Trang chủ Phản hồi Ngôn ngữ


 
Công cụ làm việc cá nhân

THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ CỘNG HÒA CA-DẮC-XTAN VÀ QUAN HỆ VỚI VIỆT NAM

CỘNG HOÀ KAZAKHSTAN

I. Khái quát chung

- Tên nước: Cộng hoà Kazakhstan (Republic of Kazakhstan)
- Thủ đô: Astana (A-xta-na) là thủ đô của Kazakhstan từ 6/7/1998. Thủ đô cũ là Almaty.
- Ngày độc lập: 16/12/1991
- Ngày Cộng hoà: 25/10/1990
- Vị trí địa lý: Trung Á
- Khí hậu: lục địa, mùa hè nóng, mùa đông lạnh, khô
- Tài nguyên thiên nhiên: theo số liệu 2007, Kazakhstan đứng thứ hai về trữ lượng urani, crom, chì và kẽm; đứng thứ ba về man-gan; thứ năm về đồng; thuộc 10 nước có trự lượng lớn về than đá, sắt, vàng; thuộc 10 nước có trữ lượng dầu và khí tự nhiên lớn nhất thế giới. Dự trữ dầu của Kazakhstan khoảng 4,8 tỷ tấn, chiếm 3% tổng dự trữ thế giới. Hiện nay Kazakhstan tham gia tất cả các tuyến đường ống dẫn dầu lớn từ Trung Á ra ngoài: Consorsium Caspi, Bacu-Tbilisi-Djeikhan, Kazakhstan-Trung Quốc, Burgaz-Aleksandropulis, đường ống gaz nội Caspi.
- Dân số: hơn 15.600.000 người (số liệu tháng 9/2008), trong đó: người Ca-dắc chiếm: 53,4%, người Nga: 30%, người U-crai-na: 3,7%, người U-dơ-bếch: 2,5%, người Đức: 2,4%, người Tây Tạng Trung Quốc: 1,4%, người có quốc tịch khác chiếm: 6,6%. Có gần 130 sắc tộc.
- Tôn giáo: Hồi giáo chiếm 47%; chính thống Nga chiếm 44%, Tin lành chiếm 2%, đạo khác chiếm 7%.
- Ngôn ngữ chính thức: tiếng Kazakhi (ngôn ngữ Nhà nước). Tiếng Nga là ngôn ngữ chính thức được sử dụng trong thương mại và được coi là ngôn ngữ giao tiếp của các dân tộc.
- Đơn vị tiền tệ: đồng Ten-gơ. Tỷ giá 1USD = 150 Ten-gơ (tỷ giá 01/3/2009)
- Cơ cấu hành chính: 14 tỉnh và 02 thành phố quốc gia (Astana và Almaty) và 01 t.p đặc biệt (Baikonur).

II. Thể chế chính trị

2.1. Theo Hiến pháp 1995, chế độ chính trị ở Kazakhstan là Cộng hoà Tổng thống. Tổng thống là nhân vật trung tâm của hệ thống chính trị, là người đứng đầu quốc gia, Tổng chỉ huy tối cao các lực lượng vũ trang, có quyền phủ quyết các dự luật được Quốc hội thông qua quy định những phương hướng chính của chính sách đối nội và đối ngoại, đại diện cho Kazakhstan trên trường quốc tế. Với sự chấp thuận của Quốc hội, Tổng thống chỉ định Thủ tướng, những người đứng đầu các bộ sức mạnh và ngân hàng quốc gia. Tổng thống cũng có quyền bổ nhiệm lãnh đạo các tỉnh (14) và thành phố (02), các bộ trưởng, một phần đại biểu Thượng viện, lãnh đạo các công ty nhà nước, hiệu trưởng các trường đại học lớn. Chính phủ trực tiếp dưới sự điều hành của Tổng thống và được hình thành không theo nguyên tắc đa số của quốc hội.

Hiến pháp cũng quy định, trực thuộc Tổng thống còn có một hệ thống các cơ quan tư vấn chuyên môn. Quan trọng nhất trong các cơ quan này là: Hội đồng Quốc gia, Hội đồng An ninh, Hội đồng Các dân tộc Kazakhstan (Mặt trận Tổ quốc), Hội đồng Toà án Tối cao, Uỷ ban về quyền con người, Uỷ ban quốc gia về gia đình và phụ nữ, Uỷ ban quốc gia về vấn đề dân chủ hoá và xã hội công dân.

Tổng Thống được bầu trực tiếp thông qua phổ thông đầu phiếu của tất cả công dân từ 18 tuổi trở lên. Nhiệm kỳ của tổng thống là 7 năm. Nursuntan Nazarbayev được bầu làm TTh đầu tiên ngày 01/12/1991. Ngày 04/12/2005 Nazarbayev đã được bầu lại làm Tổng thống nhiệm kỳ 7 năm.

Ngày 17/5/2007, Quốc hội Kazakhstan đã thông qua Luật sửa đổi Hiến pháp. Theo Luật sửa đổi này: nhiệm kỳ tổng thống giảm xuống còn 5 năm, nhưng sẽ được áp dụng từ lần bầu cử tổng thống năm 2012; một người không được làm tổng thống không quá hai nhiệm kỳ liền, trừ Tổng thống đầu tiên là Nazarbayev.

2.2. Chính quyền lập pháp.

Theo Hiến pháp 1995, Quốc hội gồm hai viện: Hạ viện (Madjilist) và Thượng viện (Senata). Thượng viện có 39 ghế, trong đó 7 ghế do Tổng thống chỉ định, 32 Thượng nghị sĩ khác được bầu bằng phổ thông đầu phiếu từ 14 tỉnh, thủ đô Ác-xtan-na và thành phố An-ma-ta. Mỗi tỉnh, thành phố bầu 02 người. Nhiệm kỳ của thượng viện là 6 năm. Tháng 8/2005 tiến hành bầu cử 50%  thành viên Thượng viện; 10/2008 đã bầu 50% còn lại.

Hạ viện có 77 ghế, gồm 67 được bầu từ các đơn vị bầu cử và 10 ghế từ các đảng thắng cử. Nhiệm kỳ Hạ viện 5 năm. Các hạ nghị sỹ và Chính phủ có quyền nêu ra sáng kiến lập pháp – đưa ra các dự luật. Năm 2004 đã tiến hành bầu cử (hai vòng) Hạ viện. Kết quả đảng Otan (đảng Tổ quốc của TTh) giành được 23 ghế, đảng Civic (công dân) – 13 ghế, Đảng Cộng sản – 03 ghế, đảng Nhân dân tập thể - 01 ghế, không đảng phái được 34 ghế.

Theo đó, Hạ viện sẽ tăng thêm 30 ghế thành 107 ghế; được bầu theo danh sách các đảng phái chính trị. 8/2007 đã tổ chức bầu cử Hạ viện theo luật mới. Kết quả, đảng Dân chủ nhân dân của TTh (Nur Otan) giành được toàn bộ 107 ghế. Majilis trở thành Hạ viện đơn đảng.

Theo Luật sửa đổi Hiến pháp (5/2007), số ghế của Thượng viện cũng tăng thêm 8 ghế thành 47 ghế; Tổng thống chỉ định 15 và các đơn vị hành chính bầu 32 ghế.

Các thẩm quyền cơ bản chung của cả hai viện là: thông qua Ngân sách nhà nước; phê chuẩn ứng cử viên thủ tướng, chủ tịch Ngân hàng Quốc gia và lãnh đạo các bộ sức mạnh do tổng thống đề cử; thông qua các quyết định về việc sử dụng lực lượng vũ trang để thực hiện cam kết quốc tế về gìn giữ hoà bình.

Thượng viện có thêm các thẩm quyền: thông qua ứng cử viên (hoặc loại bỏ quyền bất khả xâm phạm) chủ tịch và các thẩm phán của toà án tối cao, chủ tịch Tổng viện công tố (viện kiểm soát) và chủ tịch Uỷ ban an ninh quốc gia.

Hạ viện có thêm các thẩm quyền: xem xét và thông qua các sắc luật, bầu (hoặc bãi nhiệm) chủ tịch, phó chủ tịch, thư ký và các thành viên của Uỷ ban bầu cử Trung ương theo kiến nghị của tổng thống.

Tổng thống có quyền giải tán quốc hội trong trường hợp quốc hội biểu quyết bất tín nhiệm chính phủ, hai lần liền không chấp nhận ứng cử viên thủ tướng hoặc khủng hoẳng chính trị nghiêm trọng trong nước. Quốc hội không thể bị giải tán trong thời kỳ của tình trạng khẩn cấp hoặc chiến tranh, trong 6 tháng cuối cùng của quyền hạn tổng thống, cũng như trong một năm từ sau cuộc giải tán trước đó.

Nhìn chung, thẩm quyền của quốc hội về kiểm soát đối với chính phủ là hạn chế. Chính quyền địa phương được thống nhất trong nghành dọc được tập trung hoá cao độ, quyền tự quản địa phương hầu như không có.

Cơ cấu tổ chức Thượng viện (Senata)

Đứng đầu là Chủ tịch và hai Phó Chủ tịch, bao gồm:  
  
- Uỷ ban về pháp luật và những vấn đề pháp lý
- Uỷ ban về tài chính và ngân sách
- Uỷ ban về quan hệ quốc tế, quốc phòng và an ninh
- Uỷ ban về chính sách kinh tế và khu vực
- Uỷ ban phát triển văn hoá-xã hội
- Uỷ ban về vấn đề nông nghiệp và bảo vệ môi trường

Cơ cấu tổ chức Hạ viện (Majilist)

Đứng đầu là Chủ tịch và hai Phó Chủ tịch, bao gồm:  
  
- Uỷ ban về pháp luật và cải cách pháp luật và toà án
- Uỷ ban về cải cách kinh tế và phát triển khu vực
- Uỷ ban về tài chính và ngân sách
- Uỷ ban về những vấn đề nông nghiệp
- Uỷ ban về môi sinh và sử dụng tài nguyên
- Uỷ ban phát triển văn hoá-xã hội
- Uỷ ban quan hệ quốc tế, quốc phòng và an ninh.

2.3 . Chính quyền hành pháp

Chính phủ là cơ quan chủ yếu của chính quyền hành pháp. Chính phủ được tổng thống lập ra qua việc giới thiệu thủ tướng và chịu trách nhiệm trước tổng thống và quốc hội về chương trình hành động của mình. Cơ cấu của chính phủ được quyết định bằng sắc lệnh của tổng thống. Đứng đầu chính phủ là thủ tướng, dưới thủ tướng là ba phó thủ tướng và 16 bộ trưởng. Các thành viên chính phủ do tổng thống kiến nghị và quốc hội phê chuẩn.

Thủ tướng hiện nay là Ca-rim Ma-xi-mốp, được bổ nhiệm 10/01/2007
Bộ trưởng Bộ Ngoại giao là  Ma-rát Ta-din, bổ nhiệm 11/1/2007.
                              
2.4. Cơ quan Tư pháp:  gồm Toà án Tối cao với 44 thành viên và Hội đồng Hiến pháp với 7 thành viên.

2.5. Các cơ quan tư vấn trực thuộc tổng thống

Hội đồng An ninh, thành phần gồm có: thủ tướng, bộ trưởng - quốc vụ khanh, chánh văn phòng tổng thống và các cố vấn của tổng thống, lãnh đạo các bộ sức mạnh (Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ, Uỷ ban An ninh quốc gia, Cục bảo vệ Tổng thống, Bộ Khẩn cấp, Tổng Công tố, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và Bộ Tài chính). Nhiệm vụ chính của Hội đồng là phối hợp hoạt động của các cơ cấu sức mạnh, các cơ quan hành pháp trung ương và địa phương, nghiên cứu các dự luật và kiểm soạt việc thực hiện các văn bản pháp quy. Hoạt động của Hội đồng An ninh do ban thư ký riêng của Hội đồng bảo đảm.

Hội đồng Các dân tộc Kazakhstan là cơ quan tư vấn trực thuộc tổng thống, đồng thời cũng là một cơ cấu đặc biệt trong hệ thống quản lý nhà nước. Chủ tịch Hội đồng là tổng thống, các thành viên là đại diện tất cả các nhóm sắc tộc. Nhiệm vụ chính của Hội đồng là hài hoà hoá mối quan hệ giữa các dân tộc sinh sống trong nước. Các quyết định của Hội đồng chỉ mang tính khuyến nghị.

2.6. Các đảng phái và tổ chức chính trị-xã hội khác

Hiến pháp 1995 bảo đảm các quyền của tất cả các đảng phái và phong trào, trong khi cấm các hoạt động nhằm “thay đổi bằng bạo lực chế độ hợp hiến, vi phạm toàn vẹn (lãnh thổ) nước Cộng hoà, phá vỡ an ninh quốc gia, gây chia rẽ về dòng tộc và tầng lớp, về tôn giáo, sắc tộc, chủng tộc, về xã hội”. Không cho phép thành lập các “nhóm quân sự hoá không được luật pháp nhìn nhận”, cũng như sự can thiệp phi luật pháp của nhà nước vào công việc của các tổ chức xã hội.

2.6.1 Các đảng phái chính trị.

a. Các đảng thân TTh: (1) đảng Nhân dân Dân chủ “Nur Otan” (thành lập từ 02/1999, tên gọi có từ 11/2006 sau khi đảng Nông nghiệp, đảng Asar của Dariga là con gái đầu của Nazarbayev và đảng Civic sáp nhập vào Otan; có gần 770 nghìn đảng viên; Chủ tịch là N.Nazarbayev); (2) đảng Nông thôn “Aul” (thành lập 03/2002, có hơn 60 nghìn đ/v, Chủ tịch là Gani Kaliev); (3) đảng Dân chủ Xã hội Nhân dân (thành lập 01/2007, có 140 nghìn đ/v, Chủ tịch là Djarmakhan Tuiakbai); (4) đảng những người yêu nước (lập 08/2000, có 172 nghìn đ/v, Chủ tịch là Gani Kasymov); và (5) đảng Tinh thần –“Rukhaniyat” (lập 10/2003, 72 ngh. đ/v, Ch.tịch là Altynshash Djaganov).

b. Các đảng đối lập: (1) Đảng Con đường sáng “Ak Zhol” (thành lập 11/2004, 90 ngh. đ/v, Chủ tịch là Alikhan Baimenov); (2) “Azat” – nguyên là True Ak Zhol  (lập 05/2006, hơn 87 ngh. đ/v, Chủ tịch là Bulat Abilov); (3) đảng đối lập kiên định là Đảng Cộng sản Kazakhstan (thành lập 06/1994, gần 60 ngh. đ/v, Chủ tịch là Serikbolsyn Apdildin), bị chính quyền kiểm soát hặt chẽ, sự ủng hộ chính trị trong xã hội đối với đảng này là không đáng kể; (4) đảng Nhân dân Cộng sản Kazakhstan (lập 06/2004, 90 ngh, đ/v, Chủ tịch là Vladislav Kosarev); (5) đảng Công lý “Adilet” (06/2004, 70 ngh. đ/v, Maksut Narikbayev).

2.6.2 Các lực lượng cấp tiến và cực đoan là ít và yếu. Đó là các nhóm nhỏ của những kẻ cực đoan, của những người dân tộc chủ nghĩa Nga, dân tộc chủ nghĩa Kazakh và Hồi giáo chính thống.

Các nhóm này nằm ngoài lề đời sống chính trị và bị đặt dưới sự giám sát chặt chẽ của chính phủ.

Một số hành viên của nhóm dân tộc chủ nghĩa Kazakh đã tham gia tổ chức Al-qaida và đã dính líu vào các vụ khủng bố ở Uzbekistan và Afghanistan.

Bên ngoài các cộng đồng sắc tộc Kazakh nhỏ, nghèo đói và sống ở vùng nông thôn ở khu vực phía Bắc Kazakhstan, không có cơ sở thích hợp cho chủ nghĩa Hồi giáo chính thống.

III. Một số nét về lịch sử

Trước thời đồ Đồng, Kazakhstan ngày nay nằm trong vùng lãnh thổ mênh mông (bao gồm lãnh thổ Ucraina, Nam nước Nga, cả Trung Á đến dãy Altai và phía vùng Tây Bắc Trung Quốc ngày nay), nơi cư trú các bộ tộc khác nhau, không có nền văn hoá chung. Bước sang thời đại đồ Đồng (2 nghìn năm trước Công nguyên) những người du mục chủ nhân của “văn hoá chăn nuôi” (animal art) đã khống chế cả không gian này. Sau này họ được gọi là những người Scythians.

Hàng thế kỷ sau đó, các vùng đất của Kazakhstan ngày nay đã bị sáp nhập vào các đế chế khác nhau. Dưới đế chế Mông cổ (TK XIII-XIV), phần lớn lãnh thổ thuộc về “nhà nước” (polity) Chagatai. Khoảng năm1465 dưới sự lãnh đạo của Karay và Jani Beg, gần 200.000 thần dân bất mãn đã tách khỏi Hãn Uzbek là Abu’l-Khayr (Abu al-Khayr, thuộc đế chế Mông cổ) đi đến Hãn Mughulistan và cư trú tại vùng đất giữa sông Chu (nằm ở phía Bắc Kyrgyzstan và Nam Kazakhstan ngày nay) và Talas (chảy dọc lãnh thổ Kyrgyzstan và Kazakhstan). Từ đó những người Uzbeks ly khai này được biết đến như là những người Uzbeks Kazakh (người Uzebeks độc lập; Kazakh có nghĩa là độc lập). Dần dần do sự phát triển khác nhau nên lối sống của nhóm người này cũng khác so với những người Uzbeks không ly khai. Nếu như người Uzbeks không ly khai là dân có lối sống định cư hơn thì ngược lại người Kazakhs ưa lối sống du mục hơn.

Vào đầu TK XVI, một nhóm hùng mạnh nhất đã thành lập đế chế của mình dưới sự cai trị của Hãn đầy tài năng Kasym. Đế chế này kiểm soát hầu như toàn bộ vùng lãnh thổ rộng lớn từ bờ phía đông biển Caspi đến sông Irtysh và triển núi phía Tây của dãy Altai, từ Bắc biển Aral đến dãy núi Ural của Nga.

Nhưng cái chết của Hãn Kasym vào năm 1518 đã đưa đến hậu quả là đế chế bị tan rã thành ba tập đoàn riêng rẽ. Đó là tập đoàn “Lớn” (Great Horde) kiểm soát vùng lãnh thổ Đông-Nam của Kazakhstan đến Bắc dãy núi Tiên Shan của Trung Quốc ngày nay. Tiếp theo là tập đoàn “Trung” -  vùng thảo nguyên trung tâm phía Đông biển Aral; và tập đoàn “Nhỏ” - chiếm vùng đất giữa biển Aral và sông Ural. Trong mỗi tập đoàn quyền hành của hãn có khuynh hướng bị cắt bớt bởi quyền lực của các tù trưởng (tộc trưởng) được gọi là sultans và các beys - trưởng nhóm (tạo nên bộ tộc). Người con út (thứ ba) của Hãn Kasym cai trị vùng thảo nguyên trung tâm Kazakh là Haqq Nazar (1538-1580) đã khắc phục được tình trạng này và đã thành công trong việc tái thống nhất ba tập đoàn, bắt đầu các cuộc tập kích có hệ thống vào Transoxania (tên gọi vương quốc nằm trên vùng lãnh thổ Uzbekistan, Tajikistan và Nam Kazakhstan ngày nay). Qúa trình này được những người kế vị ông ta  tiếp tục thực hiện cho đến hãn Tevkkel (1586-98), người thậm chí đã chiếm đóng Samarkand (thành phố cổ lớn tại Uzbekistan ngày nay) một thời gian.

Đến đầu TK XVII chiều hướng tan vỡ được dừng lại ở thời Hãn Kasym lại tái diễn và trở thành phổ biến trên vùng đất Kazakh. Hệ quả là sự phân liệt về quyền lực giữa ba tập đoàn ngày càng sâu sắc hơn. Một loạt cuộc chiến tranh diễn ra trong những năm 1680 với Oyrat là liên bang các bộ tộc Mông Cổ càng đẩy nhanh thêm chiều hướng diễn biến này. Sự tái liên minh và phản kích tạm thời dưới thời Hãn Teuke (1680-1718), người đã làm nên bộ luật kết hợp truyền thống Hồi giáo và bản địa. Nhưng hoà bình đã không tồn tại được lâu. Vào năm 1723, “Thảm hoạ to lớn” - một cuộc xâm lược của những người Dzungars là một nhóm thuộc các bộ tộc Oyrats một lần nữa đã phá vỡ sự ổn định trong khu vực. Diễn biến này đã tạo cơ hội cho đế chế Mãn Châu – Thanh (Trung Quốc) can thiệp và sáp nhập một phần rộng lớn lãnh thổ phía Đông của Kazakh vào Trung Quốc (năm 1771).

Khoảng trống quyền lực xuất hiện tại vùng lãnh thổ phía Tây Kazakh đã thu hút sự chú ý của đế chế Nga. Nga đã nắm quyền kiểm soát vùng đất này thông qua quá trình lấn chiếm từng bước. Năm 1731 tập đoàn “Nhỏ” đã chấp nhận sự bảo hộ của Nga. Các cuộc khởi nghĩa của người Kazakh (1792-1794) chống lại ách cai trị của đế chế Nga đã bị đàn áp và các hãn Kazakh đã bị thủ tiêu hoàn toàn vào các năm 1822-1848. Dưới thời Nga Hoàng đã có những cuộc di cư lớn của nông dân Nga đến các thảo nguyên của Kazakh.

Sau Cách mạng tháng 10 Nga, người Kazakh theo đường lối dân tộc chủ nghĩa đã thành lập một chính phủ khu vực và đòi quyền tự trị. Năm 1920, Hồng quân Liên Xô tiến vào Kazakhstan thành lập nước Cộng hoà tự trị Kazakhstan. Nhưng phải đến năm 1936 Kazakhstan mới trở thành thành viên chính thức của Liên Xô - một trong 15 nước Cộng hoà thuộc Liên Xô. Từ 1939 trở đi (đến 1981 là đỉnh cao) Kazakhstan bước vào giai đoạn phát triển mạnh mẽ về mọi mặt (trừ đối ngoại): kinh tế, giao thông vận tải, khoa học và giáo dục, văn hoá và tôn giáo. Kết quả là từ vùng nông nghiệp lạc hậu (chủ yếu là chăn nuôi du mục) Kazakhstan đã trở thành một trong những cộng hoà công - nông nghiệp phát triển nhất của Liên Xô; có nền kinh tế với cơ cấu tương đối toàn diện và vững chắc (GDP năm 1990 là hơn 97 tỷ USD quy đổi, GDP/đầu người hơn gần 6 nghìn USD); với 16,2 triệu dân số năm 1989 (tăng gấp hơn 2,8 lần năm 1913, người Kazakh chiếm 40,1%, người Nga – 37,4%, Đức – 5,8 %, Ucraina – 5,4 %, Uzbek – 2%..); có hệ thống các Học viện, các viện nghiên cứu và các trường đại học tương đối hoàn chỉnh. Ngoài ra, Kazakhstan còn là một trong 4 nước cộng hoà có vũ khí hạt nhân, cũng là nơi có sân bay vũ trụ “Baikonur” và bãi thử vũ khí hạt nhân của Liên Xô. Từ 1981 trở đi, cùng với sự suy yếu của Liên Xô sự phát triển của Kazakhstan cũng chựng lại. Năm 1986 do việc Lãnh đạo ĐCSLX cách chức Dinmukhamed Kunayev là Bí thư thứ nhất UBTW ĐCS Kazakhstan và đưa Gennadi Kolbi (trước đó là Bí thư thứ hai UBTW ĐCS Grudia, không có quan hệ với Kazakhstan) lên thay đã dấy lên phong trào dân tộc chủ nghĩa chống đối với đỉnh điểm là cuộc bạo loạn của thanh niên, sinh viên tháng 12/1986 tại Almaty (đã bị đàn áp). Từ 1989, sau khi Nasultan Nazarbayev lên thay Kolbi tình hình chính trị - xã hội Kazakhstan đã trở lại ổn định. Sau khi Liên Xô tan rã, 16/12/1991 Kazakhstan đã tuyên bố độc lập.

IV. Sự phát triển kinh tế - xã hội  từ 1991 đến nay

4.1. Giai đoạn hình thành quốc gia độc lập (1991-1996)
 
Nhiệm vụ hàng đầu trong giai đoạn này là xây dựng Kazakhstan thành quốc gia độc lập, đồng thời bắt đầu triển khai các cuộc cải cách quy mô lớn về kinh tế, chính trị và xã hội.

Về chính trị: bầu cử TTh (01/12/1991); tuyên bố độc lập (16/12/1991) và thông qua đạo luật “Nền độc lập của CH Kazakhstan”; xác định quốc kỳ, quốc huy và quốc ca (1992); tuyên bố lấy tiếng Kazakhi là ngôn ngữ quốc gia, tiếng Nga là ngôn ngữ giao dịch quốc tế; thành lập Hội đồng các dân tộc do TTh đứng đầu (1992); xoá bỏ hệ thống chính trị cũ (thể chế, ĐCS), từng bước chuyển sang thể chế Cộng hoà tổng thống theo phương án tập trung cao độ quyền lực vào tay tổng thống (Hiến pháp quá độ 1993 và Hiến pháp mới 1995).

Về kinh tế: từ bỏ mô hình cũ chuyển sang mô hình nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước. Đã tiến hành tư nhân hoá ồ ạt; thực hiện tự do hoá giá cả; nhà nước hỗ trợ đầu tư nước ngoài, cũng như sản xuất định hướng xuất khẩu và thay thế nhập khẩu; phân phối lại thu nhập từ xuất khẩu khoáng sản có lợi cho các xí nghiệp sản xuất với tỷ lệ cao về giá trị bổ sung. Năm 1993 phát hành đồng tiền riêng; áp dụng luật thuế mới. Từ 1996, suy giảm GDP được chặn lại, lạm phát phi mã (3.000%) được khắc phục, ngành năng lượng-điện bắt đầu phục hồi và phát triển.

Kazakhstan là nước duy nhất trong SNG giữ vững được ổn định chính trị - xã hội,  từ 1996 đã khắc phục được tình trạng khủng hoảng về kinh tế, củng cố được an ninh quốc phòng, khẳng định được nền độc lập và chủ quyền quốc gia, giảm bớt lệ thuộc vào Nga, thiết lập và mở rộng quan hệ đối ngoại độc lập với đại đa số các nước và tổ chức quốc tế, trong đó có tất cả các nước lớn. Đây là tiền đề quan trọng để Kazakhstan chuyển sang giai đoạn phát triển mới.

4.2. Giai đoạn thực hiện chiến lược phát triển và hiện đại hoá đất nước từ 1997 đến nay

4.2.1. Chiến lược phát triển

Năm 1997 Kazakhstan đưa ra “Chiến lược phát triển đến 2030”, sau đó được bổ sung thêm “Chiến lược công nghiệp - đổi mới” (2003); “Chiến lược đưa Kazakhstan tham gia vào nhóm 50 nước có nền kinh tế có sức cạnh tranh mạnh nhất thế giới” (2006).
Mục đích bao trùm là xây dựng Kazakhstan thành một quốc gia “hùng mạnh trong khu vực”, là “con báo Trung Á”, là “trung tâm Âu-Á” (TTh Nazarbayev) có “nền kinh tế hiện đại, hệ thống chính trị-xã hội ổn định và hiện đại hoá, chủ quyền và an ninh quốc gia được bảo đảm vững chắc” (bài viết của TTg nhân kỷ niệm 10 năm ngày chuyển thủ đô về Astana 6/7/1998-6/7/2008). 

4.2.2. Thời kỳ 1997-2007

4.2.2.1. Về kinh tế, thực hiện chiến lược vượt trước (thể hiện trong Chiến lược phát triển đến 2030), trong đó nhà nước nắm vai trò định hướng cải cách kinh tế với mục tiêu đề ra là đưa Kazakhstan trở thành một trong 5 nước đang phát triển nhanh nhất châu Á, tham gia vào “nhóm 50 nước có nền kinh tế có sức cạnh tranh mạnh nhất thế giới” (2006). Năm 2003 đưa ra “Chiến lược phát triển công nghiệp - đổi mới 2003-2015” nhằm tạo ra tiền đề cho nền kinh tế mới với các phương hướng chính là: đa dạng hoá ngành kinh tế, từng bước từ bỏ khuynh hướng nhiên liệu (kinh tế dựa vào khai thác và xuất khẩu nhiên liệu) và quá độ sang mô hình kinh tế công nghệ-dịch vụ. Năm 2005 đưa ra Dự án xây dựng 7 nhóm công nghiệp dẫn đường: “du lịch”, “công nghiệp thực phẩm”, “công nghiệp chế tạo máy dầu khí”, “công nghiệp may mặc”, “ngành hậu cần giao thông vận tải”, “công nghiệp luyện kim”, “công nghiệp vật liệu xây dựng”.

 2.2.2.2. Chính trị, hoàn thiện hệ thống chính trị theo mô hình nhà nước mạnh dưới thể chế Cộng hoà Tổng thống: hình thành hệ thống các đảng phái với việc củng cố và tăng cường vai trò của đảng chính quyền – Nur Otan về mọi mặt; đầu năm 2008 thành lập tổ chức Thanh niên Nur Otan (có cơ cấu tổ chức từ trung ương đến các địa phương); củng cố và nâng cao vai trò của Hội đồng Các dân tộc cũng như các thiết chế tư vấn khác; sửa đổi Hiến pháp (5/2007); bầu cử Hạ viện (2004); bầu cử TTh lần thứ hai (4/12/2005); bầu cử Thượng viện (một nửa,19/8/2005 ); và bầu cử Hạ viện (8/2007), kết quả đảng chính quyền Nur Otan giành 100% số ghế;

Xây dựng bộ máy công chức hiện đại:  Phá bỏ bộ máy công chức cũ (chuyển thủ đô về Astana), xây dựng bộ máy công chức mới, trước hết là ở cấp trung ương; đào tạo đội ngũ công chức mới (trong đó có gửi đi nước ngoài - phương Tây và Trung Quốc là chính), thay đổi đội ngũ lãnh đạo cấp cao (Chính phủ, Quốc Hội).  

 2.2.2.3. An ninh quốc phòng

 -  Xây dựng quân đội chính quy hiện đại: gồm ba lực lượng (lục quân, không quân và hải quân, bốn bộ chỉ huy khu vực (phía Nam, Đông, Astana và Tây), Bộ Tổng Tham mưu đổi thành Ban Tổng chỉ huy, áp dung chế độ phục vụ-hợp đồng, có khoảng 70 nghìn quân với trang bị tương đối hiện đại.

Từ 6/7/1998 chuyển thủ đô về Astana.
                   
Sau 10 năm thực hiện chiến lược phát triển, Kazakhstan đã đạt được những thành tựu to lớn về mọi mặt: (!) là quốc gia duy nhất trong SNG đã duy trì được sự ổn định chính trị, đoàn kết xã hội và hoà hợp giữa các sắc tộc và tôn giáo; (!!) kinh tế có bước phát triển vượt bậc (trong những năm 2000-2007, GDP tăng trung bình 10%/ năm, năm 2007 GDP là 110 tỷ USD, dự trữ ngoại tệ và Quỹ quốc gia đạt 48 tỷ USD), đời sống xã hội cải thiện đáng kể (GDP/đầu người tăng gấp 10 lần so với 1998, đạt 7000 USD, đứng sau Nga); (!!!) an ninh quốc phòng được củng cố và tăng cường; (!!!!) quan  hệ đối ngoại được mở rộng và phát triển về cả song phương và đa phương, tạo được thế cân bằng nhất định trong quan hệ với các nước lớn (Nga, Trung, Mỹ và EU), có uy tín và vị thế trong khu vực và thế giới.
 
4.3. Thời kỳ từ 2008 đến nay: chống khủng hoảng

4.3.1. Do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính quốc tế, từ cuối 2007 kinh tế Kazakhstan bắt đầu gặp khó khăn, nhịp độ phát triển bắt đầu suy giảm. Chiều hướng tiêu cực này càng trầm trọng hơn do giá nguyên nhiên liệu và lương thực trên thế giới biến động mạnh theo chiều hướng bất lợi.

4.3.2. Để đối phó với diễn biến xấu này, từ đầu năm 2008 Kazakhstan đã buộc phải điều chỉnh chính sách phát triển kinh tế-xã hội, chuyển từ trọng tâm ưu tiên duy trì nhịp độ phát triển cao để nhanh chóng trở thành “một trong 50 nước có nền kinh tế có khả năng cạnh tranh nhất và phát triển năng động nhất trên thế giới” sang tập trung chống khủng hoảng, ngăn chặn suy thoái kinh tế, giữ vững ổn định chính trị xã hội (“Thông điệp của TTh 3/2008”). Bên cạnh việc đẩy mạnh triển khai gọi giải pháp (10/2007), tháng 11/2008 đã đưa ra Kế hoạch Hành động chung hay còn gọi là Kế hoạch 5 điểm chống khủng hoảng với mục tiêu là làm giảm nhẹ các hậu quả tiêu cực của cuộc khủng hoảng toàn cầu đối với tình hình kinh tế - xã hội và bảo đảm cơ sở cần thiết cho sự tăng trưởng kinh tế chất lượng trong tương lai, tập trung vào 5 hướng trọng tâm: ổn định khu vực tài chính, phát triển khu vực nhà ở, hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, phát triển tổ hợp công nông nghiệp, triển khai các dự án hạ tầng cơ sở, công nghiệp hoá và đổi mới. Tổng chi phí cho kế hoạch này là 10 tỷ USD. Ngoài ra đã chi ra tới 6 tỷ USD để duy trì tỷ giá đồng Tenge với USD, ngăn chặn lạm phát vào cuối 2008.

Bước sang năm 2009, để ngăn chặn nguy cơ suy thoái sâu Kazakhstan đã triển khai quyết liệt hơn kế hoạch 5 điểm chống khủng hoảng với trọng tâm là cứu nguy hệ thống ngân hàng cấp hai khỏi tình trạng phá sản. Để ổn định thị trường tài chính, chống lại sức ép về xuất khẩu đã phá giá đồng Tenge (25%).

Đã tăng cường sự điều tiết của nhà nước (chuyển từ quản lý “tự động” – nghĩa là theo kế hoạch, gián tiếp và tổng thể, sang quản lý “bằng tay”- trực tiếp, từng vấn đề và lĩnh vực cụ thể; thành lập Hội đồng chống khủng hoảng trực thuộc chính phủ); thắt chặt chi tiêu ngân sách. Kiên quyết bảo đảm an sinh xã hội, hạn chế lạm phát, ngăn chặn thất nghiệp. Đồng thời triển khai chiến lược tạo công ăn việc làm và tiếp tục triển khai các dự án quan trọng nhằm tạo cơ sở cho sự phát triển hậu khủng hoảng. Tại Đại hội bất thường Đảng cầm quyền Nur Otan (5/2009) TTh đã đưa ra nội dung Kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế đột phá thời kỳ hậu khủng hoảng (2010-2015). 

Để giữ vững ổn định chính trị, đã củng cố vai trò của đảng cầm quyền Nur Otan, siết chặt kỷ cương bộ máy nhà nước, đẩy mạnh chống tham nhũng, tăng cường kiểm soát xã hội, hạn chế tối đa hoạt động của các lực lượng đối lập.

Nhờ triển khai quyết liệt các biên pháp, tình hình kinh tế Kazakhsat từ quý II trở đi bắt đầu xuất hiện chiều hướng tích cực. GDP quý II so với Quý I tăng 3% (GDP quý I giảm 2,2% so với cùng kỳ năm 2008. GDP 2008 chỉ đạt 3,2 % so với 8,5 % năm 2007). 

Theo đánh giá mới nhất của Chính phủ Kazakhstan, kinh tế nước này đã thoát khỏi giai đoạn suy thoái xấu nhất, có nhiều khả năng tăng trưởng trở lại vào 6 tháng cuối năm, nhưng ở mức thấp, tính cả năm tăng trưởng GDP có thể đạt đến 1%.

Chỉ số phát triển kinh tế từ 2004 đến 2008

Năm 2004 2005 2006 2007 2008
Dân số (tr.ng)     15,0 15,2 15,4 15,6 15,77
GDP (tỷ USD)    43,2 57,1 81,0 103,8 132,2
Tăng trưởng GDP (%) 9,6 9,7 10,6 8,5 3,2
SX dầu và khí hoá lỏng (triệu tấn) 59,2 61,9 65,0 67,5 70,7
FDI (tỷ USD) 8,3 6,6 10,6 17,5 12,8
XK (tỷ USD) 20,60 28,3 38,8 48,4 71,97
NK (tỷ USD) 13,81 18,0 24,1 33,3 38,5
Tỷ giá đồng Tenge/đồng USD 138,04 132,88 126,09 122,55 120,3
Nợ nước ngoài (tỷ USD) 32,7 43,4 74,0 96,4 105,5
Tỷ trọng nợ nước ngoài so với GDP (%) 75,7 76,0 91,3 92,8 82,1

V. Đối ngoại

5.1. Từ sau Tuyên bố độc lập (16/12/1991), Kazakhstan đã từng bước tách khỏi và giảm bớt lệ thuộc vào Nga, thi hành đường lối đối ngoại đa véc-tơ. Các nguyên tắc cơ bản của đường lối đa véc-tơ này là phi tư tưởng, cân bằng và thực dụng. Nguyên tắc cân bằng được hiểu là cân bằng trong quan hệ giữa Âu-Á, cân bằng trong quan hệ giữa các nền văn minh và tôn giáo trên thế giới, cân bằng trong quan hệ giữa các nước lớn, trước hết là giữa Nga - Mỹ - Trung Quốc. Trong quan hệ song phương, đối tác ưu tiên hàng đầu của Kazakhstan là các nước lớn, các nước láng giềng Trung Á và SNG thuộc hàng ưu tiên thứ hai.

5.2. Quan hệ song phương, Kazakhstan có quan hệ ngoại giao với phần lớn các nước trên thế giới, trong đó có tất cả các nước lớn. Về cơ bản đã hoàn thành xong việc phân giới cắm mốc với các nước láng giềng. Đối với các nước lớn đều đạt được thoả thuận đối tác chiến lược. Tháng 12/1994 đã ký hiệp ước đặc biệt với các cường quốc hạt nhân (Nga, Mỹ, Anh, sau đó Trung Quốc tham gia), theo đó các nước này cam kết bảo đảm độc lập và toàn vẹn lãnh thổ cho Kazakhstan và để đổi lại Kazakhstan từ bỏ vũ khí hạt nhân.

Kinh tế Kazakhstan được các nước, trong đó có Mỹ và các nước EU công nhận là kinh tế thị trường.

Cho đến nay Kazakhstan đã ký Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư với 42 nước. Tính đến 2008 đã thu hút được hơn 70 tỷ USD vốn FDI, chiếm hơn 70% tổng FDI ở Trung Á. Các nước có khối lượng đầu tư trực tiếp (FDI) lớn nhất tại Kazakhstan là: Mỹ, chiếm 21 % tổng FDI (17,465 tỷ USD), Hà Lan chiếm 16,4% (13,424 tỷ USD), Anh chiếm 8,2% (6,754 tỷ USD). Tính đến 2008 Kazakhstan đầu tư ra nước ngoài là 4,5 tỷ USD.

Kazakhstan có quan hệ thương mại với 192 nước. Theo số liệu năm 2008, các nước chiếm vị trí hàng đầu hàng trong nhập khẩu hàng của Kazakhstan là: Italia chiếm 16,7% tổng kim ngạnh XK của Kazakhstan, Thuỵ Sỹ - 15,8% và TQ – 10,8%  (số liệu 2008). Về nhập khẩu của Kazakhstan, Nga chiếm vị trí đứng đầu chiếm 36,3% tổng kim ngạnh, TQ – 12% và Đức – 6,8 % (số liệu 2008).  Trong xuất khẩu của Kazakhstan, khoáng sản chiếm 73%, kim loại – 15,2%, thực phẩm – 4,2%.

5.3. Triển khai mạnh mẽ ngoại giao đa phương. Kazakhstan đã tham gia hầu hết các tổ chức và diễn đàn khu vực và thế giới như: LHQ, WB, IMF, ADB, OSCE, SNG, SCO, ODKB, EurAzes, ODE, ACD (Diễn đàn đối thoaị hợp tác châu Á), OIC (Tổ chức hội nghị Hồi giáo), ICAPP (Hội nghị quốc tế các đảng chính trị châu Á). Là sáng lập viên của tổ chức Hội nghị Phối hợp hành động và các biện pháp xây dựng lòng tin ở châu Á (CICA), Đại hội các nhà lãnh đạo các tôn giáo thế giới và truyền thống (CLWTR).

Chủ động thúc đẩy liên kết khu vực Trung Á (Liên minh Trung Á, Cộng đồng kinh tế châu Á – 1997, đến 2001 chuyển thành Tổ chức hợp tác Trung Á và đến 2005 thì sáp nhận vào EurAzes, sáng kiến thành lậpLiên minh các quốc gia độc lập Trung Á) và Âu-Á trong đó Kazakhstan phấn đấu đóng vai trò hạt nhân (về kinh tế có EurAzes, Ngân hàng phát triển Âu-Á, tuyến đường vận tải xuyên Á-Âu; về chính trị-quân sự có ODKB, SCO, CICA; về văn hoá có Đại học tổng hợp Âu-Á Gumilev, diễn đàn khác..).

Kazakhstan còn thiết lập quan hệ chặt chẽ với EU thông qua “Chiến lược đối tác chiến lược mới với các nước Trung Á 2007-2015”, NATO thông qua Chương trình “Đối tác hoà bình” và phối hợp hành động tại Iraq và Afghanistan và các chương trình hợp tác khác. Kazakhstan được bầu làm chủ tịch OSCE nhiệm kỳ 2010.

VI. Quan hệ Việt Nam – Kazakhstan
6.1. Quan hệ chính trị

Sau khi Kazakhstan tuyên bố độc lập, Việt Nam công nhận Kazakhstan và hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 26/9/1992. Tháng 02/1994 Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm đã thăm Kazakhstan. Tháng 6/1994 Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã thăm chính thức Kazakhstan.

Quan hệ chính trị giữa Việt Nam và Kazakhstan tốt đẹp. Trong thời gian qua hai bên đều mong muốn thúc đẩy quan hệ nhiều mặt trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế-thương mại, văn hoá. Kazakhstan đánh giá cao thành tựu đổi mới và vị trí của ta ở ĐNA và thế giới.  Kazakhstan đã ủng hộ Việt Nam trở thành uỷ viên không thường trực HĐBA LHQ khoá 2008-2009 và hai nước công nhận nhau là nền kinh tế thị trường.

Tháng 6/1995 và tháng 5/2007, Đoàn Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Đào Việt Trung đã sang thăm và tham khảo chính trị với Bộ Ngoại giao Kazakhstan.  Tháng 6/2007 Đoàn liên Bộ do Thứ trưởng Bộ công nghiệp Đỗ Hữu Hào đã thăm và khảo sát tình hình hợp tác với Kazakhstan. Tháng 9/2006, đoàn Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam do Chủ tịch HĐQT Đinh La Thăng dẫn đầu đã đến thăm và làm việc với Công ty dầu khí quốc gia Kazakhstan (KazMunaiGas). Ngày 18/4/2007, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định thành lập Đại sứ quán Việt Nam tại Kazakhstan. Đến tháng 7/2008 Việt Nam đã chính thức mở Đại Sứ quán nước CHXHCN Việt Nam tại CH. Kazakhstan. Tháng 3/2009 Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Quốc Cường dự tham khảo chính trị bộ Ngoại giao hai nước tại Astana, Kazakhstan. Ngày 17/4/2009 Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng hội kiến với Tổng Thống Kazakhstan Nursultan Nazarbayev bên lề Diễn đàn kinh tế Bắc Ngao, Trung Quốc.

Từ 23/10/2008, ĐSQ ta tại Kazakhstan kiêm nhiệm Grudia. Hiện nay, Đại sứ Kazakhstan tại Trung Quốc kiêm nhiệm Việt Nam.

Cộng đồng người Việt ở Kazakhstan có khoảng 40 người, chủ yếu ở Almaty (thủ đô cũ) 30 người và các tỉnh khác, tại thủ đô Astana chỉ có 3 người. Có 3 người nhập quốc tịch Kazakhstan, phần lớn có thẻ định cư, làm ăn sinh sống yên ổn.

Ta và Bạn đã ký các Hiệp định song phương: 

- Hiệp định về hợp tác kinh tế và thương mại (ký  ngày 01/02/1994)
- Nghị định thư về hợp tác giữa hai Bộ Ngoại giao (ký ngày 01/02/94)
Hiện hai bên đang xúc tiến đàm phán ký các hiệp định hợp tác trong nhiều lĩnh vực như Hiệp định tránh đánh thuế hai lần, việc qua lại của công dân hai nước, lao động và du lịch, giáo dục và hợp tác khai thác dầu khí và miễn thị thực đối với những người mang hộ chiếu ngoại giao và công vụ.

6.2. Quan hệ kinh tế-thương mại

Trao đổi thương mại hai nước năm 2002 đạt 27 triệu, năm 2003 đạt 33,7 triệu USD, năm 2004 đạt khoảng 45 triệu USD. Năm 2005, kim ngạch thương mại hai chiều đạt khoảng 46,14 triệu USD, trong đó Việt Nam xuất khẩu sang Kazakhstan khoảng 1,44 triệu USD và nhập từ Kazakhstan khoảng 44,7 triệu USD. Năm 2006 kim ngạch hai chiều đạt khoảng 20,4 triệu; năm 2007 đạt khoảng 68,8 triệu USD và năm 2008 đạt 96,1 triệu, trong đó Việt Nam xuất khẩu 23,2 triệu và nhập khẩu 69,6 triệu. Bốn tháng đầu năm 2009 kim ngạnh buôn bán hai nước đạt 46,6 triệu USD, giảm 3,3 % so với cùng kỳ. Trong đó Kazakhstan xuất vào Việt Nam là 38,3 triệu, giảm 10,7 %; Việt Nam xuất vào Kazakhstan đạt 8,3 triệu, tăng 56,6 % so với cùng kỳ.

Uỷ ban liên Chính phủ Việt Nam và Kazakhstan về hợp tác kinh tế-thương mại và khoa học-kỹ thuật đã được thành lập và họp được ba khoá (khóa I tháng 10/1997 tại An-ma-ta, khoá II tháng 4/1998 tại Hà Nội và khóa thứ ba họp tại Thủ đô Astana tháng 4/2008.).

Tại khoá họp lần thứ 3 của Uỷ ban Liên Chính phủ Việt Nam - Kazakhstan về hợp tác kinh tế-thương mại và khoa học-kỹ thuật họp tại thủ đô Astana của Kazakhstan, hai bên đã thỏa thuận tiến hành họp lần thứ IV Ủy ban liên Chính phủ hai nước tại Hà Nội vào cuối năm 2009./.
                                                                          

  Cập nhật ngày 24 tháng 7 năm 2009

 

 

 



Copyright by VietNam Ministry of Foreign Affairs