Trang chủ Tìm kiếm Phản hồi

Ngôn ngữ:

Thứ hai, ngày 01 tháng 09 năm 2014
Tìm kiếm toàn văn:    
Công cụ làm việc cá nhân


THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ CỘNG HOÀ DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO VÀ QUAN HỆ VỚI VIỆT NAM

THÔNG TIN CƠ BẢN  VỀ NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
VÀ QUAN HỆ VIỆT NAM –LÀO
(THE LAO PEOPLE'S DEMOCRATIC REPUBLIC )

I. KHÁI QUÁT CHUNG:

Tên nước:

Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào

Thủ đô:

Viêng-chăn (Vientian)

Vị trí địa lý:

Phía Bắc giáp Trung Quốc (416 km); Tây Bắc giáp Mi-an-ma (230 km); Tây Nam giáp Thái Lan (1.730 km); Nam giáp Căm-pu-chia (492 km) và phía Đông giáp Việt Nam (2.067 km).

Diện tích:

236.800 km 2

Dân số:

- 5.609.997 (Theo thống kê đến tháng 6/2005), trong đó nữ giới chiếm 50,2%.

- Lào có 68 bộ tộc chia làm 3 hệ chính là Lào Lùm (sống ở đồng bằng) chiếm 65% dân số; Lào Thâng (sống ở lưng chừng núi) chiếm 22% và Lào Xủng (sống vùng núi cao) chiếm 13% dân số.

Địa lý hành chính:

Lào có 16 tỉnh, 1 thành phố (Thủ đô Viêng-chăn) và 1 đặc khu Xay-xổm-bun.

Khí hậu:

Lục địa, chia làm hai mùa là mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 6) và mùa mưa (từ tháng 6 đến tháng 11).

Tôn giáo:

Đạo Phật chiếm 85%

Ngôn ngữ:

Tiếng Lào

Ngày Quốc khánh:

Ngày độc lập:

2/12/1975

12/10/1945

Chủ tịch nước

Chum-ma-ly Xay-nha-xỏn (Choummaly Sayasone), Nhiệm kỳ 2006-2010.

Chủ tịch Quốc hội:

Thong-xỉnh Thăm-mạ-vong (Thongsing Thammavong), Khóa VI 2006-2010.

Thủ tướng Chính phủ

Bua-xỏn Búp- phả-văn (Bouasone BOUPHAVANH), Nhiệm kỳ 2006-2010).

Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao:

Thong-lu Xi-xu-lít (Thongloun Sisoulit).

Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam

5/9/1962

II. LỊCH SỬ:

Trước thế kỷ 14, lịch sử Lào không được ghi chép rõ ràng, chủ yếu là theo truyền thuyết.

Vào khoảng thế kỷ thứ 7 (năm 658) "Khun Lo" lập nước tại Mường-xoa (Luông Pha-bang ngày nay). Sáu người em của Khun Lo chia nhau cai trị các tiểu vương quốc lân cận.

Vào thế kỷ thứ 14 (năm 1353) Vua Phà Ngừm thống nhất các Tiểu vương (Hủa-phăn, Mương-phương, Viêng chăn, Chăm-pa-xắc...) thành Vương quốc Lạn-xạng (Triệu voi) bao gồm diện tích hiện nay và vùng I-xản (18 tỉnh Đông Bắc Thái Lan) cùng một phần tỉnh Stung-treng (Đông Bắc Căm-pu-chia). Vua Phà-ngừm đã xây dựng chế độ phong kiến tập trung, đây là thời kỳ rực rỡ nhất của lịch sử phong kiến Lào. Đầu năm 2003, lần đầu tiên bạn đã tổ chức lễ kỷ niệm vua Phà Ngừm.

Giữa thế kỷ 16, vào thời Vua Xệt-tha-thi-lát đã rời đô từ Luông pha-bang về Viêng chăn (1556). Cũng vào thời kỳ này (1559-1571) Vương quốc Lạn-xạng bị Miến Điện xâm lược 3 lần. Nhân dân Lào kiên cường nổi dậy khởi nghĩa chống ách thống trị của Miến Điện và đến năm 1581 giành lại độc lập. Sau đó dưới thời Vua Xu-li-nha-vông-xả, đất nước Lạn-xạng được khôi phục về mọi mặt. Sau khi Vua Xu-li-nha-vông-xả mất, các thế lực phong kiến nổi lên tranh giành chính quyền. Năm 1713 Lạn-xạng bị chia thành 3 vương quốc là Luông Pha-bang, Viêng chăn và Chăm-pa-xắc.

Năm 1778 Xiêm đưa quân sang đánh Lào. Năm 1779 đất nước Lào Lạn-xạng trở thành thuộc địa của phong kiến Xiêm. Nhân dân Lào dưới sự lãnh đạo của Vua A-nụ đã vùng lên chống lại ách đô hộ của phong kiến Xiêm.

Từ 1893-1945, Pháp đô hộ Lào. Trong thời kỳ này đã nổ ra nhiều cuộc khởi nghĩa vũ trang dưới sự lãnh đạo của Phò Ca đuộc, Ông Kẹo, Côm-ma-đắm, Chậu-phạ-pắt-chay nhưng đều thất bại. Đáng chú ý là năm 1892, sau cuộc chiến tranh Pháp-Xiêm, Pháp đã ký một hiệp ước bất bình đẳng gây thiệt hại cho Lào là cắt vùng I-xản (các tỉnh Đông Bắc Thái lan hiện nay) cho Thái lan, lấy sông Mê-công làm biên giới.

Ngày 12/10/1945, nhân dân Lào dưới sự lãnh đạo của Đảng và Mặt trận Lào It-xala đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền và tuyên bố độc lập.

Từ 1953-1974, tiến hành kháng chiến chống Mỹ. Thời kỳ này có 3 lần hoà hợp dân tộc (lần thứ nhất: 18/11/1957; lần thứ hai: 23/06/1962; lần thứ ba: 5/04/1974).

Ngày 2/12/1975, dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, nhân dân Lào lật đổ chế độ Quân chủ lập hiến. Nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào ra đời.

III. THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ:

1. Thể chế nhà nước: Dân chủ nhân dân Lào theo định hướng xã hội chủ nghĩa do một chính đảng duy nhất là Đảng Nhân dân Cách mạng Lào lãnh đạo.

2. Cơ cấu các cơ quan quyền lực của Nhà nước: Đảng NDCM Lào lãnh đạo toàn diện; Quốc hội do dân bầu, nhiệm kỳ 5 năm; Chính phủ có 15 Bộ và cơ quan ngang Bộ;

3. Đảng cầm quyền: Đảng Nhân dân Cách mạng Lào được thành lập ngày 22/3/1955. Tại Lào không có đảng đối lập.

+ Từ Đại hội IV (1986) Đảng NDCM Lào đề ra đường lối đổi mới, cụ thể hóa và bắt tay thực hiện. Đại hội V (1991) tiếp tục hoàn thiện đường lối đổi mới với chủ trương tiếp tục xây dựng và phát triển chế độ dân chủ nhân dân, từng bước tiến tới mục tiêu XHCN. Đại hội VI (1996) tổng kết 5 bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn 10 năm lãnh đạo thực hiện đổi mới và đánh giá đó là thành quả lịch sử quan trọng. Đại hội VII (2001) đã triển khai đường lối đổi mới thành chiến lược phát triển đất nước đến năm 2020; đề ra chỉ tiêu phấn đấu khắc phục tình trạng đói nghèo, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng chậm phát triển.

+ Cho đến năm 2006, Đảng NDCM Lào đã tiến hành 8 kỳ Đại hội. (Đại hội lần thứ VIII tiến hành 18-21/3/2006).

IV. KINH TẾ -XÃ HỘI:

- Lào là nước nằm sâu trong lục địa, không có đường thông ra biển và chủ yếu là đồi núi trong đó 47% diện tích là rừng. Có một số đồng bằng nhỏ ở vùng thung lũng sông Mê-công hoặc các phụ lưu như đồng bằng Viêng- chăn, Chăm-pa-xắc...45 % dân số sống ở vùng núi. Hiện nay Lào có 800.000 ha đất canh tác nông nghiệp với 85% dân số sống bằng nghề nông.

- Lào có nguồn tài nguyên phong phú về lâm, nông nghiệp, khoáng sản và thuỷ điện. Nhìn chung kinh tế Lào tuy phát triển song chưa có cơ sở bảo đảm ổn định; chủ yếu là do sức sản xuất thấp; nguồn vốn dựa vào bên ngoài còn lớn, trong khi nội lực còn yếu (trong tổng số vốn đầu tư của Nhà nước, nội địa chiếm 20%, nước ngoài chiếm 80% ).

- Mục tiêu giai đoạn 2006 -2010: Bảo đảm vững chắc an ninh, ổn định chính trị; Phấn đấu mức tăng trưởng kinh tế không dưới 7,5%/năm; tạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, trong đó nông nghiệp (lương thực, thực phẩm) phải phát triển vững chắc, công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn trong GDP, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở một số ngành có thế mạnh; khai thác và phát huy được các lợi thế về đất đai nông-lâm nghiệp, tài nguyên, khoáng sản, thuỷ điện, tiềm năng du lịch để đi lên; xây dựng các công trình kinh tế - xã hội, bố trí kinh tế vùng miền... nhằm phục vụ và đáp ứng tối đa các mục tiêu chiến lược của đất nước trong 5-10-20 năm tới; giảm được 2/3 số hộ nghèo hiện nay.

- Mục tiêu đến năm 2020: Xây dựng vững chắc hệ thống chính trị dân chủ nhân dân, giữ vững ổn định chính trị, an ninh trật tự và an toàn xã hội; đưa đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển; kinh tế phát triển dựa trên sự phát triển nông nghiệp vững chắc và lấy phát triển công nghiệp làm cơ sở, tạo tiền đề cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tạo chuyển biến cơ bản về chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực; phát triển nhịp nhàng các thành phần kinh tế, trong đó thành phần kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể được củng cố và phát triển vững mạnh. GDP tăng gấp 3 lần năm 2000; chủ động mở rộng hợp tác quốc tế.

- Nền kinh tế trong những năm gần đây có nhiều tiến bộ: Phần lớn các mục tiêu kinh tế - xã hội nêu trong các chương trình kế hoạch 5 năm được triển khai thực hiện có hiệu quả. Về lương thực, năm 1986 đạt chỉ tiêu 1,6 triệu tấn. Các mục tiêu của kế hoạch 5 năm 1996-2000 về sản xuất lương thực, xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển nông thôn, phát triển hàng hóa, dịch vụ, đào tạo nguồn nhân lực đều đạt kế hoạch. Chương trình sản xuất lương thực đã có bước tiến triển rõ rệt, năm 2000 đạt sản lượng 2,2 triệu tấn, năm 2005 đạt 2,6 triệu tấn, lần đầu tiên tự túc được lương thực, có dự trữ quốc gia và xuất khẩu.

- Nhịp độ tăng trưởng những năm qua trung bình 5,9-6%, trong những năm 2000 tăng mạnh hơn, năm 2005 tăng 7,2%. Thu nhập bình quân đầu người tăng dần, năm 2000 đạt 298 USD/người/năm; năm 2005 đạt 491 USD/người/năm.

- Kinh tế đối ngoại: Đến năm 2005, Lào có quan hệ thương mại với 50 nước, ký hiệp định thương mại với 19 nước, 35 nước cho Lào hưởng quy chế GSP. Kim ngạch buôn bán hai chiều năm 2004 đạt 936 triệu USD. Hàng hóa xuất khẩu chủ yếu là khoáng sản và gỗ.

V. AN NINH - QUỐC PHÒNG:

Nhìn chung, tình hình Lào cơ bản ổn định. An ninh chính trị và trật tự xã hội được giữ vững, mặc dù bọn phản động người Lào lưu vong tăng cường hoạt động phá hoại, gây chia rẽ dân tộc. Quân đội và nhân dân Lào đã nêu cao tinh thần cảnh giác, tích cực củng cố thế trận quốc phòng toàn dân nhằm bảo vệ chủ quyền quốc gia và vùng lãnh thổ của mình.

VI. CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI:

CNDCND Lào thực hiện đường lối đối ngoại hoà bình, độc lập, hữu nghị và hợp tác; đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ; sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước nhằm bảo đảm lợi ích chung và lợi ích riêng của mỗi bên; nhấn mạnh tiếp tục củng cố, tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện với các nước XHCN, trong đó tiếp tục tăng cường tình đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện với Việt Nam, hợp tác toàn diện với Trung Quốc và các nước anh em khác, thắt chặt quan hệ hợp tác với các nước láng giềng có chung biên giới, tích cực tham gia hoạt động trong ASEAN trên tinh thần giữ vững các nguyên tắc cơ bản của ASEAN.

VII. QUAN HỆ VIỆT-LÀO:

1. Quan hệ chính trị:

- Ngày 5/9/1962, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Chính phủ Vương quốc Lào đã thiết lập quan hệ ngoại giao.

- Khi nước CHDCND Lào ra đời ngày 2/12/1975, quan hệ Việt-Lào đã chuyển sang giai đoạn mới đó là mối quan hệ hữu nghị, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa hai Đảng và hai Nhà nước. Từ đó đến nay, mối quan hệ đặc biệt Việt-Lào ngày càng được củng cố và phát triển.

2. Quan hệ hợp tác kinh tế-văn hóa-khoa học kỹ thuật:

- Hai bên thành lập Uỷ ban liên Chính phủ về hợp tác kinh tế-văn hóa-khoa học kỹ thuật Việt-Lào để theo dõi và thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học, kỹ thuật. Ủy ban họp mỗi năm một lần, luân phiên địa điểm, đến nay đã họp được 28 phiên.

- Quan hệ đầu tư, thương mại: Kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều 2001-2005 ước đạt 687,8 triệu USD, bình quân 137,5 triệu USD/năm, trong đó Việt Nam nhập siêu 55,2 triệu USD; Năm 2005 đạt 165 triệu USD và 6 tháng đầu năm 2006 đạt 115 triệu USD. Hai bên đã tiến hành nhiều biện pháp nhằm khuyến khích phát triển đầu tư, thương mại như thực hiện các chính sách ưu đãi, thông thoáng cho các nhà đầu tư của hai nước, giảm 50% thuế suất, thuế nhập khẩu cho hàng hóa có xuất xứ từ mỗi nước, xây dựng các khu kinh tế tại cửa khẩu, chợ đường biên… Do vậy trong hai năm gần đây, đã nâng kim ngạch buôn bán và tổng giá trị đầu tư của hai bên. Tuy nhiên, do thị trường Lào nhỏ, quen dùng hàng Thái và hàng của Trung Quốc tràn ngập thị trường Lào nên kim ngạch buôn bán giữa hai nước chưa đáp ứng được mong muốn của lãnh đạo hai nước.

- Về giao thông vận tải, Lào được thuận lợi vận chuyển hàng xuất nhập khẩu qua các cảng biển Việt Nam (trong đó có cảng Vũng áng) và đang tích cực triển khai kết nối mạng giao thông chuẩn bị cho hội nhập khu vực.

Tháng 9 năm 2006


Copyright by VietNam Ministry of Foreign Affairs