Trang chủ     Đăng ký nhận tin    Ý kiến bạn đọc   Liên kết website English 
Chủ nhật, ngày 19 tháng 05 năm 2013 Tìm kiếm
 Tìm kiếm nâng cao

Nguồn vốn nước ngoài thu hút vào Việt Nam không ngừng tăng nhanh


Năm 2004, Việt Nam đã thu hút được nguồn vốn nước ngoài đáng kể từ đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), xuất khẩu, viện trợ phát triển (ODA), từ cộng đồng Việt kiều và các dịch vụ thu ngoại tệ. Trong bối cảnh năm vừa qua: (1) cạnh tranh thu hút đầu tư giữa các nước trong khu vực ĐNÁ, các nước phát triển với đang phát triển và giữa các khu vực khác nhau ngày càng gay gắt, (2) cạnh tranh để xuất khẩu sang các khu vực và thị trường chủ yếu như Mỹ, Châu Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và mở rộng xuất khẩu sang các thị trường tiềm năng (3) các quốc gia đều cố gắng nâng sức cạnh tranh, tự do hoá nền kinh tế bằng cách gia nhập các tổ chức quốc tế như WTO, ký kết các hiệp định song phương, khu vực với các đối tác lớn, thì thành tích thu hút vốn bên ngoài của Việt Nam có ý nghĩa không chỉ đối với quốc gia bởi nó còn được cộng đồng các nước đầu tư, viện trợ, các ngân hàng và tổ chức kinh tế lớn quan tâm theo dõi. Việc Việt Nam thành công trong cải cách kinh tế và ổn định đời sống nhân dân là tiền đề để các cộng đồng nhà đầu tư, viện trợ… tiếp tục tin tưởng tăng luồng vốn và viện trợ cho Việt Nam như đã từng làm với Bra-xin, Mê-xi-cô, Hồng Kông, Ba Lan và Trung Quốc.

Đầu tư nước ngoài

Mặc dù xu hướng đầu tư toàn cầu trong những năm qua không có biến động lớn với việc Trung Quốc là nước thu hút phần lớn các nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào khu vực, các nước Đông am Á cũng là địa điểm để các nhà đầu tư nước ngoài chọn để đa dạng hoá tài sản vốn. Việt Nam đã duy trì được môi trường chính trị ổn định và xây dựng được hành lang pháp lý thu hút đầu tư nước ngoài gồm ưu đãi về thuế, về đất đai, chi phí dịch vụ, chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, về thành lập liên doanh, tham gia giao dịch trên thị trường chứng khoán… cùng với việc cho mở rộng lĩnh vực được phép đầu tư và nâng số phần trăm vốn được đóng góp trong liên doanh đã giúp doanh nghiệp đầu tư nước ngoài chủ động và làm ăn có lãi hơn trong năm 2004 vừa qua.

Đầu tư nước ngoài năm 2004 tiếp tục tăng trưởng khá nhanh, thu hút trên 4 tỷ đô-la, tăng gần 35% so với 2003 (2,9 tỷ). Trong năm 2004, có gần 700 dự án đầu tư nước ngoài mới được cấp giấy phép với số vốn đăng ký hơn 2 tỷ đô-la cộng với trên 2 tỷ đô-la nữa số vốn đăng ký thêm của các dự án đang hoạt động tại Việt Nam.

Trong năm 2005, theo kết quả điều tra Cảm nhận Môi trường Kinh doanh (Bộ Kế hoạch-Đầu tư) thăm dò ý kiến của các nhà đầu tư (có vốn đầu tư nước ngoài và trong nước), cộng đồng doanh nghiệp đánh giá triển vọng kinh doanh năm 2005 cao hơn năm trước và trên 80% dự định mở rộng kinh doanh trong 3 năm tới. Những nguyên nhân khiến gần 20% số doanh nghiệp được thăm dò chưa có kế hoạch mở rộng kinh doanh tại Việt Nam là do: những hạn chế trong việc thực thi pháp luật và do những bất lợi về thuế….

Đáp ứng những mong đợi của các nhà đầu tư nước ngoài, những cải cách cần thiết để tạo một sân chơi bình đẳng cho các doanh nghiệp đầu tư của các nước Nhật, Mỹ, Châu Âu, Xin-ga-po, Đài Loan, Hàn Quốc... đang được thực hiện. Đối với các doanh nghiệp trong nước, giai đoạn này chính là lúc so sánh tiềm lực và khả năng tồn tại trên thương trường của bản thân xét về các mặt vốn đầu tư, công nghệ, quản trị và hiệu quả kinh tế-xã hội. Trong năm 2004, doanh thu khu vực đầu tư nước ngoài đã đạt khoảng 18 tỷ đô-la, tăng 20% so với năm trước. Khoảng 200 doanh nghiệp đi vào hoạt động đã tạo thêm hơn 70.000 việc làm mới.

Để cải thiện hơn nữa môi trường đầu tư kinh doanh trong năm 2005, Nghị quyết 01/2005/NQ-CP ra ngày 14/01/2005 của Chính phủ đã chỉ rõ những nhóm giải pháp lớn trong đó có việc thực thi Luật đất đai, hình thành Luật Doanh nghiệp chung, Luật Đầu tư chung, mở cửa thị trường… để thu hút từ 4,2 đến 4,5 tỷ đô-la vốn đầu tư nước ngoài.

Theo đó, thu hút đầu tư nước ngoài không phải chỉ là tạo một môi trường đầu tư thuận lợi cho các doanh nghiệp nước ngoài vào kinh doanh mà qua đó còn phải tạo ra lực đẩy nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, gắn hiệu quả kinh doanh với lợi ích xã hội.

Xuất khẩu

Quan hệ buôn bán của Việt Nam ngày càng mở rộng đã góp phần tăng giá trị xuất khẩu của toàn nền kinh tế. Đáng chú ý hơn nữa, các khoản lợi nhuận thu được từ xuất khẩu đang được dùng để đầu tư trở lại nền kinh tế.

Trong ba năm trở lại đây, xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu xoay quanh 4 trục chính là Đông Bắc Á, EU, ASEAN và Hoa Kỳ. Bước sang năm 2004, thị trường đã được cải thiện đáng kể theo hướng đa dạng hơn như Trung Quốc (xuất khẩu của ta tăng 60%, kim ngạch đạt trên 2 tỷ đô-la), các Tiểu vương quốc Ả-rập và I-rắc (xuất khẩu tăng trên 40%) và các nước châu Phi (Việt Nam xuất khẩu gạo là chủ yếu, thị trường này vươn lên đứng thứ hai sau thị trường Châu Á).

Kim ngạch xuất khẩu vì thế ngày càng tăng nhanh. Năm 2004, kim ngạch ước đạt 26 tỷ đô-la, tăng gần 29% so với 2003, có 17 mặt hàng vượt kim ngạch xuất khẩu 100 triệu đô-la; 6 mặt hàng vượt 1 tỷ đô-la: dầu thô, dệt may, da giày, thuỷ sản, đồ gỗ, điện và linh kiện điện tử. Rõ ràng là bên cạnh việc xuất khẩu hàng công nghiệp nhẹ và nông sản, Việt Nam đã có thêm 2 mặt hàng mới có giá trị xuất khẩu cao là điện tử và linh kiện máy tính.

Để đạt được giá trị xuất khẩu như vậy, hàng năm, Việt Nam nhập khẩu một khối lượng tương đối lớn hàng hoá từ bên ngoài chủ yếu là từ các nước phát triển và phần lớn là các sản phẩm máy móc và nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất. Ví dụ, dệt may và da giày xuất khẩu đạt gần 7 tỷ đô-la thì nhập khẩu đầu vào cũng ở mức khoảng gần 5 tỷ. Nhập khẩu linh kiện điện tử chiếm hơn 100% kim ngạch xuất khẩu (tất nhiên nhập khẩu linh kiện điện tử còn được sản xuất cho tiêu dùng nội địa). Do giá trị nhập khẩu đầu vào lớn nên giá trị tăng thêm của một số mặt hàng xuất khẩu trở nên không đáng kể.

Mặc dù tăng trưởng xuất khẩu chưa bền vững, song xuất khẩu hàng hoá đã đóng góp quan trọng vào GDP và trở thành trụ cột của nền kinh tế. Năm 2001, xuất khẩu chiếm gần 40% tổng thu nhập quốc dân (GDP), năm 2003 đạt gần 50% và đến 2004 vượt qua ngưỡng 50% GDP.

Để đảm bảo xuất khẩu tăng trưởng bền vững và cân đối, đứng vững trước sức ép về giá và chất lượng lên hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam do việc mở cửa thị trường cho các nước ASEAN và sau đó là cho các thành viên WTO (nếu gia nhập vào cuối 2005), để khuyến khích và nâng cao hiệu quả xuất khẩu của các doanh nghiệp nước ngoài, doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân, Nhà nước sẽ phải tập trung vào cung cấp các điều kiện hạ tầng thuận lợi nhất cho kinh doanh đồng thời các doanh nghiệp kể cả các doanh nghiệp Nhà nước cần chủ động, tuân thủ quy luật của nền kinh tế thị trường và luật pháp không chỉ của nước chủ nhà mà còn là của nền kinh tế khu vực và toàn cầu.

Viện trợ phát triển (ODA)

Việt Nam vẫn thuộc diện các quốc gia được hưởng nguồn viện trợ nước ngoài. Năm 2004, số vốn cam kết của các nhà tài trợ cho Việt Nam lên tới 3,4 tỷ đô-la, so với 2,7 tỷ đô-la năm 2003. Theo Tổ chức Hợp tác kinh tế và Phát triển (OECD), Việt Nam nằm trong nhóm 10 nước tiếp nhận viện trợ ODA lớn nhất. Cơ sở hạ tầng là lĩnh vực thu hút viện trợ ODA lớn nhất, chiếm tới 6 trên 10 dự án lớn nhất.

Tuy nhiên, vốn vay chiếm phần lớn trong tổng viện trợ ODA, hiện bằng khoảng 67% viện trợ ODA. Và số viện trợ được giải ngân trong 11 năm qua chỉ bằng ½ viện trợ cam kết. Đến năm 2004, một số khoản nợ đầu tiên của Việt Nam đã tới hạn phải trả. Tổng số nợ Chính phủ/GDP hiện đã lên tới 39%, tỷ lệ dịch vụ trả nợ so với kim ngạch xuất khẩu là 9,9% và bằng 6% tổng thu ngân sách. Các nguồn ODA là những khoản tiền đáng quý song phải chú ý đến tính hai mặt của nguồn lực này để đầu tư đúng chỗ và tránh lãng phí.

Những thành tích sử dụng viện trợ cho xoá đói giảm nghèo và phát triển bền vững của Việt Nam trong năm 2004 là tín hiệu cho thấy Việt Nam đang sử dụng có hiệu quả ODA. Các dự án phát triển nông thôn và cơ sở hạ tầng hàng năm đã giúp cải thiện đời sống địa phương và nâng cao tiềm lực sản xuất của địa phương, góp phần thúc đẩy sự phát triển và nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế.

Nguồn kiều hối và các dịch vụ thu ngoại tệ

Bên cạnh nguồn thu từ FDI, xuất khẩu và viện trợ, nguồn kiều hối cũng là một nguồn lực quan trọng không kém. Việt kiều là một bộ phận không tách rời của dân tộc. Nguồn lực của Cộng đồng người Việt ở nước ngoài còn rất to lớn. Điều đó thể hiện rất rõ qua số lượng kiều hối được gửi về hàng năm và số doanh nghiệp do Việt Kiều đầu tư về nước. Từ 1991-2004, kiều hối tăng bình quân trên 10%/năm. Năm 1991, kiều hối chuyển về mới đạt 31 triệu đô-la, đến năm 1995 đạt gần 300 triệu, năm 1999 đạt hơn 1 tỷ đô-la, năm 2003 đã lên tới 2,6 tỷ và năm 2004 ước đạt 3 tỷ đô-la. Dự đoán với đà tăng trưởng này, đến năm 2010 lượng kiều hối sẽ là gần 5 tỷ. Các doanh nghiệp Việt Kiều có quy mô vừa và nhỏ hoạt động trong nhiều lĩnh vực. Nhiều hội thảo doanh nhân Việt Kiều, các buổi họp mặt của các Hội người Việt Nam ở Nước ngoài đã góp phần tăng cường sự gắn bó của Việt Kiều với quê hương đất nước. Cộng đồng người Việt có cống hiến cho đất nước đang được dành nhiều ưu đãi và được khuyến khích mở rộng kinh doanh tại Việt Nam. Đó là định hướng nhất quán và đang được triển khai thực hiện từ trung ương đến địa phương.

Cùng với nguồn thu từ kiều hối, thu từ các dịch vụ du lịch, vận tải vãng lai...cũng tăng nhanh, và là nguồn vốn chảy trực tiếp vào các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ. Thông qua các khoản thuế, các doanh nghiệp này trực tiếp đóng góp vào ngân sách nhà nước.

Thu hút hơn nữa nguồn vốn bên ngoài.

Nhự vậy trong năm 2004, nguồn thu từ nước ngoài đã đóng góp gần 37 tỷ đô-la cho ngân sách nhà nước. Chi ngân sách đã đáp ứng được các nhiệm vụ-kinh tế- xã hội theo kế hoạch đề ra.

Thu hút nguồn ngoại lực bao gồm cả vốn, công nghệ, quản trị, ngoại tệ và viện trợ khác nhau là một bộ phận trong chiến lược thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo đến 2010 Việt Nam sẽ trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, giữ vững môi trường hoà bình, tình hình an ninh chính trị ổn định. Để thu hút vốn bên ngoài, Việt Nam đang phấn đấu trở thành một mắt xích của nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên, trong khi phát triển bằng vốn, công nghệ và dựa vào thị trường bên ngoài, Việt Nam cần phải đứng trên "đôi chân của mình" và dựa vào nguồn lực trong nước và xây dựng tiềm lực trong nước đủ mạnh.

Nguồn: Quốc tế 2/12-15/12, Đầu tư 1/12, Quốc tế 2/01, Văn hoá 25-27/01, Thời báo kinh tế Việt Nam 26/01, Tạp chí Thương mại số 1+2 tháng 1/2005.

 
Quay lại Đầu trang In trang Gửi mail

Bản quyền của Vụ Thông Tin Báo Chí - Bộ Ngoại Giao
© Copyright by Press and Information Department - Vietnam Ministry of Foreign Affairs
Email: Banbientap@mofa.gov.vn 
Hiển thị tốt nhất với Internet Explorer. Best viewed with Internet Explorer