Việt Nam đạt 90%.

Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 7%.

Giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng xuống còn 24%.

Cung cấp nước sạch cho 62% dân số nông thôn.

Trong quá trình chỉ đạo, điều hành, để đạt mục tiêu 5 năm 2001 - 2005 là tăng trưởng (GDP) 7,5%/năm, thì năm 2005 cần phấn đấu tăng trưởng kinh tế đạt 8,8%, trong đó, ngành nông, lâm, ngư nghiệp tăng khoảng 4,2%, công nghiệp và xây dựng tăng khoảng 11,5%, dịch vụ khoảng 8,5%.

Định hướng phát triển ngành và lĩnh vực:

- Phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng tạo ra vùng sản xuất hàng hóa tập trung, chuyên canh, thâm canh có năng suất, chất lượng cao, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới…

- Phát triển công nghiệp tập trung vào những sản phẩm có thị trường, có khả năng cạnh tranh cao để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, tăng kim ngạch xuất khẩu, đi đôi với việc giảm các chi phí bất hợp lý trong giá thành…

- Phát triển các ngành dịch vụ tập trung vào một số ngành dịch vụ có tiềm năng và khả năng cạnh tranh như du lịch, hàng không, vận tải biển, tài chính, ngân hàng. Nâng cao chất lượng hoạt động dịch vụ…

- Ðẩy mạnh xuất khẩu, thúc đẩy tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế: Duy trì tốc độ tăng trưởng cao, tăng tối đa kim ngạch các nhóm hàng xuất khẩu mũi nhọn là thủy sản, dệt may, giày dép, dầu thô và các sản phẩm gỗ. Phát triển các mặt hàng mới có nhiều khả năng cạnh tranh và các mặt hàng có cơ hội tăng sản lượng và thị phần như sản phẩm chế biến, công nghiệp đóng tàu biển... Ðẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa chế biến sâu và có hàm lượng kỹ thuật cao. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý xuất nhập khẩu ổn định và phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Ðẩy mạnh xúc tiến thương mại, chú trọng phát triển các thị trường truyền thống, thị trường có tiềm năng lớn, đồng thời mở rộng thị trường mới.

- Phát triển quy mô giáo dục và  đào tạo phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế-xã hội, củng cố kết quả thực hiện xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học, đẩy mạnh phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi.

- Khoa học và công nghệ: Hỗ trợ việc đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ của các ngành sản xuất và dịch vụ nhằm nâng cao năng suất lao động, hiệu quả sản xuất kinh doanh, nâng sức cạnh tranh của nền kinh tế. Ðẩy mạnh các hoạt động tư vấn, dịch vụ khoa học và công nghệ trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Ðẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ cao; sắp xếp các tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghệ theo hướng chuyển dần sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp.

- Tài nguyên, môi truờng và phát triển bền vững: Tiếp tục đo vẽ bản đồ địa hình để phục vụ cho công tác quy hoạch đô thị. Ðảm bảo các điều kiện cần thiết để công tác phân giới, cắm mốc biên giới Việt - Trung thực hiện theo đúng tiến độ…

- Giải quyết việc làm và xóa đói giảm nghèo: Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển ngành nghề sử dụng nhiều lao động, giải quyết việc làm cho nông dân mất đất do đô thị hóa, khu công nghiệp và khu chế xuất…

- Văn hóa thông tin, phát thanh truyền hình, thể dục, thể thao: Tăng cường quản lý nhà nước đối với các dịch vụ văn hóa, thông tin, báo chí...

- Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân: Hoàn thành quy hoạch tổng thể phát triển sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân. Phấn đấu cuối năm 2005 có 30% số xã được công nhận đạt chuẩn quốc gia về y tế xã. Bảo đảm trên 40% nhu cầu thuốc được cung ứng cho chăm sóc sức khỏe từ nguồn sản xuất trong nước…

- Công tác dân số, gia đình, trẻ em và an sinh xã hội:  Kết hợp công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình với bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em và phong trào xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, bình đẳng và văn minh…

- Ổn định và nâng cao đời sống dân tộc ít người: Tiếp tục thực hiện chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn (Chương trình 135)…Bảo đảm thực hiện tốt chính sách đất đai cho đồng bào Khmer đồng bào các dân tộc bản địa ở Tây Nguyên. 

- Công tác phòng chống tệ nạn xã hội: Phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan chức năng trong thực hiện chương trình hành động phòng chống ma túy, mại dâm. Ðẩy mạnh công tác xây dựng xã, phường trong sạch, vững mạnh, không có tệ nạn xã hội gắn với cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư".

- Quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội: Tăng cường công tác quản lý biên giới, trên đất liền và trên biển; cụ thể hóa đề án phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng kinh tế - quốc phòng, các địa bàn trọng điểm góp phần củng cố thế trận quốc phòng toàn dân và định canh định cư phát triển kinh tế tại vùng sâu, vùng xa…

(Tổng hợp từ báo chí Việt Nam các ngày 25, 26, 27/10/2004; Tài liệu họp báo của Văn phòng Quốc hội; www.na.gov.vn ; www.nhandan.org.vn ).

Ngày 28/10/2004

 
Quay lại Đầu trang In trang Gửi mail

Bản quyền của Vụ Thông Tin Báo Chí - Bộ Ngoại Giao
© Copyright by Press and Information Department - Vietnam Ministry of Foreign Affairs
Email: Banbientap@mofa.gov.vn 
Hiển thị tốt nhất với Internet Explorer. Best viewed with Internet Explorer