KHÔNG CÓ THÀNH TỐ CỦA KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH
Hỏi: Vừa qua, một loạt ngân hàng JP Morgan, Merrill Lynch, Morgan Stanley... công bố báo cáo đánh giá tiêu cực về tình hình kinh tế Việt Nam, xem Việt Nam là ví dụ cho điều hành kém sau khi đã đạt thành công. Ông nhìn nhận như thế nào về những đánh giá này?
Trả lời: Một điều rõ ràng là kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn khó khăn. Nhưng một điều khác cũng rõ ràng là, trong nhiều trường hợp, các đánh giá trên là cường điệu hóa. Tôi thấy, trong cách nhìn của cộng đồng doanh nghiệp về Việt Nam, nếu vài tháng trước Việt Nam là "con cưng", hình mẫu thành công (poster child) thì hiện nay, Việt Nam là hình mẫu của những rắc rối (problem child). Có thể cả 2 đánh giá này đều bị cường điệu hóa.
Chúng ta đều thấy vấn đề. Đến thời điểm này, Chính phủ Việt Nam đã đưa ra những tuyên bố đúng đắn, nhưng vẫn còn quá sớm để nói rằng những động thái chuyển động đã hoàn toàn theo đúng hướng hay chưa. Vấn đề nằm ở việc triển khai thực hiện.
Theo tôi, Chính phủ phải làm hai việc: Một là, phải xác định rõ và triển khai mạnh chính sách cũng như thông tin đầy đủ về những gì họ đang làm, từ đó giúp mọi người không bị lúng túng và băn khoăn. Mặt khác họ phải thông tin để cộng đồng doanh nghiệp bình tĩnh, và giúp doanh nghiệp hiểu rằng các yếu tố nền tảng của nền kinh tế vẫn rất vững mạnh.
Hỏi: Nhiều người đã đặt ra nghi vấn về khả năng một cuộc khủng hoảng tiền tệ ở Việt Nam như từng xảy ra ở Thái Lan năm 1997. Ý kiến của ông?
Trả lời: Tôi nghĩ là không. Có một số yếu tố dẫn đến những đánh giá về khả năng có thể khủng hoảng. Thứ nhất là đầu cơ ngắn hạn và tỉ giá đồng USD thay đổi. Thứ hai là kỳ vọng tiền đồng sẽ mất giá. Thực tế không phải như vậy. Chính phủ Việt Nam vẫn muốn giữ tỉ giá tiền USD. Cách đây vài tháng thì Ngân hàng Nhà nước lúc đó mua một lượng lớn đô la nhằm giữ giá cho tiền đồng. Từ đó đến nay có nhiều yếu tố đã thay đổi. Lượng vốn ngắn hạn đã ít đi, ít người đầu tư đô la vào TTCK hơn. Thứ hai là lạm phát tăng cao. Nên nếu lấy tỉ giá là 16,000 nếu bạn so với lạm phát thì rõ ràng là tỉ giá đáng lẽ phải cao hơn số đó. Vì vậy, tiền đồng Việt Nam đang lên giá nếu chúng ta so sánh với mặt bằng chung.
Đây là áp lực làm cho tiền đồng lên giá một cách tự nhiên, vì vậy chúng tôi không thấy những yếu tố của cuộc khủng hoảng tiền tệ. Nhưng không phải nói thế là nền kinh tế VN không có vấn đề và chúng ta đang giải quyết nó. Nhưng chúng tôi không thấy có dấu hiệu của cuộc khủng hoảng tiền tệ.
Hỏi: Những báo cáo tiêu cực của các tổ chức quốc tế sẽ tác động như thế nào đến kinh tế Việt Nam?
Trả lời: Chắc chắn dư luận sẽ tác động ngắn hạn lên nền kinh tế. Việt Nam sẽ nhận được ít hơn nhiều những dòng đầu tư ngắn hạn vào TTCK, BĐS. Những dòng vốn dạng này sẽ nằm chờ đợi. Việt Nam có thể sẽ gặp khó khăn do thiếu hụt nguồn vốn này để bổ sung cho thâm hụt ngân sách. Tuy nhiên, không nên làm mất lòng tin của các nhà đầu tư dài hạn, do nó liên quan đến lòng tin vào sức mạnh nội tại lâu dài của nền kinh tế. Một khi nhà đầu tư tin tưởng vào khả năng đối phó tốt, dòng vốn sẽ không chảy ra. Duy trì đầu tư lâu dài vào Việt Nam phải là một ưu tiên của chính phủ.
Hỏi: Theo ông, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế và báo giới không, khi trước đây dành quá nhiều lời khen, khiến Chính phủ Việt Nam chủ quan, không nhìn nhận đúng thực tế, từ đó thất bại trong quản lý vĩ mô?
Trả lời: Tôi không nghĩ nên đổ lỗi cho ai cả. Cộng đồng doanh nghiệp làm việc của doanh nghiệp, đó là nỗ lực kiếm lợi nhuận. Chúng ta không thể đổ lỗi cho họ. Vấn đề hiện đang xảy ra với quy mô lớn, trong một nền kinh tế đã hội nhập sâu vào kinh tế thế giới về thương mại, nhưng lại chưa hội nhập sâu rộng trong vấn đề tài chính.
Việt Nam phải đối mặt với những yếu tố chưa gặp bao giờ, như năm ngoái lượng vốn FDI cam kết lên tới 20 tỉ USD trong khi GDP chỉ khoảng 70 tỉ. Rất khó để quản lý, cho dù NHNN có mạnh đến đâu, Bộ Tài chính có mạnh đến đâu. Việt Nam tiếp tục đưa ra những chính sách kinh tế chỉ phù hợp với nền kinh tế có lượng vốn nhỏ, và không quá phức tạp. Nền kinh tế này cần thời gian để điều chỉnh thích ứng.
Chính phủ cũng cần hiểu rằng, giống như cách cộng đồng doanh nghiệp mang tiền vào nhanh chóng, họ cũng có thể rút tiền đi một cách nhanh chóng như vậy. Chính phủ phải truyền thông rõ để mọi người hiểu Chính phủ đang làm những gì, chiến lược phát triển chính sách tài khóa, tiền tệ... ra sao trong cải cách lâu dài. Nếu tình hình tốt, các nhà đầu tư sẽ trở lại.
Hỏi: Hiện nay nhà đầu tư đã mất lòng tin vào Việt Nam?
Trả lời: Có thể nói đã xuất hiện sự lo lắng vốn không có trước đây. Trong quá khứ, mọi người đều lạc quan, đều xem Việt Nam là con hổ tiếp theo của châu Á, còn hiện nay, tình hình có những lo lắng. Hôm trước có nhà báo hỏi tôi rằng vậy có phải Việt Nam chỉ là con mèo hay không? Tôi nghĩ rằng cả hai đều là hơi quá. Những nhân tố cơ bản lâu dài vẫn còn rất mạnh ở đất nước này.
Tuy nhiên cũng còn nhiều vấn đề. Đó là các vấn đề của kinh tế hội nhập, một số chính sách chưa kịp thích ứng. Việt Nam chưa có ngân hàng trung ương đủ mạnh, và đang phải vấn đề trong tái cơ cấu khu vực kinh tế nhà nước...
Còn nhiều việc phải tiến hành. Nhưng chúng ta đều hiểu rằng, không có việc gì có thể tạo bước chuyển ngay lập tức. Điều Chính phủ cần làm là chỉ rõ họ đang làm điều đúng đắn một cách vững chắc.
Hỏi: Vậy vấn đề nghiêm trọng nhất đối với kinh tế Việt Nam tại thời điểm này mà Chính phủ cần ưu tiên giải quyết là gì?
Trả lời: Một là, Chính phủ phải tái thiết lòng tin rằng tình hình đang trong tầm kiểm soát. Để xây dựng lòng tin, Chính phủ phải làm một số việc, trong đó có những việc đã bắt đầu làm. Chính phủ phải có nhiều chính sách tạo khả năng thích ứng tốt hơn như đối với tín dụng, đối với chi tiêu công... vì nếu chỉ áp dụng chính sách thắt chặt tín dụng thì mọi áp lực sẽ đổ lên lãi suất. Cần phải chuyển áp lực sang những chỗ khác nữa.
Chính phủ cần ra thông báo danh sách những dự án đầu tư công nào cần phải dừng lại, hoãn trong mấy tháng, và phải làm càng sớm càng tốt, để giảm áp lực lên việc thắt chặt tín dụng.
Cũng cần tạo sự thích ứng trong chính sách tài khóa. Có những ngân hàng cổ phần nhỏ hiện cho vay quá nhiều mà không quản lý. Cần có biện pháp quản lý để họ có thanh khoản, để người gửi tiền yên tâm về khoản tiền của họ trong ngân hàng. Như vậy chính phủ cần làm ba việc.
Tóm lại, một mặt, Chính phủ tiếp tục các chính sách hiện nay, mặt khác, đẩy mạnh các chính sách tài chính và có biện pháp nâng tính thanh khoản của ngân hàng, thường xuyên trao đổi với người dân. Khi đó, lòng tin sẽ trở lại.
Hỏi: Nhiều người cho rằng, Việt Nam nên xem tình hình hiện nay là cơ hội để cải cách mạnh mẽ cơ cấu kinh tế. Ông có đồng tình với quan điểm này?
Việt Nam vẫn đang tiến hành nhiều cải cách cơ cấu: xây dựng một Ngân hàng trung ương đủ mạnh, cải cách khu vực doanh nghiệp nhà nước... Một bài học Việt Nam cần rút ra trong quá trình điều chỉnh, đó là, mặc dù khủng hoảng tạo động lực cho cải cách, nhưng cũng đúng khi nói rằng, cố gắng triển khai cải cách trong khi kinh tế vĩ mô không ổn định không phải là một ý kiến hay.
Ưu tiên hàng đầu phải là giữ và duy trì ổn định, mà trước hết là ổn định thị trường tài chính, tín dụng. Nếu làm được điều này thì phải tiếp tục tiến trình cải cách trong dài hạn.
Hỏi: Duy trì ổn định tình hình trong bối cảnh lòng tin suy giảm như ông nói, không phải là chuyện đơn giản. Ông tư vấn gì để Việt Nam sớm khôi phục lòng tin?
Trả lời: Không chỉ đưa ra chính sách đúng, Chính phủ phải trao đổi rõ ràng với người dân, đại diện doanh nghiệp về những việc Chính phủ đang làm, và những con số thực tế, để mọi người không cần phải phỏng đoán, suy luận về việc Chính phủ có tiền cho việc này hay không, có cắt giảm dự án này hay không.
Một việc nên được xem là ưu tiên, không thể trì hoãn là công bố các dự án đầu tư công bị cắt giảm. Có vẻ như Chính phủ dự kiến sẽ công bố vào tháng 7, nhưng không có lí do gì để buộc doanh nghiệp và người dân đợi tới tháng 7. Đối với những báo cáo tiêu cực, Chính phủ nên chủ động trao đổi để chỉ rõ, tại sao lại nói những báo cáo này chưa chính xác, giải thích để báo giới hiểu rằng những đánh giá đó có thể sai. Đồng thời, Chính phủ cung cấp và làm rõ các chỉ số kinh tế.
Tháng 5 thực sự là một tháng tồi tệ với giá tiêu dùng tăng cao. Trong vài tháng tới, Chính phủ phải làm cho lạm phát có xu hướng đi xuống, tỏ rõ quyết tâm và thường xuyên trao đổi với doanh nghiệp, người dân. Có thể phải vài tháng thì tình hình mới tốt hơn, lạm phát giảm, và người dân có thể tiếp tục tin tưởng vào quyết tâm và thiện chí của chính phủ.
Hỏi: Lạm phát và kinh tế khó khăn là nỗi ám ảnh với từng người dân, khi đời sống của họ chịu tác động hằng ngày. Ông có tư vấn chính sách gì cho Chính phủ để hỗ trợ người dân, nhất là người nghèo đảm bảo cuộc sống?
Trả lời: Đây là một vấn đề phức tạp. Tình hình hiện nay tác động khác nhau lên mỗi đối tượng. Ví dụ, năm 2008, giá gạo đã tăng lên 80%. Đó là một tin xấu đối với bất kì ai mua gạo, nhưng lại rất tốt đối với người sản xuất gạo. Có kẻ thắng và người thua trong nền kinh tế.
Việt Nam là nước xuất khẩu lương thực. Như vậy giá lương thực tăng cao sẽ tốt cho VN, nhưng điều này không đúng với tất cả mọi người. Những người dân đô thị không sản xuất lương thực nhưng tiêu dùng lương thực sẽ gặp khó khăn lớn.
Sẽ rất khó để đưa ra một công cụ riêng rẽ nào để giải quyết vấn đề. Nhưng chúng tôi hy vọng có cơ hội thảo luận những khuyến nghị cụ thể. Chúng tôi đánh giá cao một số chương trình đã được triển khai để hỗ trợ người nghèo, can dự vào các dịch vụ, đóng góp vào việc tạo dựng an sinh xã hội bền vững cho người nghèo, tăng học bổng cho sinh viên, học sinh nghèo... Những biện pháp này có thể giúp phần nào, nhưng VN cần làm nhiều hơn thế nữa.
Hỏi: Liên quan đến chuyện giá gạo, thực tế ở Việt Nam chỉ có những doanh nghiệp lớn được lợi từ giá gạo tăng, trong khi người nông dân không hưởng lợi nhiều?
Trả lời: Đây cũng là vấn đề phức tạp. Giá gạo cao, nhưng chi phí vận chuyển, phân bón cũng tăng cao. Đây là về chi phí, do lạm phát, giá cả các mặt hàng đều tăng. Hai là, có nhiều mức giá khác nhau: giá trên thị trường quốc tế, giá bán trong siêu thị, giá mua vào từ nông dân… Mức giá thay đổi khác nhau ở các khu vực khác nhau.
Trong nhiều trường hợp, cạnh tranh sẽ giúp cân bằng giá cả. Ở Việt Nam, một số mặt hàng giá chuyển động theo đường sin. Một số trường hợp khác thì có các chính sách cụ thể, như hạn chế xuất khẩu để tách giá trong nước khỏi giá quốc tế.
Tình hình thế giới đã khác nhiều so với vài năm trước. Lạm phát không phải là vấn đề của riêng Việt Nam. Giá dầu, giá gạo thế giới đều tăng... Ngay cả khi không có chuyện gì xảy ra đối với chính sách kinh tế của Việt Nam, thì năm 2008 cũng là năm khó khăn hơn 2007. Khi hết thời hạn giữ bình ổn giá các mặt hàng vào tháng 6 tới, Việt Nam cần phải làm gì để giữ giá các mặt hàng? Chúng ta thấy có những vấn đề là nội tại, nhưng có những vấn đề nằm ngoài tầm kiểm soát trong nước và sẽ luôn luôn làm phức tạp hóa tình hình. Chúng ta phải hiểu điều đó. Cho dù có quản lý tốt thế nào thì giá lương thực, giá xăng dầu vẫn tăng. Không thể trốn thực tế đó được.
Hỏi: Vai trò của Chính phủ như thế nào trong việc đảm bảo người sản xuất được hưởng lợi từ việc giá tăng? Đảm bảo sự cạnh tranh bằng cách nào?
Trả lời: Đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh. Không nên để các đối tượng trung gian là người hưởng lợi.
Phản ứng của Chính phủ vào thời điểm sốt gạo vừa qua là một ví dụ tốt, đã giúp giá gạo giảm xuống chỉ sau 48 giờ. Nhưng nó cũng cho thấy là tình huống đã khó khăn và nguy hiểm hơn nhiều. Tôi hi vọng rằng một lần nữa, chính quyền sẽ làm điều đúng đắn, và người dân không mất đi sự kiên nhẫn và biết rằng những yếu tố cơ bản của nền kinh tế VN vẫn còn rất mạnh.
Tuanvietnam.net
KHÓ XẨY RA TẤN CÔNG TIỀN TỆ VÀO VND: Các hedge fund (quỹ đầu tư phòng tránh rủi ro mang tính đầu cơ), sau khi phân tích tình hình kinh tế vĩ mô của một nước, dự đoán rằng không sớm thì muộn nước này sẽ phải phá giá đồng nội tệ. Để có thể trục lợi từ việc phá giá đồng nội tệ, hedge fund sẽ tiến hành ký những hợp đồng mua USD (bán nội tệ) có kỳ hạn (forward contract) với các ngân hàng thương mại trong nước. Chênh lệch giữa giá USD vào thời điểm hiện tại (spot rate) so với giá quy định trong hợp đồng kỳ hạn (forward rate) sẽ bằng đúng với chênh lệch lãi suất giữa đồng nội tệ và USD vào thời điểm hợp đồng được ký.
Việc ký hợp đồng kỳ hạn như thế tương đương với việc bán khống (short sell) đồng nội tệ làm tăng thêm áp lực phá giá đồng nội tệ. Mặc dù hợp đồng mua USD có thời hạn chỉ yêu cầu trao đổi tiền tệ trong tương lai, nhưng một khi lượng bán khống đồng nội tệ quá lớn, các ngân hàng thương mại sẽ buộc phải phòng ngừa rủi ro các nghĩa vụ bán USD trong tương lai của mình bằng cách bán đồng nội tệ và mua vào USD trên thị trường giao ngay (spot).
Ngoài việc gây áp lực phá giá lên đồng nội tệ, các hedge fund sử dụng hợp đồng kỳ hạn như là công cụ để khuếch đại sức mạnh tài chính của mình, nghĩa là chỉ với vài chục triệu USD tiền vốn, họ có thể làm cầu USD tăng lên vài trăm triệu, thậm chỉ vài tỷ USD trên thị trường. Thường thì mức độ khuếch đại vốn của các hedge fund từ 10 đến 100 lần vốn của họ tùy vào từng thị trường. Nếu áp lực phá giá chưa đủ lớn, các hedge fund lại tiếp tục mua USD bằng các hợp đồng kỳ hạn, đẩy cầu USD trên thị trường giao ngay cao lên nữa cho đến khi ngân hàng trung ương buộc phải phá giá. Lúc đó, các hedge fund chỉ việc thanh lý các hợp đồng kỳ hạn còn hiệu lực và kiếm được một khoản lợi nhuận bằng chênh lệch giữa spot rate sau khi đã bị phá giá với forward rate đã ký được trước đây.
Điểm mấu chốt để cơ chế tấn công này có thể thành công là các hợp đồng kỳ hạn mà các hedge fund ký được phải có thời hạn dài hơn khoảng thời gian mà ngân hàng trung ương có thể cầm cự được trước khi phá giá. Nếu các hợp đồng này hết hạn trước đó, hedge fund sẽ buộc phải thực thi việc mua USD với tỷ giá chưa bị phá và ký tiếp hợp đồng kỳ hạn khác.
Tuy nhiên, điều này rất khó khăn vì các hedge fund với mức độ khuếch đại vốn rất lớn sẽ phải thực hiện việc trao đổi ngoại tệ có giá trị có thể lớn hơn nhiều lần vốn của họ. Nếu hedge fund vay nội tệ từ các ngân hàng thương mại bản địa để thực hiện nghĩa vụ này, với lãi suất cao hơn nhiều so với lãi suât nhận được từ khoản USD thu được, nên họ sẽ phải chịu một khoản lỗ lớn do chênh lệch lãi suất cho đến khi cuộc tấn công thành công. Còn nếu hedge fund đi vay USD từ bên ngoài rồi đổi ra nội tệ thì lượng USD đó sẽ làm tăng thêm cung ngoại tệ và làm giảm áp lực lên đồng nội tệ, giảm đi sức mạnh của cuộc tấn công.
Trong cuộc khủng hoảng tài chính tại Thái Lan năm 1997, ngân hàng trung ương nước này (Bank of Thailand - BoT) đã nâng lãi suất lên rất cao khi một số hợp đồng kỳ hạn đến lúc đáo hạn, nhằm hạn chế khả năng các hedge fund vay đồng Baht để có thể ký tiếp các hợp đồng kỳ hạn khác. Tuy nhiên, BoT đã mất cảnh giác trong ba tháng đầu năm 1997, khi để các hedge fund tích trữ được một lượng lớn hợp đồng kỳ hạn (xấp xỉ 15 tỷ USD) có thời hạn rất dài (12 tháng). Điều đáng tiếc nữa là chính BoT đã tham gia trực tiếp vào thị trường kỳ hạn để cố gắng ngăn chặn sức ép lên đồng Baht. Bởi vậy, khi lãi suất đã được đẩy lên rất cao để chống lại việc các hedge fund ký tiếp các hợp đồng kỳ hạn, nền kinh tế Thái Lan đã không chịu nổi chi phí vốn cao trong thời gian dài như vậy nên đã bắt đầu có dấu hiệu suy sụp vào đầu tháng 7/1997. Đến lúc đó, BoT không còn lựa chọn nào khác ngoài phương án phá giá đồng Baht bằng cách tuyên bố thả nổi tỷ giá để cứu nền kinh tế.
Quay về tình hình Việt Nam vào thời điểm hiện tại, liệu các điều kiện cho một cuộc tấn công tiền tệ vào VND đã hội đủ ở Việt Nam hay chưa? Điều kiện cần đầu tiên là sự hiện diện đủ lớn của giới hedge fund có ý định tấn công VND. Sẽ rất khó xác định được điều này vì các hedge fund không bao giờ để lộ kế hoạch kinh doanh của mình. Tuy nhiên, với những thông tin mà tác giả bài viết này có được thì một số hedge fund lớn chưa quan tâm đến Việt Nam trong thời gian gần đây.
Để tiến hành đầu cơ vào một thị trường, hedge fund bao giờ cũng phải quan tâm đến mức độ thanh khoản của thị trường đó. Hiện tại, tính thanh khoản của VND trong các giao dịch tiền tệ vẫn chưa có dấu hiệu gia tăng. Số liệu về non-deliverable forward (NDF - hợp đồng bên ngoài hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam, không yêu cầu hoán đổi thực sự ngoại tệ khi đáo hạn) cho thấy thị trường này vẫn rất kém thanh khoản trong hơn một năm qua (chỉ có khoảng 1-2 hợp đồng được mua bán trong ngày và khoảng cách chênh lệch giữa giá mua và giá bán khá cao). Bởi vậy, khả năng các hedge fund đã bắt đầu lên kế hoạch tấn công VND không cao.
Điều kiện thứ hai là cơ chế quản lý ngoại hối của Việt Nam, hay mức độ mở của tài khoản vốn, đã đủ để các hedge fund bên ngoài mua được hợp đồng kỳ hạn với VND hay chưa. Câu trả lời gần như là chưa. Nếu một hedge fund ở bên ngoài muốn ký hợp đồng kỳ hạn với một ngân hàng thương mại trong nước (hay kể cả ngân hàng thương mại ở một nước nào đó có mua bán VND) thì để đồng USD có thể rời khỏi Việt Nam, về nguyên tắc nó phải được phép Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, hiện tại quy định quản lý ngoại hối của Việt Nam chỉ cho phép dòng vốn có xuất xứ từ hoạt động nhập khẩu, tiêu dùng cá nhân, và chuyển tiền lợi tức được phép rời Việt Nam tự do (theo nghĩa luật định). Tuy vẫn có thể có cách lách luật để chuyển ngoại tệ ra ngoài, nhưng đó không thể là kênh chính để các hedge fund dựa vào cho mục đích tấn công VND.
Điều kiện thứ ba là liệu giới hedge fund có thể tấn công ngay từ trong nước, hoặc một cuộc tấn công có xuất xứ từ người Việt liệu có khả năng xảy ra hay không. Điều này phụ thuộc vào khả năng mua được hợp đồng kỳ hạn từ các ngân hàng thương mại Việt Nam. Cho đến thời điểm này, các sản phẩm dẫn suất (derivatives) trong đó có hợp đồng kỳ hạn vẫn còn khá mới mẻ trong hệ thống tài chính của Việt Nam. Mặc dù đã có một số ngân hàng thương mại bán hợp đồng kỳ hạn cho các doanh nghiệp, nhưng điều này chủ yếu cho mục đích quản lý rủi ro, nghĩa là phải liên quan đến một hoạt động kinh tế có thật (như nhập khẩu).
Hiện tại, mặc dù có sự khan hiếm ngoại tệ, vẫn chưa có một đột biến nào lớn trên thị trường ngoại tệ giữa các ngân hàng thương mại, tức là chưa có dấu hiệu của một đợt phát hành hợp đồng kỳ hạn lớn. Ngoài ra, với sự quản lý chặt chẽ của Ngân hàng Nhà nước đối với các ngân hàng thương mại, ít nhất là với năm ngân hàng thương mại quốc doanh, khả năng các doanh nghiệp hoặc các quĩ đầu tư trong nước dồn dập mua hợp đồng kỳ hạn để đầu cơ mà không bị phát hiện là rất nhỏ.
Điểm cuối cùng là mức độ chênh lệch lãi suất giữa VND và USD. Hiện tại lãi suất cho vay của VND xấp xỉ 18%/năm, trong khi lãi suất huy động USD trong nước khoảng 7%/năm, còn thấp hơn nữa nếu gửi ở nước ngoài. Do vậy, forward rate và spot rate hiên tại sẽ chênh lệch nhau khoảng 11%. Điều đó có nghĩa là nếu một hedge fund ký được hợp đồng kỳ hạn vào thời điểm này, thì họ chỉ có thể có lời nếu VND bị phá giá quá 11% trước khi hợp đồng kỳ hạn đáo hạn. Rõ ràng khoảng cách 11% sẽ làm giảm đáng kể động cơ đầu cơ của các hedge fund.
Tóm lại, với tình hình hiện nay, sẽ khó có thể xảy ra một cuộc tấn công tiền tệ nhằm vào VND từ các hedge fund quốc tế, trong khi khả năng tấn công từ trong nước cũng rất nhỏ.(Vneconomy.com.vn)
Việt Nam sẽ không rơi vào khủng hoảng tài chính: Ngân hàng Goldman Sachs (Mỹ) trong báo cáo công bố ngày 3/6 cho rằng, việc gia tăng lạm phát và thâm hụt cán cân thương mại đang khiến nhà đầu tư quốc tế lo ngại và tăng nguy cơ mang tính hệ thống trong ngắn hạn. Tuy nhiên, Goldman Sachs khẳng định kinh tế Việt Nam vẫn giữ mức tăng trưởng mạnh nếu Chính phủ tiến hành các biện pháp cần thiết.
Báo cáo mới nhất của Goldman Sachs cho rằng kịch bản về một cuộc khủng hoảng tài chính như năm 1997 ở Thái Lan sẽ khó xảy ra tại Việt Nam. Báo cáo chỉ rõ rằng nợ ngắn hạn của Việt Nam chỉ chiếm 8,6% GDP; trái lại, vào năm 1996, con số này ở Thái Lan là 26,3%. Báo cáo của Goldman Sachs được công bố 1 ngày sau khi diễn ra Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam (VBF), nơi đại diện cộng đồng kinh doanh quốc tế vẫn bày tỏ tin tưởng vào triển vọng kinh tế của Việt Nam về trung và dài hạn. (Tienphong online)
|
|
|
Các tin liên quan: |
|
