Pháp lệnh của Chủ tịch nước CHDCND Lào về việc ban hành Luật Quốc tịch Lào và Luật Quốc tịch Lào--ngày17/5/2004
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào
Hòa bình-Độc lập-Dân chủ-Thống nhất-Thịnh vượng
***
Văn phòng Chủ tịch nước
Số 35/PO
PHÁP LỆNH
của Chủ Tịch nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào
về việc ban hành Luật Quốc tịch Lào
- Căn cứ Chương 6, Điều 67, đoạn 1 Hiến pháp nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào về việc ban hành Hiến pháp và pháp luật đã được Quốc hội thông qua;
- Căn cứ Nghị quyết số 05/NA ngày 17/5/2004 của Quốc hội nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào về việc thông qua Luật Quốc tịch Lào (sửa đổi);
- Căn cứ đề nghị số 17/SC ngày 25/5/2004 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Chủ tịch nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào ra Pháp lệnh
Điều 1: Thông báo ban hành Luật Quốc tịch Lào.
Điều 2: Pháp lệnh này có hiệu lực kể từ ngày ký.
Viêng Chăn, ngày 15 tháng 6 năm 2004
Chủ tịch nước CHDCND Lào
(đã ký và đóng dấu)
Khamtay SIPHANDONE
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào
Hòa bình-Độc lập-Dân chủ-Thống nhất-Thịnh vượng
***
Quốc hội Số: 05/NA
Ngày 17/5/2004
LUẬT QUỐC TỊCH LÀO
Chương 1
Những qui định chung
Điều 1: Mục đích
Luật Quốc tịch Lào quy định những nguyên tắc và luật lệ của việc nhập và mất quốc tịch Lào nhằm quản lý và theo dõi công dân một cách hiệu quả theo pháp luật và quy định để đề cao vinh dự và trách nhiệm của công dân Lào đối với đất nước, giáo dục và tăng cường truyền thống đoàn kết, yêu nước của dân tộc, phát huy truyền thống tốt đẹp và củng cố mối quan hệ giữa nhà nước CHDCND Lào với công dân của mình.
Điều 2: Quốc tịch Lào
Quốc tịch Lào thể hiện mối quan hệ gắn bó về chính trị và pháp lý của mỗi cá nhân với Nhà nước CHDCND Lào, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của công dân Lào đối với Nhà nước, quyền và trách nhiệm của Nhà nước CHDCND Lào đối với công dân.
Mỗi cá nhân mang quốc tịch Lào đều là công dân Lào.
Điều 3: Nguyên tắc một quốc tịch
Nhà nước CHDCND Lào không cho phép công dân Lào cùng một lúc có nhiều quốc tịch.
Điều 4: Giữ quốc tịch Lào
Việc kết hôn hay ly hôn của công dân Lào với người mang nhiều quốc tịch hay không có quốc tịch không làm thay đổi quốc tịch của công dân Lào.
Việc nhập hay thôi quốc tịch Lào của vợ hoặc chồng không làm thay đổi quốc tịch của người kia.
Điều 5: Bảo hộ công dân Lào ở nước ngoài
Nhà nước CHDCND Lào quản lý và bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của công dân Lào ở nước ngoài.
Điều 6: Không dẫn độ công dân Lào
Nhà nước CHDCND Lào không dẫn độ công dân Lào cho nước khác.
Điều 7: Cá nhân nước ngoài, người nước ngoài cư trú tại Lào và người không quốc tịch
“Cá nhân nước ngoài” là người mang quốc tịch nước ngoài tạm trú hay thường trú tại Lào để thực hiện công việc và sau khi hoàn thành công việc họ trở về nước. Những cá nhân này thuộc sự quản lý của Bộ Ngoại giao và các cơ quan liên quan khác.
“Người nước ngoài cư trú ở Lào (ngoại kiều)” là người mang quốc tịch nước ngoài cư trú và làm ăn sinh sống lâu dài tại Lào, có thẻ ngoại kiều và Chính phủ của họ vẫn coi họ là công dân của mình.
“Người không quốc tịch” là người cư trú tại lãnh thổ Lào, không phải là công dân Lào và không xác định được quốc tịch của người đó.
Người nước ngoài cư trú ở Lào và người không quốc tịch đều thuộc sự quản lý của Bộ An ninh và các cơ quan liên quan.
“Công dân nước ngoài” theo Luật này gồm những cá nhân nước ngoài và những người nước ngoài thường trú tại Lào.
Điều 8: Quyền nhập quốc tịch nước khác
Công dân Lào có quyền nhập quốc tịch nước khác nhưng phải thôi quốc tịch Lào của mình.
Việc thôi quốc tịch Lào được qui định tại Điều 18 của Luật này.
Chương 2:
Mang quốc tịch Lào
Điều 9: Những căn cứ xác định người mang quốc tịch Lào
Người mang quốc tịch Lào do:
1. Được sinh ra;
2. Được nhập quốc tịch Lào;
3. Được trở lại quốc tịch Lào;
4. Các quy định khác tại Điều 11 đến 14 của Luật này.
Điều 10: Quốc tịch của trẻ em có cha mẹ là công dân Lào
Trẻ em khi sinh ra có cha mẹ đều là công dân Lào thì có quốc tịch Lào không kể trẻ em đó sinh trong hoặc ngoài lãnh thổ Lào.
Điều 11: Quốc tịch của trẻ em có cha hoặc mẹ là công dân Lào
Trẻ em khi sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Lào thì có quốc tịch Lào nếu:
1. Trẻ em đó sinh ra trong lãnh thổ Lào, hoặc
2. Trẻ em đó sinh ra ngoài lãnh thổ Lào nhưng cả cha và mẹ hoặc chỉ cha hay mẹ có nơi thường trú ở Lào.
Trong trường hợp trẻ em sinh ra ngoài lãnh thổ Lào mà cả cha và mẹ có nơi thường trú ngoài lãnh thổ Lào, quốc tịch của trẻ em đó do cha mẹ quyết định.
Trong trường hợp trẻ em sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Lào và người kia không quốc tịch, thì vẫn được coi là công dân Lào không kể trẻ em đó sinh trong hoặc ngoài ngoài lãnh thổ Lào.
Điều 12: Quốc tịch của trẻ em khi sinh ra có cha mẹ không rõ quốc tịch
Trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Lào có cha mẹ không rõ quốc tịch nhưng có nơi thường trú ở Lào, hòa nhập vào xã hội và văn hoá Lào thì được coi là công dân Lào nếu cha mẹ trẻ em đó yêu cầu.
Điều 13: Quốc tịch của trẻ em không rõ danh tính cha mẹ
Trẻ em được tìm thấy trên lãnh thổ Lào mà không rõ cha mẹ là ai thì được coi là công dân Lào.
Trong trường hợp trẻ em đó chưa đủ 18 tuổi mà có bằng chứng chứng minh là cha mẹ đều có quốc tịch nước ngoài thì được coi là công dân nước ngoài tại thời điểm sinh ra.
Điều 14: Nhập quốc tịch Lào đối với người nước ngoài hoặc người không quốc tịch.
Người nước ngoài và người không quốc tịch được nhập quốc tịch Lào nếu có đủ các điều kiện sau đây:
1. Từ 18 tuổi trở lên;
2. Tôn trọng Hiến pháp và pháp luật nước CHDCND Lào;
3. Đọc, nghe, viết tiếng Lào thành thạo;
4. Hòa nhập văn hóa, xã hội Lào, tôn trọng truyền thống phong tục tập quán Lào;
5. Có sức khoẻ tốt, không nghiện hút hoặc mắc các bệnh truyền nhiễm;
6. Không có tiền án, tiền sự;
7. Tham gia bảo vệ và phát triển đất nước;
8. Không phương hại đến lợi ích quốc gia;
9. Đã xin thôi quốc tịch trước đây (trừ trường hợp không quốc tịch);
10. Thường trú liên tục trên 10 năm tại Lào trước khi nhập quốc tịch; Trường hợp là chuyên gia, trí thức, giáo sư, thời hạn trên sẽ ít hơn.
11. Có chuyên môn và trình độ nhất định, có thu nhập ổn định.
Điều 15: Nhập quốc tịch Lào đối với người thuộc bộ tộc Lào (Lao Race)
Những người thuộc bộ tộc Lào muốn nhập quốc tịch Lào phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện đã quy định tại Điều 14 của Luật này trừ đoạn 9.
Thời gian cư trú tối thiểu là 05 năm đối với những người có quốc tịch khác và 03 năm đối với những người không có quốc tịch.
Điều 16: Nộp đơn liên quan đến các việc về quốc tịch
Người xin nhập, xin thôi hoặc xin trở lại quốc tịch Lào nộp đơn lên Bộ Tư pháp sau khi hoàn tất các thủ tục tại các cơ quan thẩm quyền sau:
1. Cơ quan hành chính cấp bản;
2. Cơ quan hành chính cấp huyện;
3. Cơ quan hành chính cấp tỉnh, thành phố;
4. Đoàn đại biểu Quốc hội khu vực bầu cử tại địa phương (để theo dõi);
5. Bộ An ninh.
Khi nộp đơn xin giải quyết các việc liên quan đến quốc tịch theo trình tự nêu trên, đương sự phải có mặt để đảm bảo tính xác thực của hồ sơ giấy tờ, về lý lịch, khả năng đọc, nói, viết tiếng Lào, sự hoà nhập vào văn hoá, xã hội Lào và các vấn đề liên quan khác như đã quy định tại Điều 14 của Luật này.
Đối với người Lào định cư ở nước ngoài muốn xin thôi quốc tịch Lào thì nộp đơn cho Bộ Tư pháp sau khi tiến hành các thủ tục tại các cơ quan có thẩm quyền sau:
1. Đại sứ quán hoặc Tổng Lãnh sự quán nước CHDCND Lào tại nước đó;
2. Bộ Ngoại giao;
3. Bộ An ninh.
Trong trường hợp tại nước đó không có Đại sứ quán Lào thì nộp đơn đến Bộ Ngoại giao nước CHDCND Lào.
Sau khi nhận đơn, Bộ Tư pháp sẽ kiểm tra hồ sơ, nếu thông tin không rõ ràng, Bộ Tư pháp sẽ yêu cầu đương sự bổ sung thông tin. Nếu hồ sơ hoàn chỉnh, Bộ Tư pháp sẽ trình lên Chính phủ và Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét.
Chương 3
Mất và trở lại quốc tịch Lào
Điều 17: Lý do mất quốc tịch Lào
Công dân Lào mất quốc tịch Lào trong những trường hợp sau đây:
1. Được thôi quốc tịch Lào;
2. Bị tước quốc tịch Lào;
3. Nhập cư vào nước khác.
Người mất quốc tịch Lào không làm thay đổi quốc tịch của vợ, chồng hoặc con của mình.
Điều 18: Thôi quốc tịch Lào
Công dân Lào có thể xin thôi quốc tịch Lào.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước CHDCND Lào ra quyết định về việc thôi quốc tịch Lào của công dân Lào.
Người xin thôi quốc tịch Lào sẽ không được thôi quốc tịch Lào nếu:
1. Chưa hoàn thành nghĩa vụ công dân đối với Nhà nước hoặc xã hội, ví dụ như chưa nộp thuế hoặc các nghĩa vụ khác.
2. Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa chấp hành xong bản án, quyết định của Toà án.
3. Làm phương hại đến lợi ích và an ninh Lào.
Điều 19: Tước quốc tịch Lào
Người nhập quốc tịch Lào có thể bị tước quốc tịch trong vòng 10 năm kể từ ngày nhập quốc tịch nếu vi phạm một trong những trường hợp sau:
1. Được nhập quốc tịch trái với những quy định của pháp luật;
2. Gây ảnh hưởng đến thanh danh, ví dụ như tội phản quốc hay phương hại đến quốc gia.
Người bị tước quốc tịch Lào không làm thay đổi quốc tịch của vợ, chồng hoặc con của mình.
Điều 20: Cư trú ở nước khác
Người bị mất quốc tịch Lào trong trường hợp:
- Cư trú ở nước ngoài hơn 7 năm mà không xin phép;
- Giấy phép cư trú ở nước ngoài hết hạn và không thuộc sự quản lý của Đại sứ quán hay Tổng Lãnh sự quán CHDCND Lào ở nước đó;
- Không duy trì quan hệ về pháp lý trong hơn 10 năm.
Điều 21: Trở lại quốc tịch Lào
Người mất quốc tịch Lào có thể xin trở lại quốc tịch nếu được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội nước CHDCND Lào chấp thuận.
Người nộp đơn xin trở lại quốc tịch Lào phải có bằng chứng chứng minh quốc tịch Lào trước đây của mình.
Người bị tước quốc tịch Lào không được trở lại quốc tịch Lào.
Chương 4:
Thay đổi quốc tịch của con theo quốc tịch của cha mẹ
Điều 22: Quốc tịch của con
Khi cả cha và mẹ nhập hoặc thôi quốc tịch Lào thì quốc tịch của con chưa thành niên (dưới 18 tuổi) được thay đổi theo quốc tịch của cha mẹ, trừ con thành niên của họ đã kết hôn theo luật định.
Điều 23: Quốc tịch của con khi cha hoặc mẹ nhập quốc tịch Lào
Nếu cha hoặc mẹ có quốc tịch Lào trong khi người kia có quốc tịch nước ngoài thì con mang quốc tịch Lào nếu được cha hoặc mẹ có quốc tịch Lào yêu cầu . Trẻ có quốc tịch Lào từ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi và con thành niên đã kết hôn theo luật định có thể lựa chọn quốc tịch của cha hoặc mẹ.
Nếu cha hoặc mẹ nhập quốc tịch Lào trong khi người kia không quốc tịch, con của họ cư trú trên lãnh thổ Lào sẽ được coi là công dân Lào.
Nếu cha hoặc mẹ nhập quốc tịch Lào trong khi người kia không quốc tịch, con của họ cư trú ngoài lãnh thổ Lào vẫn được nhập quốc tịch Lào theo yêu cầu của người mang quốc tịch Lào.
Điểu 24: Quốc tịch của con khi cha hoặc mẹ thôi quốc tịch Lào
Nếu cha hoặc mẹ thôi quốc tịch Lào trong khi người kia vẫn còn quốc tịch Lào, con của họ vẫn mang quốc tịch Lào.
Điều 25: Quốc tịch của con nuôi (nước ngoài)
Trẻ em nước ngoài hoặc trẻ không quốc tịch được người Lào nhận làm con nuôi thì được coi là công dân Lào.
Trẻ em nước ngoài hoặc trẻ không quốc tịch được cặp vợ chồng nhận làm con nuôi trong trường hợp vợ hoặc chồng là công dân Lào còn người kia là công dân nước ngoài hoặc không quốc tịch thì trẻ vẫn được mang quốc tịch Lào theo sự thoả thuận của cha mẹ nuôi.
Điều 26: Quốc tịch của con nuôi Lào:
Trẻ em mang quốc tịch Lào được cặp vợ chồng nhận làm con nuôi trong trường hợp vợ hoặc chồng là công dân Lào còn người kia là công dân nước ngoài thì trẻ được mang quốc tịch Lào. Những trẻ em này có thể thôi quốc tịch Lào phụ thuộc vào yêu cầu của cha mẹ nuôi.
Trẻ có quốc tịch Lào được người không quốc tịch hoặc cặp vợ chồng nhận làm con nuôi trong trường hợp vợ hoặc chồng là công dân Lào còn người kia không có quốc tịch thì trẻ vẫn mang quốc tịch Lào.
Chương 5:
Quyết định và trao quốc tịch Lào
Điều 27: Quyết định quốc tịch
Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào quyết định việc cho nhập, tước, thôi và trở lại quốc tịch Lào.
Việc phê chuẩn quốc tịch Lào được quyết định trên cơ sở hàng năm (phụ thuộc vào số lượng của mỗi năm).
Điều 28: Trao quốc tịch Lào
Việc trao quốc tịch Lào được ủy thác cho Ủy ban Quốc hội khu vực bầu cử tại địa phương nơi người xin nhập quốc tịch cư trú thực hiện và tổ chức theo lễ chính thức với sự tham dự của đại diện chính quyền địa phương, Mặt trận Lào xây dựng đất nước, các tổ chức quần chúng cấp tỉnh và thành phố.
Chương 6:
Các quy định cuối cùng
Điều 29: Thi hành
Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào thi hành Luật này.
Điều 30: Hiệu lực
Luật này có hiệu lực kể từ ngày ban hành theo Pháp lệnh của Chủ Tịch nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
Luật này thay thế Luật Quốc tịch Lào số 06/90/SPA ngày 29/11/1990.
Mọi quy định và điều khoản trái với Luật này đều bị huỷ bỏ.
Viêng-chăn, ngày 17/5/2004
Chủ tịch Quốc hội
(đã ký và đóng dấu)
Samane VIYAKETH

