Trang chủ     Đăng ký nhận tin    Ý kiến bạn đọc   Liên kết website English 
Thứ sáu, ngày 10 tháng 02 năm 2012 Tìm kiếm
 Tìm kiếm nâng cao

TÌNH HÌNH KINH TẾ-XÃ HỘI 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2009


 1. Về tăng trưởng kinh tế và các ngành, lĩnh vực sản xuất kinh doanh

(1) Nền kinh tế bị suy giảm nhưng không rơi vào tình trạng khủng hoảng, suy thoái và đang có chiều hướng tăng dần

Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) 6 tháng đầu năm 2009 ước đạt 3,9% (cùng kỳ năm trước tăng 6,47%), trong đó: quý I/2009 tăng 3,1%, quý II/2009; khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,25% (cùng kỳ tăng 3,53%); khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 3,48% (cùng kỳ tăng 6,53%); khu vực dịch vụ tăng 5,5% (cùng kỳ tăng 7,76%); Tăng trưởng ở cả 3 khu vực trong quý II đểu cao hơn so với quý I. Trong tình hình kinh tế thế giới suy thoái, nhiều nước tăng trưởng âm, thì với mức tăng trưởng như trên là kết quả bước đầu của việc thực hiện các chính sách ngăn chặn kinh tế.

(2) Sản xuất công nghiệp tăng trưởng thấp nhưng đang có xu hướng phục hồi; ngành xây dựng có chuyển biến nhanh hơn

Sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm tăng 4,8% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ tăng 16,5%); trong đó khu vực ngoài Nhà nước tăng 7,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 4,5%.
Sản xuất công nghiệp tăng thấp nhưng có chuyển biến nhanh qua từng tháng. Sau khi giảm sâu trong tháng 1, ngành công nghiệp liên tục có tốc độ tăng trong 5 tháng gần đây (tháng 2 tăng 4,1%; tháng 3 tăng 2,4%; tháng 4 tăng 5,6%; tháng 5 tăng 7,2%, tháng 6 tăng 8,2%).
Về lĩnh vực xây dựng có chuyển biến nhanh hơn, nhờ tận dụng được cơ hội giá vật liệu xuống thấp và thị trường bất động sản có dấu hiệu bước đầu phục hồi. Từ mức tăng trưởng âm 0,4% trong năm 2008 đã tăng 8,74% trong 6 tháng đầu năm 2009, trong đó quý I tăng 6,92%; quý II tăng 9,83%. Sự phục hồi của ngành xây dựng và thị trường bất động sản góp phần thúc đẩy phát triển công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng và tăng trưởng của nền kinh tế.
 
(3) Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản phát triển ổn định

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 6 tháng đầu năm tăng 2,5% so với cùng kỳ năm trước (quý I/2009 tăng 0,9%), bao gồm nông nghiệp tăng 1,8%; lâm nghiệp tăng 3,1%; thuỷ sản tăng 4,3%.
 

(4) Khu vực dịch vụ có mức tăng trưởng cao nhất so với nông nghiệp và công nghiệp

Tốc độ tăng khu vực dịch vụ 6 tháng đầu năm 2009 đạt 5,5%. Nhờ triển khai các giải pháp kích cầu tiêu dùng và đẩy mạnh khai thác thị trường nội địa nên tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 6 tháng đầu năm 2009 tăng 20% so với cùng kỳ năm 2008, trong đó thương nghiệp tăng 20,7% ; khách sạn nhà hàng  tăng 17,3%; dịch vụ tăng 17,6%.

Sản lượng vận tải hàng hóa 6 tháng đầu năm 2009 tăng 0,3%  so với cùng kỳ, khối lượng luân chuyển tăng 1,1%; sản lượng vận tải hành khách tăng 7%; khối lượng luân chuyển hành khách tăng 4%.

Các lĩnh vực thông tin, viễn thông tiếp tục có bước phát triển tốt. Số thuê bao điện thoại phát triển mới 6 tháng ước tính đạt 15,3 triệu thuê bao, tăng 54,3% so với cùng kỳ, nâng tổng số thuê bao điện thoại cả nước tính đến cuối tháng 6/2009 ước tính đạt 96,7 triệu thuê bao (trong đó thuê bao di động chiếm 84%) đạt mật độ 111 máy/100 dân (bình quân 18 máy cố định/100 dân). Số thuê bao internet băng rộng cả nước tính đến cuối tháng 6/2009 ước tính đạt 2,6 triệu thuê bao, tăng 54,1% so với cùng kỳ năm trước (đạt mật độ 3,0 thuê bao/100 dân). Số người sử dụng internet ước tính 22,5 triệu người, đạt mật độ 25,9%.

2. Về một số cân đối lớn:

(1) Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước 6 tháng đầu năm ước đạt 188 nghìn tỷ đồng, bằng 48,2% dự toán năm, trong đó thu nội địa (trừ dầu thô) ước đạt 115 nghìn tỷ đồng bằng 49,3% so với dự toán năm; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu ước đạt 45,2 nghìn tỷ đồng bằng 51,3% dự toán năm; thu từ dầu thô đạt 25,5 nghìn tỷ đồng bằng 40% dự toán năm.
 Tổng chi ngân sách Nhà nước 6 tháng đầu năm ước đạt 216,5 nghìn tỷ đồng, bằng 44,2% dự toán năm.

(2) Xuất nhập khẩu

Kim ngạch xuất khẩu 2 tháng gần đây đã tăng so với tháng trước (tháng 6 tăng 6,5%, tháng 5 tăng 3,2%). Kim ngạch xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2009 đạt 27,6 tỷ USD, giảm 10,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) đạt 10,3 tỷ USD, giảm 7,6%.

Kim ngạch nhập khẩu 6 tháng đầu năm 2009 ước đạt 29,7 tỷ USD, giảm 34,1% so với cùng kỳ.

Nhập siêu 6 tháng đầu năm ước tính 2,1 tỷ USD. Trung Quốc vẫn là thị trường nhập siêu lớn nhất của Việt Nam với mức nhập siêu trong 6 tháng ước tính 5 tỷ USD; Mỹ và EU tiếp tục là các thị trường xuất siêu ở mức 3,9 tỷ USD và 2,1 tỷ USD.

(3) Chỉ số giá tiêu dùng

So với tháng trước, chỉ số giá tiêu dùng tháng 1 chỉ tăng 0,32%; tháng 2 tăng 1,17%; tháng 3 giảm 0,17%; tháng 4 tăng 0,35%; tháng 5 tăng 0,44% và tháng 6 tăng 0,55%.So với tháng 12 năn 2008, chỉ số giá tiêu dùng tháng 6 tăng 2,68% (cùng kỳ tăng 18,44%). Chỉ số giá tiêu dùng 6 tháng đầu năm 2009 tăng 10,27% so với 6 tháng năm 2008.

3. Về đầu tư phát triển

Tổng vốn đầu tư toàn xã hội 6 tháng đầu năm ước đạt 322,6 nghìn tỷ đồng, tăng 18,1% so với cùng kỳ năm trước.

Về đầu tư trực tiếp nước ngoài, đã đăng ký cấp mới và tăng vốn cho 374 dự án với tổng vốn là 8,9 tỷ USD, bằng 22,6% cùng kỳ năm 2008, trong đó vốn đăng ký mới là 4,7 tỷ USD, vốn tăng thêm là 4,2 tỷ USD. Tổng vốn FDI thực hiện 6 tháng đầu năm 2009 ước đạt 4 tỷ USD. Trong số các quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam 6 tháng đầu năm 2009, Hoa Kỳ là nhà đầu tư lớn nhất với 3860,9 triệu USD vốn đăng ký cấp mới và vốn bổ sung; tiếp đó là Đài Loan 1265,1 triệu USD; Hàn Quốc 1114,2 triệu USD; quần đảo Virgin thuộc Anh 767,9 triệu USD; Đặc khu HC Hồng Công (TQ) 547,1 triệu USD; Xin-ga-po 403,2 triệu USD; Liên bang Nga 329,8 triệu USD.

Thu hút vốn ODA tính từ đầu năm đạt 1783 triệu USD, tăng 15,9% so với cùng kỳ năm 2008. Các nhà tài trợ có giá trị hiệp định ODA ký kết lớn là: Nhật Bản 852 triệu USD, Ngân hàng Phát triển Châu Á 482 triệu USD và Ngân hàng Thế giới 265 triệu USD. Mức giải ngân vốn ODA 6 tháng ước tính đạt 1270 triệu USD, tăng 9% so với cùng kỳ năm 2008 và bằng 67% kế hoạch giải ngân của cả năm 2009.

4. Về bảo đảm an sinh xã hội, phát triển giáo dục, y tế, văn hóa và các lĩnh vực xã hội khác

Việc triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 (khóa X), các kết luận của Bộ Chính trị, Nghị quyết Quốc hội, Nghị quyết số 30/2008/NĐ-CP đã góp phần bảo đảm an sinh xã hội, tiếp tục hướng vào xóa đói giảm nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, các đối tượng chính sách; tích cực hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững ở 61 huyện nghèo; hỗ trợ người dân khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh,… Chính sách, giải pháp để thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, hỗ trợ đối với lao động mất việc làm. Các chính sách hỗ trợ lãi xuất tín dụng cho vay đầu tư máy móc, thiết bị sản xuất nông nghiệp, xây dựng nhà ở nông thôn, ký túc xá cho sinh viên đang được triển khai tích cực theo các mục tiên đã đề ra.

Về tình hình lao động, việc làm: 6 tháng đầu năm, tổng số lượt lao động được giải quyết việc làm ước đạt 650 nghìn người, bằng 83,3% so với cùng kỳ năm 2008, trong đó xuất khẩu lao động khoảng 3,3 vạn người, bằng 75% so với cùng kỳ.

Theo báo cáo của 48 tỉnh, thành phố, do ảnh hưnởg của suy thoái kinh tế, đến hết quý I/2009 có 64,9 nghìn người mất việc làm và 39 nghìn người thiếu việc làm. Một số lao động đang làm việc ở nước ngoài cũng bị mất việc làm, trong quý I có gần 3 nghìn lao động phải về nước trước thời hạn.

Về triển khai thực hiện Nghị quyết số 30a/2008/NĐ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo, đến nay đã có 11/62 đề án giảm nghèo của các huyện được phê duyệt. Hưởng ứng kêu gọi của Chính phủ, đã có 37 tập đoàn kinh tế, tổng công ty và doanh nghiệp nhận trợ giúp 57 huyện nghèo.

Các chính sách về an sinh xã hội khác đã được triển khai thực hiện kịp thời như: chính sách về điều chỉnh chế độ trợ cấp cho người có công với cách mạng; lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng đối với người về hưu; trợ cấp khó khăn cho người hưởng lương từ ngân sách Nhà nước có đời sống khó khăn, thu nhập thấp; thực hiện điều chỉnh lương tối thiểu đối với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế theo vùng; tăng lương tối thiểu khu vực hành chính sự nghiệp;… chính sách bảo hiểm thất nghiệp đang được tích cực triển khai.

Ngành giáo dục đào tạo tiếp tục thực hiện các chương trình đổi mới giảng dạy và học tập. Theo báo cáo sơ bộ của các địa phương, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp hệ trung học phổ thông năm học 2008-2009 là 83,7%; hệ bổ túc trung học phổ thông là 38,1%. Năm học 2008-2009 cả nước có 1675,7 nghìn sinh viên đại học, cao đẳng, tăng 4,5% so với năm học trước và 628,8 nghìn học sinh trung cấp chuyên nghiệp, tăng 2,3%. Số sinh viên đại học, cao đẳng bình quân 1 vạn dân năm 2009 là 194 người, đạt 97% mục tiêu quốc gia năm 2010.

Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân: trước tình hình dịch bệnh diễn biến theo chiều hướng phức tạp, ngành y tế đã tăng cường kiểm tra, giám sát, tích cực triển khai các biện pháp phong chống các loại dịch bệnh như dịch cúm A (H1N1), tiên chảy cấp, sốt xuất huyết,…Trong 6 tháng đầu năm 2009 (Tính đến ngày 21/6/2009), cả nước có 22,9 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết, tăng 49,8% so với cùng kỳ năm trước; 2,3 nghìn trường hợp mắc bệnh viêm gan vi rút, giảm 15,4%; 26,3 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt rét; 139 trường hợp dương tính với phẩy khuẩn tả, giảm 76,1%; 107 trường hợp viêm não vi rút, giảm 36%; Số người nhiễm HIV/AIDS trên địa bàn cả nước là 189,4 nghìn trường hợp, trong đó 74,7 nghìn người đã chuyển sang giai đoạn AIDS và 42,8 nghìn người đã tử vong do AIDS. Tính đến 17h00 ngày 7/7/2009, cả nước đã có 248 trường hợp dương tính với cúm A(H1N1). Hiện các bệnh nhân đã và đang được điều trị cách ly tại bệnh viện trong tình trạng sức khỏe ổn định, không có trường hợp nào tử vong.

Các hoạt động văn hóa, thể dục thể thao tiếp tục đạt được những kết quả nhất định. Ngành Văn hóa, thể thao và du lịch đã tổ chức nhiều hoạt động văn hoá, nghệ thuật nhân dịp kỷ niệm ngày Sinh nhật Bác Hồ; kỷ niệm 55 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ; kỷ niệm 50 năm Đường Trường Sơn huyền thoại; ngày hội văn hoá các dân tộc Việt Nam, Festival làng nghề truyền thống Huế 2009, Festival biển Nha Trang 2009, và các hoạt động chuẩn bị đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội. Xuất bản 230 triệu bản sách, đạt 54% kế hoạch năm 2009, trong đó 155 triệu bản sách giáo khoa phổ thông, đạt 60% kế hoạch; xuất bản báo chí đạt 440 triệu bản, đạt 51,7% kế hoạch năm. Ngành thể thao đang tập trung chuẩn bị cho Đại hội thể thao châu Á trong nhà (AI games 3) tổ chức tại Việt Nam; Seagames 25 và Paragame tại Lào. /.

(Tổng hợp từ tài liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

 

 
Quay lại Đầu trang In trang Gửi mail

Bản quyền của Vụ Thông Tin Báo Chí - Bộ Ngoại Giao
© Copyright by Press and Information Department - Vietnam Ministry of Foreign Affairs
Email: Banbientap@mofa.gov.vn 
Hiển thị tốt nhất với Internet Explorer. Best viewed with Internet Explorer