Điểm báo ngày 1/2/2010
TÌNH HÌNH KINH TẾ-XÃ HỘI THÁNG 01 NĂM 2010
Bước vào năm 2010, kinh tế thế giới đã và đang phục hồi sau hơn một năm rơi vào tình trạng khủng hoảng tài chính trầm trọng, một số nền kinh tế lớn có nhiều chuyển biến tích cực. Ở trong nước, những kết quả quan trọng đạt được trong phát triển kinh tế-xã hội năm 2009 là cơ sở và động lực để cả nước phấn đấu hoàn thành tốt mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội tổng quát của năm 2010 là: “Nỗ lực phấn đấu phục hồi tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt mức cao hơn năm 2009, tăng tính ổn định kinh tế vĩ mô; nâng cao chất lượng tăng trưởng; ngăn chặn lạm phát cao trở lại; tăng khả năng bảo đảm an sinh xã hội; chủ động hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác kinh tế quốc tế; giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội; bảo đảm yêu cầu quốc phòng, an ninh; phấn đấu đạt mức cao nhất các chỉ tiêu của Kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội 5 năm 2006-2010”. Kết quả đạt được của từng ngành, lĩnh vực tháng 01/2010 cụ thể như sau:
1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
a. Nông nghiệp
Hoạt động sản xuất nông nghiệp trong tháng Một tập trung chủ yếu vào gieo trồng, chăm sóc cây vụ đông xuân ở các địa phương phía Bắc và thu hoạch lúa mùa tại các địa phương phía Nam. Tính đến ngày 15/01/2010, cả nước đã gieo cấy được 1881 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 103,2% cùng kỳ năm trước.
Để chuẩn bị nguồn thực phẩm phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong dịp Tết Nguyên đán, các địa phương đang tập trung chăm sóc tốt đàn gia súc, gia cầm. Công tác kiểm dịch được tăng cường nhằm khống chế dịch bệnh lây lan trên diện rộng.
b. Lâm nghiệp
Kế hoạch trồng rừng năm 2010 đang được các địa phương tích cực triển khai thực hiện, trong đó tập trung chủ yếu vào gieo, ươm và chăm sóc cây giống. Sản lượng gỗ khai thác tháng 01/2010 ước tính đạt 280 nghìn m3, tăng 5,1% so với cùng kỳ năm 2009; sản lượng củi khai thác ước tính đạt 2348 nghìn ste, tăng 1,2%.
c. Thủy sản
Sản lượng thủy sản tháng 01/2010 ước tính đạt 352,3 nghìn tấn, tăng 5% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thủy sản nuôi trồng tháng 01/2010 ước tính đạt 150,5 nghìn tấn, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm 2009. Sản lượng thuỷ sản khai thác tháng 01/2010 ước tính đạt 201,8 nghìn tấn, tăng 5,6% so với cùng kỳ năm trước.
2. Sản xuất công nghiệp
Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 01/2010 ước tính đạt 62,8 nghìn tỷ đồng, tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước với mức tăng 28,4%, trong đó khu vực kinh tế Nhà nước tăng 23,1%; khu vực kinh tế ngoài Nhà nước tăng 31,1% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 29,1%.
3. Đầu tư
Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước thực hiện tháng 01/2010 ước tính đạt 8971,4 tỷ đồng, bằng 7,2% kế hoạch năm, trong đó vốn trung ương quản lý đạt 2143,2 tỷ đồng, bằng 5,7% kế hoạch năm; vốn địa phương quản lý đạt 6828,2 tỷ đồng, bằng 7,8% kế hoạch năm.
Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tháng 01/2010 đạt 318 triệu USD, tăng 71,9% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Vốn đăng ký của 40 dự án được cấp phép mới đạt 285,1 triệu USD (tăng 78,2% về vốn và giảm 20% về số dự án); vốn đăng ký bổ sung của 3 lượt dự án được cấp phép từ các năm trước đạt 32,9 triệu USD. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tháng 01/2010 ước tính đạt 400 triệu USD, tăng 33,3% so với cùng kỳ năm 2009.
4. Thu, chi ngân sách Nhà nước
Tổng thu ngân sách Nhà nước 15 ngày đầu tháng 01/2010 ước tính bằng 4,3% dự toán năm, trong đó các khoản thu nội địa bằng 4,6%; thu từ dầu thô bằng 3,2%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu bằng 4,2%. Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước bằng 8,7%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) bằng 2,6%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước bằng 2,7%; thuế thu nhập cá nhân bằng 2,2%; thu phí xăng dầu bằng 2%; thu phí, lệ phí bằng 2,2%.
Tổng chi ngân sách Nhà nước 15 ngày đầu tháng 01/2010 ước tính bằng 3,7% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển bằng 2,5%; chi phát triển sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể bằng 4,2%; chi trả nợ và viện trợ bằng 4,1%.
5. Thương mại, giá cả, dịch vụ
a. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Thị trường hàng hoá và dịch vụ trong tháng 01/2010 sôi động hơn so với tháng trước do nhu cầu tiêu dùng của dân cư tăng lên trong dịp Tết Nguyên đán. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 01/2010 theo giá thực tế ước tính đạt 121,2 nghìn tỷ đồng, tăng 23,1% so với cùng kỳ năm 2009.
b. Xuất, nhập khẩu hàng hóa
Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 01/2010 ước tính đạt 4,9 tỷ USD, giảm 10,4% so với tháng trước, tăng 28,1% so với cùng kỳ năm 2009, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 2,2 tỷ USD, tăng 22,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 2,7 tỷ USD, tăng 32,9%.
Kim ngạch xuất khẩu tháng 01/2010 của hầu hết các mặt hàng đều tăng so với cùng kỳ năm 2009, trong đó hàng dệt may đạt 750 triệu USD, tăng 3,9%; dầu thô đạt 570 triệu USD, tăng 24,5% (giá tăng 114%); giày dép đạt 380 triệu USD, tăng 6,3%; thủy sản đạt 270 triệu USD, tăng 27,9%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 270 triệu USD, tăng 37%; điện tử, máy tính đạt 230 triệu USD, tăng 56,4%; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng đạt 210 triệu USD, tăng 139,9%; gạo đạt 165 triệu USD, tăng 50,6% (giá tăng 22,7%); cao su đạt 155 triệu USD, tăng 210% (giá tăng 87%).
Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 01/2010 ước tính đạt 6,2 tỷ USD, giảm 16% so với tháng trước và tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2009 với mức tăng 86,6%, bao gồm khu vực kinh tế trong nước đạt 3,8 tỷ USD, tăng 82,6% so với tháng 01/2009; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 2,4 tỷ USD, tăng 93,4%. Tương tự như xuất khẩu, nguyên nhân chủ yếu làm tăng kim ngạch hàng hoá nhập khẩu tháng 01/2010 so với cùng kỳ năm trước một mặt do sản xuất trong nước phục hồi, mặt khác do giá một số nguyên liệu trên thị trường thế giới tăng.
c. Chỉ số giá tiêu dùng
Giá tiêu dùng tháng 01/2010 tăng 1,36% so với tháng trước, trong đó nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng cao nhất với 2,11% (lương thực tăng 4,41%; thực phẩm tăng 1,65%); nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 1,66%; may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 1,24%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,14%. Các nhóm hàng hoá và dịch vụ có chỉ số giá tăng thấp hơn gồm: Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,58%; giao thông tăng 0,53%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,33%; hai nhóm gồm: giáo dục, thuốc và dịch vụ y tế đều tăng 0,27%. Riêng nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,11%. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 01/2010 so với cùng kỳ năm trước tăng 7,62%.
d. Vận tải hành khách và hàng hoá
Vận chuyển hành khách tháng 01/2010 ước tính đạt 184,5 triệu lượt khách, tăng 6,6% và 7,8 tỷ lượt khách.km, tăng 8,2% so với cùng kỳ năm trước.
Khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 01/2010 ước tính đạt 54,6 triệu tấn, tăng 5,1% và 15,5 tỷ tấn.km, tăng 11,2% so với cùng kỳ năm 2009.
e. Bưu chính, viễn thông
Số thuê bao điện thoại mới tháng 01/2010 cả nước ước tính đạt 4,9 triệu thuê bao, tăng 145,3% so với cùng kỳ năm 2009, bao gồm 560 nghìn thuê bao cố định, tăng 47,4% và 4,3 triệu thuê bao di động, tăng 168,6%. Số thuê bao điện thoại cả nước tính đến hết tháng 01/2010 ước tính đạt 135,3 triệu thuê bao, tăng 62,3% so với cùng thời điểm năm trước, bao gồm 19,6 triệu thuê bao cố định, tăng 35,3% và 115,7 triệu thuê bao di động, tăng 68%.
Số thuê bao internet băng rộng trên cả nước tính đến hết tháng 01/2010 ước tính đạt 3,1 triệu thuê bao, tăng 45,8% so với cùng thời điểm năm trước.
f. Khách quốc tế đến Việt Nam
Trong tháng 01/2010, khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 416,2 nghìn lượt người, tăng 20,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến với mục đích du lịch, nghỉ dưỡng đạt 261,1 nghìn lượt người, tăng 27,4%.
Một số quốc gia và vùng lãnh thổ có số lượng khách đến nước ta trong tháng 01/2010 tăng khá so với cùng kỳ năm 2009, trong đó Trung Quốc đạt 59,4 nghìn lượt người, tăng 94,9%; Hàn Quốc đạt 42,1 nghìn lượt người, tăng 36,1%; Nhật Bản đạt 33,9 nghìn lượt người, tăng 4,2%; Ôx-trây-li-a đạt 31,8 nghìn lượt người, tăng 2,1%; Đài Loan đạt 23,6 nghìn lượt người, tăng 18,6%; Ma-lai-xi-a đạt 13,8 nghìn lượt người, tăng 16,7%.
Khái quát lại, kinh tế-xã hội nước ta tháng 01/2010 đã đạt được những kết quả khá. Sản xuất công nghiệp tăng cao; các ngành dịch vụ phát triển mạnh; đời sống dân cư, đặc biệt là người nghèo và các gia đình, đối tượng chính sách được quan tâm, hỗ trợ kịp thời. Tốc độ tăng của các ngành, các lĩnh vực trong tháng 01/2010 cao hơn nhiều so với cùng kỳ năm trước do nền kinh tế đang trên đà phục hồi, trong khi kết quả sản xuất của tháng 01/2009 chỉ đạt mức thấp do tác động của suy giảm kinh tế và khủng hoảng tài chính toàn cầu; mặt khác do Tết Kỷ Sửu rơi vào tháng Một năm trước nên thời gian thực tế sản xuất, kinh doanh trong tháng ngắn hơn. Để đạt được kết quả cao và có tính bền vững hơn, trong những tháng tiếp theo cần thực hiện quyết liệt 6 nhiệm vụ và 8 nhóm giải pháp được nêu trong Nghị quyết số 03/NQ-CP ngày 15/01/2010 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2010. Theo đó trước mắt phải làm tốt một số nhiệm vụ trọng tâm sau đây:
Một là, các Bộ/ngành liên quan và các địa phương phía Bắc cần phối hợp chặt chẽ và tích cực triển khai đồng bộ các giải pháp chống hạn cho vụ đông xuân; sửa chữa, nạo vét và nâng cấp hệ thống thuỷ lợi; ưu tiên nguồn điện để đảm bảo đủ nước phục vụ sản xuất nông nghiệp. Tăng cường áp dụng các biện pháp cần thiết nhằm phòng, chống các dịch bệnh xảy ra trên diện tích lúa đông xuân đã gieo trồng;
Hai là, đẩy mạnh sản xuất những loại hàng hoá thiết yếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng tăng lên trong dịp Tết Nguyên đán, nhất là các mặt hàng thực phẩm và nhu yếu phẩm. Mở rộng mạng lưới thu mua để có đủ nguồn hàng, đồng thời tổ chức mạng lưới phân phối hợp lý tạo điều kiện cho người dân vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa tiếp cận được các mặt hàng thiết yếu trong dịp Tết. Đẩy mạnh các hoạt động chăm lo giúp đỡ người nghèo, người gặp hoàn cảnh khó khăn, đảm bảo cho các gia đình chính sách, các hộ nghèo có điều kiện vui xuân đón Tết.
Ba là, giá tiêu dùng một số nhóm hàng đã có xu hướng tăng nhẹ do nhu cầu mua sắm trong dân tăng lên trong dịp Tết, do đó các cơ quan chức năng cần triển khai tích cực chương trình bình ổn giá nhằm ngăn ngừa lạm phát tăng trở lại. Kiểm soát chặt chẽ thị trường giá cả các mặt hàng, đặc biệt đối với các mặt hàng độc quyền; tăng cường kiểm tra việc thu các loại phí dịch vụ, không để xảy ra hiện tượng lợi dụng dịp Tết để tăng giá trái phép. Ngăn chặn tình trạng đầu cơ gây thiếu hàng hoá giả tạo để trục lợi. Tăng cường hoạt động chống buôn lậu và gian lận thương mại; kiểm soát chặt chẽ các hoạt động khuyến mại, vận chuyển, buôn bán hàng hóa, nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;
Bốn là, thực hiện nghiêm Công điện số 67/CĐ-TTg ngày 13/01/2010 của Thủ tướng Chính phủ về bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm trong dịp Tết Nguyên đán Canh Dần. Các cơ quan chức năng phải tăng cường công tác thanh tra việc chấp hành quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh có nguy cơ cao về mất an toàn vệ sinh thực phẩm, nhất là kiểm tra các sản phẩm có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người tiêu dùng như: Thực phẩm, mỹ phẩm, thuốc, rượu, nước giải khát.v.v…; đồng thời giám sát chặt chẽ việc lưu thông, phân phối các mặt hàng trên và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến kiến thức pháp luật, thực hành về vệ sinh an toàn thực phẩm nhằm hạn chế tới mức thấp nhất các vụ ngộ độc thực phẩm, bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng;
Năm là, để bảo đảm an ninh trật tự trong dịp Tết Nguyên đán Canh Dần, các Bộ/ngành và địa phương cần tập trung chỉ đạo quyết liệt việc triển khai thực hiện các giải pháp bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, an toàn giao thông, văn minh đô thị theo tinh thần Công điện số 133/CĐ-TTg ngày 16/01/2010 của Thủ tướng Chính phủ. Tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát, phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm theo đúng quy định của pháp luật.
(Tổng cục Thống kê)
|
|
