Báo cáo kinh tế Việt Nam 2009: Dự báo nghiêng về kịch bản lạc quan
Dưới đây là nội dung buổi Họp báo:
1- Khái quát về Báo cáo kinh tế Việt Nam năm 2008.
Năm 2008 đã để lại nhiều bài học chính sách sâu sắc. Hội nhập sâu rộng đem lại nhiều cơ hội nhưng cũng đồng hành với những rủi ro bất ổn kinh tế có thể gia tăng. Việc quyết định mục tiêu chính sách và phản ứng chính sách kịp thời phải dựa trên việc bám sát, cập nhật thông tin cũng như những dự báo, cảnh báo có phân tích. Hiệu lực, hiệu quả của chính sách còn phụ thuộc sự phối hợp các bộ, cơ quan cũng như mối quan hệ thông tin minh bạch, có tính giải trình cao giữa nhà nước với thị trường, công chúng. Cần sự hỗ trợ đối với người nghèo, nhóm đối tượng xã hội dễ bị tổn thương và cả ý chí chính trị vượt qua các nhóm lợi ích. Lựa chọn mục tiêu chính sách và cách thức thực thi hiệu lực và hiệu quả vẫn luôn có giá trị, nhất là trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy thoái lan rộng toàn cầu.
Tăng trưởng GDP 2008 đạt 6,2%
Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2008 của Việt Nam đã chậm lại còn 6,2% so với 8,5% năm 2007. Tuy nhiên, việc đạt mức tăng trưởng này vẫn đáng được ghi nhận nhất là so với nhiều nước đang phát triển và trong khu vực. Vốn đầu tư xã hội vẫn chiếm tỷ trọng cao, bằng 40,8% GDP. Thương mại quốc tế có chuyển biến mới, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá đạt 62,7 tỷ USD, tăng 29,1%; tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hoá đạt 80,7 tỷ USD, tăng 28,6%. Nước ta trở thành nền kinh tế có độ mở cao.
Thêm vào đó là tình trạng bất ổn kinh tế vĩ mô được xem là đặc trưng trong 2008. Lạm phát leo thang, thâm hụt thương mại hàng hoá và cán cân vãng lai lớn, rủi ro hệ thống tài chính ngân hàng tăng. Doanh nghiệp phải thu hẹp quy mô sản xuất, cắt giảm lao động. Thất nghiệp tăng, thu nhập giảm. Điều này đòi hỏi Chính phủ đặc biệt quan tâm tới đảm bảo an sinh xã hội nhưng vẫn cần phải triển khai nhanh hơn, đúng và trúng đối tượng hơn… nhằm đáp ứng hiệu quả thực sự.

2 - Kinh tế Việt Nam 2009 có thể đến “điểm xanh” sớm hơn các nước khác
Trên cơ sở Báo cáo triển vọng kinh tế thế giới do Ngân hàng thế giới (WB) công bố hồi tháng 4/2008 và những tác động tới nền kinh tế Việt Nam cũng như dựa vào phân tích nội tại của kinh tế Việt Nam trong 2009, tính tới cả những điều chỉnh chính sách kinh tế vĩ mô phù hợp với các cam kết WTO, khu vực và song phương cũng như chính sách kinh tế vĩ mô nhằm ngăn chặn đà suy giảm tăng trưởng kinh tế và giảm bớt tốc độ gia tăng của lạm phát, ổn định nền kinh tế, Báo cáo đã đưa ra một số giả định cụ thể về kinh tế thế giới và Việt Nam cho năm 2009.
Nhìn chung, trong năm 2009, nền kinh tế Việt Nam sẽ tăng với tốc độ thấp hơn 2008, lạm phát cao và thâm hụt ngân sách ở mức tương đối lớn. Một số chỉ tiêu dự báo trong đó có chỉ tiêu tăng trưởng GDP theo các kịch bản vẫn thấp so với chỉ tiêu kế hoạch đặt ra trong năm 2009 và đòi hỏi Quốc hội, Chính phủ phải xem xét một cách thận trọng để điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế, xét cả trong nước và quốc tế.

Tuy nhiên, theo Tiễn sỹ Đinh Văn Ân, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung Ương, Dự báo là công tác rất khó khăn bởi chịu tác động của nhiều yếu tố bên ngoài với những thay đổi thường xuyên và biến động liên tục. Bởi thế, dù là một công tác khoa học nhưng dự báo vẫn không tránh khỏi có rủi ro. Nhưng, xét đến thời điểm này, nền kinh tế Việt Nam vẫn nghiêng về kịch bản lạc quan . Sở dĩ như vậy bởi có những thông tin rõ ràng về tình hình kinh tế - xã hội nước ta 4 tháng đầu 2009 cũng như tác động của việc Chính phủ tích cực triển khai gói kích cầu đầu tư và tiêu dùng - một trong nhiều giải pháp giảm thiểu suy thoái kinh tế của đất nước trong bối cảnh chung. Việt Nam có đặc thù riêng là nền kinh tế đang chuyển đổi, mới nổi, nhu cầu đầu tư và thị trường đầu tư vẫn rộng mở và hứa hẹn phát triển. Đặc biệt, cầu có khả năng thanh toán (vấn đề thu nhập, tiền lương, việc làm…) vẫn duy trì phát triển và đã được thực tiễn kiểm nghiệm.
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu lần này không giống với các cuộc khủng hoảng trước đó, khác biệt về cơ cấu và thể chế, đòi hỏi toàn thế giới phải khắc phục. Để giải quyết triệt để và cơ bản cuộc khủng hoảng này cần 5 năm đến 10 năm. Những giải pháp hiện nay đang được các quốc gia triển khai chỉ mang tính tình thế và giải quyết các vấn đề trước mắt, góp phần hạn chế những tác động xấu toàn cầu. Mỹ và châu Âu bị ảnh hưởng nặng nề nhất và họ cần thời gian lâu dài. Khu vực châu Á – Thái Bình Dương bị ảnh hưởng không nhiều, ngoại trừ Nhật Bản và Hàn Quốc có thể bị ảnh hưởng tương tự như Mỹ và châu Âu. Việt Nam và Trung Quốc là những nền kinh tế mới nổi, chủ yếu do thị trường hàng hoá điều chỉnh mà không phải là thị trường tài chính, bởi thế, các nền kinh tế này có thể có điều kiện đạt tới “điểm xanh” sớm hơn các nước khác, nghĩa là ra trước trong cuộc khủng hoảng lần này./.
Các dự báo của các tổ chức quốc tế cho thấy khả năng tăng trưởng của kinh tế Việt Nam 2009 sẽ thấp hơn nhiều so với 2008. Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2009 tương ứng đạt 3,5% và 5,5% so với 2008. Dự báo của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) và Cơ quan Nghiên cứu Kinh tế tạp chí Nhà Kinh tế -he Economist- (EIU) cho thấy trong năm 2009, Việt Nam sẽ tăng trưởng trung bình, tương ứng đạt 4,5% và 0.3%/năm. Như vậy, khả năng đạt mục tiêu tăng trưởng trên 5,5% năm 2009 dường như khó trở thành hiện thực.
Các dự báo của các tổ chức quốc tế cho thấy khả năng tăng trưởng của kinh tế Việt Nam 2009 sẽ thấp hơn nhiều so với 2008. Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2009 tương ứng đạt 3,5% và 5,5% so với 2008. Dự báo của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) và Cơ quan Nghiên cứu Kinh tế tạp chí Nhà Kinh tế -he Economist- (EIU) cho thấy trong năm 2009, Việt Nam sẽ tăng trưởng trung bình, tương ứng đạt 4,5% và 0.3%/năm. Như vậy, khả năng đạt mục tiêu tăng trưởng trên 5,5% năm 2009 dường như khó trở thành hiện thực.
(www.cpv.org.vn ngày 13/5/2009, Báo Nông thôn Ngày nay ngày 14/5/2009)
|
|
