Trang chủ Tìm kiếm Phản hồi

Ngôn ngữ:

Thứ hai, ngày 20 tháng 05 năm 2013
Tìm kiếm toàn văn:    
Công cụ làm việc cá nhân


Sắc lệnh của Thủ tướng Chính phủ CHDCND Lào về việc tổ chức thực hiện Luật đất đai--ký ngày 03-6-2008


CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

Hòa bình-Độc lập-Dân chủ-Thống nhất-Thịnh vượng

---------

 

VĂN PHÒNG PHỦ THỦ TƯỚNG

 

Số : 88/CP

 

 

Thủ đô Viêng Chăn, ngày 03/06/2008

 

SẮC LỆNH

VỀ VIỆC TỔ CHỨC THỰC HIỆN LUẬT ĐẤT ĐAI

 

- Căn cứ Luật Chính phủ nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào số 02/QH, ngày 06 tháng 5 năm 2003;

- Căn cứ Luật Đất đai số 04/QH, ngày 21 tháng 10 năm 2003;

- Theo đề nghị của Bộ trưởng Văn phòng Phủ Thủ tướng, Thủ trưởng Cơ quan quản lý đất đai quốc gia tại Tờ trình số 169/CQQLĐĐQG, ngày 09/4/2007,

 

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ BAN HÀNH SẮC LỆNH

 

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

 

Điều 1. Mục đích

Sắc lệnh này được ban hành để tổ chức thực hiện Luật Đất đai về quản lý, bảo vệ, sử dụng và phát triển đất đai có hiệu quả, ổn định, công bằng, đúng mục tiêu, thống nhất trên phạm vi cả nước.

Điều 2. Giải nghĩa từ đất đai

Từ ngữ đất đai được quy định tại Điều 2, Luật Đất đai bao gồm:

“Mặt đất” nghĩa là mọi mảnh đất gồm cây cối, lâm thổ sản, và sinh vật sống trên mặt đất đó.

“Lòng đất” nghĩa là đất các loại và các loại khoáng sản: đồng đỏ, đồng hỗn hợp, đá vôi, đồng đỏ dạng đá lửa, vàng, hợp chất kim loại (chì, thiếc, bạc), đá quý... gồm tất cả đất đá, mỏ, nước dưới lòng đất, v.v...

“Núi non” nghĩa là mọi mảnh đất là núi non.

“Đảo” nghĩa là đất ở trong nước do thiên nhiên tạo nên hoặc đất mới hình thành trong vùng nước.

“Đất dưới nước” nghĩa là mọi mảnh đất ở dưới nước gồm cả động vật, thực vật, khoáng sản dưới nước.

“Thuỷ phận và không phận” nghĩa là ranh giới lãnh thổ thuộc chủ quyền của nước CHDCND Lào bao gồm cả các loại động, thực vật.

Điều 3. Nghĩa của câu được quy định trong Luật đất đai

“Quyền sử dụng đất” có nghĩa là cá nhân hoặc tổ chức được quyền sử dụng đất vĩnh viễn thông qua giấy tờ làm căn cứ đối với quyền sử dụng đất đai vĩnh viễn có được do được giao sổ đỏ, trao đổi, mua, bán và thừa kế. Quyền sử dụng đất gồm quyền bảo vệ, sử dụng, quyền được hưởng lợi từ đất, quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và quyền thừa kế quyền sử dụng đất. Cá nhân hoặc tổ chức được quyền sử dụng đất nói trên có quyền cho người khác thuê, đem đi thế chấp, góp vốn, trao đổi hoặc bán quyền sử dụng đó.

“Sở hữu đất” có nghĩa là tổ chức hoặc cá nhân đã có quyền sử dụng đất theo quy hoạch của Nhà nước. Đối với tổ chức, chỉ có quyền bảo vệ và sử dụng theo quy định tại Điều 55 và 59, Luật Đất đai. Đối với cá nhân đã có quyền sử dụng đất thì chỉ có quyền quản lý, bảo vệ, sử dụng, hưởng lợi từ đất và thừa kế.

“Giấy chứng nhận đất” là giấy tờ chính thức chứng nhận quyền sử dụng đất của cá nhân hoặc tổ chức: giấy chứng nhận việc sử dụng đất tạm thời.

“Thuế đất” tức là việc cho thuê đất của Nhà nước theo quy định tại Điều 9 và 10 Luật Đất đai (sửa đổi) cho tổ chức, cá nhân hoặc pháp nhân hoặc cá nhân với căn cứ ràng buộc là có hợp đồng theo luật định.

“Tô nhượng đất” nghĩa là cho phép cá nhân hoặc pháp nhân tô nhượng bằng việc cho quyền sở hữu đất vào một đích nào đó theo điều kiện và quy định bằng sự ràng buộc bởi hợp đồng theo luật định.

Người được tô nhượng đất phải đóng thuế tô nhượng, thuế tài nguyên và các loại thuế khác theo luật định.

“Thành viên trong gia đình” tức là chồng, vợ, con đẻ, con nuôi và con cô, dì của người có tên trong sổ đỏ, nếu là con nuôi thì phải có xác nhận việc nhận trẻ về nuôi theo luật định.

“Lao động trong gia đình” nghĩa là người trong gia đình tuổi từ 14 trở lên, có khả năng lao động chân tay hoặc trí óc.

“Đất đai Nhà nước” tức là mọi lô đất kể cả tài nguyên thiên nhiên ở trên lãnh thổ nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào, trừ đất đai của Nhà nước đã có văn bản xác nhận quyền sở hữu cho cá nhân hoặc pháp nhân sử dụng thông qua sổ đỏ theo luật định.

“Đất đai tập thể” tức là mọi lô đất và tài nguyên thiên nhiên ở trên lãnh thổ nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào mà Nhà nước đã giao quyền sở hữu đất đai cho tập thể của bản, tổ chức và các cơ quan, tổ chức theo quy định tại Điều 59, Luật Đất đai.

“Người đã bỏ đi” theo Điều 74, Luật Đất đai, tức là cá nhân đã bỏ đất của mình chuyển đi ở địa phương khác thời kỳ chiến tranh cứu nước sẽ hết quyền về đòi lại diện tích đất đó, không bao gồm người đi làm cách mạng.

“Đất đai do cơ quan chính quyền đã giao quyền sử dụng cho nhân dân thời kỳ chiến tranh” tức là đất mà chính quyền đã quy hoạch cho nhân dân các bộ tộc đã xuống lập quê hương (làng bản) hoặc làm ăn thì Nhà nước không chấp nhận việc đòi lại của chủ đất ban đầu.

“Người bỏ đất của mình đi ra nước ngoài”, nghĩa là người đi ra nước ngoài trên bảy năm mà không được phép hoặc đi ra nước ngoài được phép, nhưng nếu ở quá quy định và không nằm trong sự quản lý của đại sứ quán hoặc lãnh sự Lào tại nước đó và đứt liên lạc về mặt luật pháp với Nhà nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào trên mười năm sẽ bị mất quyền về đòi lại diện tích đất đó theo quy định tại Điều 76, Luật Đất đai và Điều 20, Luật quốc tịch Lào.

“Công tác quản lý đất đai” tức là quá trình đã bảo vệ, quy hoạch và phát triển có hiệu quả, ổn định, công bằng, đúng mục đích việc tập hợp dữ liệu đất đai, đề ra quy định, tiêu chuẩn quản lý, kiểm tra và dự báo về ảnh hưởng tới môi trường thiên nhiên và xã hội.

“Việc bảo vệ đất đai” tức là việc sử dụng và sở hữu đất đai theo quy hoạch, quy định vùng, phân loại và kế hoạch sử dụng đất đai mà không thay đổi tình trạng của đất, không xói mòn, xói lở, suy yếu, bảo vệ chất lượng phù hợp với từng loại đất và không để ảnh hưởng đến môi trường và xã hội. 

“Công tác phát triển đất đai” tức là bảo vệ, cải tạo đất qua việc đầu tư lao động, vật chất, tiền vốn, kỹ thuật, xây dựng cơ sở vật chất để làm cho đất đai có chất lượng, phù hợp với việc sử dụng mỗi loại đất, làm tăng năng suất và giá trị đất.

“Việc sử dụng đất” tức là sử dụng đất của cá nhân hoặc pháp nhân và việc tổ chức, trong đó kể cả việc giữ gìn, phát triển, sử dụng đất, hưởng lợi từ đất, mỗi loại đất được phép sử dụng theo thang bậc đã được quy hoạch và lập kế hoạch sử dụng đất vào mục đích nhất định theo luật định.

“Việc cung ứng đất” tức là việc tập hợp dữ liệu, phân tích dữ liệu về đất, quy hoạch, lập đăng ký và đăng quyền sử dụng đất, việc định giá để quản lý có hiệu quả, ổn định, công bằng và phù hợp với pháp luật.

“Việc dịch vụ đất” tức là việc cung cấp dữ liệu về đất đai, việc phát triển, việc hướng dẫn phương pháp lập đăng ký đất đai, mua, bán quyền sử dụng đất đất, tư vấn để tạo thuận lợi cho xã hội kể cả người đầu tư trong nước và nước ngoài vào các công trình có liên quan đến đất đai.

   Điều 4. Việc khuyến khích phát triển đất đai

Cơ quan quản lý đất đai quốc gia chủ động phối hợp với ngành liên quan và chính quyền địa phương tạo điều kiện cho việc khuyến khích phát triển đất đai, bằng việc:

1. Tập hợp dữ liệu và lập kế hoạch;

2. Nghiên cứu chính sách và quy định;

3. Sử dụng lao động, đất đai, vật liệu, vốn, kỹ thuật, khoa học của Nhà nước, của tư nhân hoặc của tổ chức vào phát triển đất đai để xây dựng cơ sở hạ tầng.

Chính phủ thành lập Công ty phát triển và dịch vụ đất đai để làm nhiệm vụ   phát triển và dịch vụ đất đai theo quyết định của Nhà nước. Về tổ chức và hoạt động của công ty nói trên có quy định riêng.

Điều 5. Việc cấp quyền sử dụng hoặc sở hữu

Kể từ ngày ban hành Luật Đất đai, nếu cá nhân và tổ chức cần sử dụng đất thì làm đơn lên tổ công tác về đất đai của bản để đề nghị cơ quan quản lý đất đai huyện, thị trấn nghiên cứu và đề nghị lên cơ quan chính quyền huyện, thị trấn xem xét theo quyền hạn.

Ai đã cắm đất trong thời gian vừa qua mà không nằm trong Điểm 1 và Điểm 2 đã được quy định tại Điều 6 của Sắc lệnh này mà đã phát triển nhưng chưa có quyền sử dụng đất thì đề nghị với cơ quan liên quan để xin cấp quyền sử dụng.

Điều 6. Cấm cắm đất

Việc cắm đất không đúng pháp luật đều bị xoá bỏ, trường hợp gây nên thiệt hại sẽ bị khởi tố theo luật định.

Việc cắm đất không đúng pháp luật thể hiện như sau:

1. Cắm đất vùng rừng bảo tồn, rừng nguyên sinh, rừng đầu nguồn, đất nằm trong khu vực mỏ, khu vực văn hoá và chùa chiền, vùng du lịch thiên nhiên và khu lịch sử, khu vực bảo tồn của Nhà nước.

2. Cắm đất mà không được cấp phép bằng hình thức đào đất làm mương, trồng cây, miếu thờ, làm hàng rào, dựng nhà hoặc cửa hàng nhằm đánh dấu chỗ, dấu ranh giới hoặc chia ranh giới theo dòng sông và suối thiên nhiên rồi dùng quyền cấm đoán, bảo vệ của mình hoặc lợi dụng quyền lực, nhiệm vụ, chức vụ cá nhân lấy đất khu vực bảo tồn của Nhà nước và đất đai do Nhà nước chưa quy hoạch.

Điều 7. Cấm cấp giấy phép quyền sử dụng hoặc sở hữu đất đai

Cấm cơ quan chính quyền địa phương và cơ quan quyền lực hữu quan cấp phép quyền sử dụng hoặc sở hữu đất đai cho cá nhân hoặc tổ chức các loại đất sau:

1. Đất rừng bảo vệ, rừng bảo tồn và rừng nguyên sinh;

2. Đất khu vực hồ chứa nước thiên nhiên;

3. Đất đầu nguồn suối, đầu nguồn sông, nhánh sông, đất ven mương, hồ thiên nhiên và đất Nhà nước bảo tồn;

4. Đất khu vực bảo tồn tuyệt đối của Nhà nước và tập thể;

5. Đất khu vực mỏ;

6. Đất khu vực văn hoá, chùa chiền, khu vực lịch sử và vùng du lịch thiên nhiên;

7. Đất quốc phòng, an ninh;

8. Đất giao thông đã dành để xây dựng đường hoặc xây dựng các công trình phúc lợi công cộng;

9. Đất đã dành để xây dựng đường dẫn hoặc đường dây điện;

10. Đất đã được pháp luật cấm.

 

Chương II

CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

 

Điều 8. Nguyên tắc chung của công tác quản lý đất đai

Nhà nước tập trung và thống nhất quản lý đất đai trên phạm vi cả nước, bằng việc Chính phủ giao cho Cơ quan quản lý đất đai quốc gia phụ trách và theo   nhiệm vụ đã được quy định tại Điều 10, Luật Đất đai thông qua việc phối hợp với các ngành quản lý đất đai, các ngành hữu quan và cơ quan chính quyền địa phương nghiên cứu đề ra chính sách, chủ trương, nguyên tắc và quy định về quản lý và dịch vụ đất đai.

Điều 9. Công tác quản lý đất đai theo lĩnh vực

Bộ Nông nghiệp và Lâm nghiệp, Bộ Giao thông và Vận tải, Bộ Công nghiệp và Thương nghiệp, Bộ Năng lượng và Mỏ, Bộ Thông tin và Văn hoá, Bộ Quốc phòng và Bộ Anh ninh phối hợp với Cơ quan quản lý đất đai quốc gia nghiên cứu chính sách và quy định về quản lý đất đai trong phạm vi trách nhiệm của ngành mình để trình Chính phủ quyết định.

Để bảo đảm cho công tác quản lý đất đai trong lĩnh vực của mình có hiệu quả, các Bộ đã nêu ở trên thành lập một Tổ công tác phụ trách.

Các ngành quản lý đất đai đã được nêu tại Điểm 9, Luật đất đai, phải cung cấp cơ sở dữ liệu về tình trạng sử dụng đất đai của ngành mình cho Cơ quan quản lý đất đai quốc gia tổng hợp và kiểm tra.

Điều 10. Công tác quản lý đất đai cấp địa phương

Cơ quan quản lý đất đai cấp địa phương bao gồm:

1. Cơ quan quản lý đất đai tỉnh, thành phố;

2. Cơ quan quản lý đất đai huyện, thị trấn;

3. Tổ công tác tại bản.

Cơ quan quản lý đất đai cấp địa phương có tổ chức bộ máy và hoạt động riêng theo mỗi cấp.

Điều 11. Quyền và nhiệm vụ chung của cơ quan quản lý đất đai cấp địa phương

Cơ quan quản lý đất đai cấp địa phương có quyền và nhiệm vụ chung như sau:

1. Quản lý và cung cấp đất đai;

2. Quản lý việc đăng ký, đăng ký và định giá đất đai;

3. Điều tra, quy hoạch, quy định vùng, phân loại và lập kế hoạch sử dụng đất, cho thuê, cho chuyển nhượng, đăng ký đất, rút quyền sử dụng đất;

4. Cấp bản đồ đất đai và cấp sổ đỏ;

5. Tập hợp, thống kê và thông tin dữ liệu đất đai và về dịch vụ đất đai;

6. Kiểm tra việc sử dụng đất đai;

7. Tập hợp, tổng hợp dữ liệu thống kê và tình trạng thay đổi đối với việc sử dụng đất trong phạm vi mình phụ trách để báo cáo Cơ quan quản lý đất đai quốc gia;

8. Thực hiện các quyền và nhiệm vụ theo sự phân công của chính quyền địa phương và sự chỉ đạo về chuyên môn của Cơ quan quản lý đất đai quốc gia.

Đối với việc phân quyền và nhiệm vụ cụ thể của cơ quan quản lý đất đai địa phương các cấp, giao cơ quan quản lý đất đai quốc gia ban hành quy định riêng.

Điều 12. Hệ thống dữ liệu về đất đai

Cơ quan quản lý đất đai quốc gia thành lập Trung tâm nghiên cứu và dữ liệu thông tin đất đai và tài nguyên thiên nhiên trên lãnh thổ nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào để tập hợp và tổng hợp dữ liệu, thống kê, tình trạng, đặc điểm đất ở mỗi vùng, mỗi loại đất một cách có hệ thống phục vụ công tác xây dựng quy định về chính sách, về công tác quản lý, bảo vệ, lập kế hoạch, quy hoạch, phân vùng, phân loại, thu thuế và cung cấp dữ liệu cho việc đầu tư.

Trung tâm nghiên cứu dữ liệu thông tin đất đai chịu trách nhiệm tập hợp và thu thập, bảo quản, nghiên cứu và phân tích, sử dụng và phát triển đất và bổ sung hệ thống quản lý hiện đại dữ liệu thông tin về đất đai, đạt tiêu chuẩn, có chất lượng, chính xác và thuận lợi cho việc khai thác và cung cấp dữ liệu cho việc lập kế hoạch phát triển đất đai và bảo vệ môi trường. Việc lưu giữ dữ liệu đất đai phải được cất giữ ở nơi an toàn, bí mật đối với dữ liệu không được phép công khai.

Việc thay đổi dữ liệu chỉ được thực hiện khi được sự đồng ý của Cơ quan quản lý đất đai quốc gia.

Điều 13. Việc định giá đất đai

Việc định giá đất đai cấp Trung ương do Cơ quan quản lý đất đai quốc gia chịu trách nhiệm định giá đất đai tại mỗi điểm, mỗi vùng và mỗi loại thông qua việc phối hợp với các Bộ và cơ quan hữu quan để trình Chính phủ xem xét quyết định. Việc định giá đất đai nhằm phục vụ công tác lập đăng ký, trả lại đất, cho thuê hoặc tô nhượng và việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Cứ hai năm một lần tiến hành kiểm tra, định giá một lần; việc định giá đất đai ở địa phương giao cho Cơ quan quản lý đất đai tỉnh, thành phố và huyện, thị trấn phối hợp với các đơn vị hữu quan tiến hành nghiên cứu, báo cáo, xin ý kiến cơ quan quản lý cùng cấp sau đó đề nghị Cơ quan quản lý đất đai quốc gia xem xét, quyết định.

Cơ quan quản lý đất đai huyện, thị trấn và Tổ công tác tại bản có nhiệm vụ đáp ứng dữ liệu và có thể được mời dự trong việc định giá đất đai cấp tỉnh, thành phố.

Điều 14. Nguồn thu từ đất đai

Nguồn thu từ đất đai nghĩa là việc thu thuế đất, lợi tức từ đất, lệ phí, tiền đăng ký, tiền thuê, tiền tô nhượng, tiền bán quyền sử dụng đất, tiền phạt, tiền chuyển đổi đất, tiền dịch vụ, v.v... theo luật định.

Cơ quan quản lý đất đai chịu trách nhiệm thu thuế đất, tiền lệ phí, lợi tức từ đất, tiền đăng ký, tiền thuê, tiền tô nhượng, tiền bán quyền sử dụng đất, tiền phạt, tiền chuyển đổi đất và nguồn thu khác từ đất và tiền dịch vụ chuyên môn về đất đai: giá đo đạc, vẽ bản đồ, tiền bán biểu mẫu.    

Nguồn thu từ đất phải nộp vào ngân sách Nhà nước theo quy định của Luật Ngân sách và theo Sắc lệnh của Thủ tướng Chính phủ về nguồn thu chuyên ngành.

Điều 15. Công tác lập đăng ký và đăng ký đất đai

Cơ quan quản lý đất đai chịu trách nhiệm thực hiện lập đăng ký và đăng ký đất đai trên phạm cả nước theo quy định tại Điều 43 đến 51, Luật đất đai, theo phân công như sau:

- Cơ quan quản lý đất đai quốc gia chịu trách nhiệm nghiên cứu đề ra chủ trương, quy định và theo dõi, kiểm tra việc lập đăng ký và đăng ký đất đai;

- Cơ quan quản lý đất đai tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm về việc lập đăng ký và đăng ký, chứng nhận quyền sử dụng và sở hữu đất, cấp bản đồ đất đai, cấp sổ đỏ theo đề nghị của cơ quan quản lý đất đai huyện, thị trấn;

- Cơ quan quản lý đất đai huyện, thị trấn chịu trách nhiệm kiểm tra, đo đạc và hoàn chỉnh hồ sơ giấy tờ, lập đăng ký và đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu tạm thời theo kế hoạch điều tra, quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đai;

- Tổ công tác về đất đai tại bản có nhiệm vụ cung cấp dữ liệu về đất đai để hoàn chỉnh hồ sơ giấy tờ và đăng ký, có xác nhận của trưởng bản và gửi cho cơ quan quản lý đất đai huyện, thị trấn xem xét, quản lý và bảo vệ đất đai của Nhà nước, tập thể trong phạm vi bản và kiểm tra việc sử dụng đất đai của cá nhân và tổ chức ở phạm vi bản của mình.

Điều 16. Tài liệu khẳng định quyền sử dụng và sở hữu đất

Tài liệu khẳng định quyền sử dụng gồm có: sổ đỏ

- Sổ đỏ là tài liệu khẳng định quyền sở hữu đất đai cao nhất về mặt pháp luật, chỉ người đứng tên, có quyền trong sổ đỏ mới được coi là chủ của sổ đỏ và có quyền sử dụng trong việc thế chấp, góp vốn, tặng, mua, bán, trao đổi, cho thuê, thừa kế. Trong việc thực hiện quyền trên, chủ sở hữu của sổ đỏ có quyền trao cho người khác thay mình tiến hành, thông qua việc có giao nhận bằng văn bản giấy tờ và có xác nhận của cơ quan toà án hoặc của trưởng bản.

Tài liệu khẳng định quyền sở hữu gồm có: bản đồ đất, giấy chứng nhận đất, giấy chứng nhận nguồn gốc đất và giấy chứng nhận việc phát triển đất. 

- Bản đồ đất đai là tài liệu chứng nhận quyền sở hữu đất mà Nhà nước giao quyền sở hữu cho cá nhân hoặc tổ chức nhà nước, cơ quan tổ chức chính trị, Mặt trận Lào xây dựng đất nước, tổ chức quần chúng và tổ chức kinh tế nhà nước để dùng vào các mục đích theo từng loại đất đã được luật pháp quy định. Tổ chức được nhận tờ bản đồ đất không có quyền chuyển nhượng, cho thuê, tô nhượng, góp vốn hoặc thế chấp. Đối với cá có tờ bản đồ đất đai chỉ có quyền quản lý, bảo vệ, sử dựng, được hưởng lợi từ đất và thừa kế. Trường hợp người có tờ bản đồ đất mang cho thuê hoặc thế chấp ở ngân hàng hoặc tổ chức tài chính cần trình sổ đỏ để tài liệu xác nhận quyền sử dụng đất hợp pháp.

- Giấy chứng nhận đất đai là tài liệu khẳng định về quyền sở dụng tạm thời do cơ quan chính quyền huyện, thị trấn cấp theo chính sách, quy hoạch đất đai và và giao đất, giao rừng khi có sự phát triển trên ba năm, người được nhận chứng nhận việc phát triển đất đai có quyền xin sổ đỏ là giấy tờ khẳng định quyền sử dụng hợp pháp.

- Giấy chứng nhận phát triển đất đai là tài liệu chính thức do ngành quản lý việc sử dụng đất đai hữu quan cấp theo kế hoạch phát triển, có quy hoạch để xác nhận thửa đất đó đã được phát triển. Giấy chứng nhận nói trên dùng để bổ sung vào hồ sơ xin đăng ký theo quy định tại Điều 18 và 43, Luật Đất đai. 

 - Giấy chứng nhận nguồn gốc đất là tài liệu xác nhận việc được đất để chứng minh về quá trình của việc trông giữ và sử dụng.

Những giấy tờ nói trên có biểu mẫu riêng, mỗi loại biểu mẫu đều có tính chất khác nhau.

 

Chương III

QUY HOẠCH ĐẤT ĐAI, SỞ HỮU ĐẤT ĐAI

VÀ VIỆC PHÂN LOẠI ĐẤT ĐAI

 

Điều 17. Việc quy hoạch đất đai

Cơ quan quản lý đất đai quốc gia có nhiệm vụ phối hợp với ngành hữu quan và cơ quan chính quyền địa phương để tiến hành điều tra, quy hoạch, phân vùng và phân loại đất đai theo quy định tại Điều 11 và 12, Luật Đất đai trên phạm vi cả nước, và báo cáo Chính phủ để trình Quốc hội phê chuẩn.

Việc quy hoạch, phân vùng, phân loại đất phải hợp lý với chiến lược của việc phát triển trong việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên (đất đai, nước, rừng, mỏ, mọi sự sống), kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội quốc gia và việc bảo vệ môi trường trong từng giai đoạn.

Điều 18. Việc sử dụng các loại đất đai

Việc sử dụng các loại đất, thực hiện theo Luật Đất đai, Luật Nông nghiệp, Luật Lâm nghiệp, Luật Nước và tài nguyên nước, Luật Điện, Luật Mỏ, Luật Môi trường, Luật Quy hoạch đô thị, Luật Quốc lộ, Luật Công nghiệp chế biến và các luật khác liên quan.

Trường hợp vùng và loại đất chưa hợp pháp hoặc hợp pháp nhưng chưa phù hợp với thực tế để làm căn cứ trong việc tổ chức thực hiện, ngành hữu quan phối hợp với cơ quan quản lý đất đai quốc gia nghiên cứu xây dựng và bổ sung, sửa đổi văn bản pháp lý nói trên, đề nghị Chính phủ quyết định.

Điều 19. Việc thay đổi loại đất đai

Chính phủ cho phép thay đổi loại đất đai, từ loại này sang loại khác nếu thấy cần thiết để sử dụng vào mục đích khác và phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước mà không gây ảnh hưởng đến sự tồn tại của quốc gia, đến môi trường thiên nhiên hoặc xã hội.

Chính quyền huyện, thị trấn được quyền quyết định thay đổi loại đất mức dưới 03 héc-ta theo đề nghị của cơ quan quản lý đất đai huyện, thị trấn và ngành hữu quan.

Chính quyền tỉnh, thành phố được quyền quyết định thay đổi loại đất mức từ 03 héc-ta đến 100 héc-ta theo đề nghị của cơ quan quản lý đất đai tỉnh, thành phố và ngành hữu quan.

Cơ quan quản lý đất đai quốc gia được quyền quyết định thay đổi loại đất mức từ 100 héc-ta đến 10.000 héc-ta theo đề nghị của ngành hữu quan và có sự thống nhất với chính quyền địa phương và được sự đồng ý của Chính phủ.

Chính phủ có quyền quyết định thay đổi loại đất mức từ 10.000 héc-ta trở lên theo đề nghị của Cơ quan quản lý đất đai quốc gia, ngành hữu quan và chính quyền địa phương với sự chấp thuận của Quốc hội.

Đất đai được phép thay đổi phải sử dụng phù hợp với mục đích và quy định liên quan. Người được cấp phép thay đổi loại đất chịu trách nhiệm trong việc đền bù thiệt hại, thuế tài nguyên, trả lệ phí và các giá dịch vụ theo quy định.

 

Chương IV

QUYỀN SỬ DỤNG VÀ SỞ HỮU ĐẤT ĐAI

Điều 20. Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đai

Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đai tức là việc mua, tặng hoặc trao đổi quyền sử dụng cho người khác. Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đai chỉ tiến hành được khi mảnh đất đó có sổ đỏ hợp pháp. Người chuyển nhượng phải là người đã nhận quyền sử dụng đất đai hoặc người được trao quyền, người nhận chuyển nhượng phải là công dân Lào hoặc tổ chức của Lào.

Mọi sự chuyển nhượng quyền sử dụng đất đai, người chuyển nhượng phải mang theo toàn bộ giấy tờ liên quan với sổ đỏ, hợp đồng mua, bán, hợp đồng chuyển nhượng hoặc trao đổi để khẳng định tính đúng đắn, làm căn cứ cho việc đăng ký và sang tên từ người chuyển nhượng sang người nhận chuyển nhượng tại cơ quan quản lý đất đai tỉnh, thành phố, nơi có mảnh đất đó và phải chịu lệ phí cho việc chuyển quyền sử dụng đất đai theo quy định.

Với cá nhân hoặc tổ chức đã có quyền sử dụng đất đai chỉ có quyền bảo vệ và sử dụng theo quy định tại Điều 59, Luật Đất đai.

Điều 21. Việc thuê hoặc tô nhượng đất đai

Chính phủ, Cơ quan quản lý đất đai quốc gia và Cơ quan quản lý đất đai tỉnh, thành phố, có quyền lấy đất của Nhà nước cho cá nhân hoặc tổ chức thuê hoặc tô nhượng theo thẩm quyền.

Công dân Lào và tổ chức kinh tế - xã hội được nhận quyền sử dụng đất hợp pháp có quyền mang đất của mình cho cá nhân hoặc tổ chức thuê.

Hợp đồng thuê hoặc chuyển nhượng đất đai phải được xác định mục đích, giá thuê hoặc tô nhượng, xác định thời gian thuê hoặc tô nhượng thực tế. Đối với hợp đồng tô nhượng còn phải xác định cả thuế tài nguyên nữa.

Người cho thuê đất, nếu không phải là nhà nước, phải trình cả giá thực tế để nộp thuế doanh thu từ việc lấy đất cho người khác thuê.

Người thuê hoặc người chuyển nhượng phải sử dụng đất đúng với hợp đồng thuê hoặc chuyển nhượng, theo luật định và chịu sự kiểm tra của nhà chức trách hữu quan.

Cơ quan quản lý đất đai quốc gia có trách nhiệm nghiên cứu, quy định chi tiết về việc thuê hoặc chuyển nhượng đất đai.

Điều 22. Quyền thuê hoặc tô nhượng đất đai

Ngoại kiều, người không có quốc tịch, người nước ngoài và tổ chức của cá nhân nói trên đã thuê hoặc nhận chuyển nhượng đất của Nhà nước hoặc công dân Lào, có quyền mang hợp đồng thuê hoặc chuyển nhượng đất đai đi góp vốn với người khác hoặc thế chấp theo thời hạn thuê hoặc chuyển nhượng, nhưng phải được sự đồng ý của Nhà nước hoặc của người đã nhận quyền sử dụng đất đai. Đối với việc gia hạn hợp đồng thuê hoặc tô nhượng đất đai, thực hiện theo Điều 65, Luật Đất đai.

 Điều 23. Việc thay đổi quyền sở hữu đất cho người được hưởng chính sách của Nhà nước

Nhà nước thực hiện chính sách thay đổi quyền sở hữu đất có công trình xây dựng hoặc sở hữu đất trống cho anh hùng dân tộc, chiến sỹ thi đua và người cao tuổi có công với nước thành chủ sở hữu công trình và quyền sử dụng đất vĩnh viễn, thực hiện theo các điều kiện đã quy định tại Sắc lệnh số 343/CP, ngày 25 tháng 9 năm 2007 về việc thực hiện chính sách đối với người có công và thành tích trong thực hiện nhiệm vụ phục vụ cách mạng dân tộc, dân chủ.

Đất đai và công trình đã chuyển thành quyền sử dụng và chủ sở hữu của cán bộ, công chức, bộ đội, công an theo chính sách của Nhà nước được coi là tài sản ban đầu hoặc vốn cùng gây dựng (tài sản chung) theo Luật Gia đình.

Đối với diện tích đất diện chính sách của Nhà nước được chuyển thành quyền sử dụng đất đai viễn phải tiến hành theo Luật đất đai.

Việc chuyển quyền sử dụng đất đai, Cơ quan quản lý đất đai quốc gia phối hợp với các ngành hữu quan tổ chức thực hiện cụ thể.

Điều 24. Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đai cho cá nhân đối với cá nhân đã nhận quyền sở hữu vừa qua

Cán bộ, công chức, bộ đôi, công an không nằm trong Điều 23 của Sắc lệnh này, đã được nhận quyền sở hữu đất của Nhà nước, lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, Mặt trận Lào Xây dựng đất nước, tổ chức quần chúng, tổ chức kinh tế và tập thể thời gian vừa qua, với thời gian trên mười năm kể từ ngày đưa vào quản lý, không có tranh chấp hoặc có tranh chấp nhưng đã được giải quyết, sẽ được thực hiện chính sách bán quyền sử dụng vĩnh viễn mảnh đất đó cho đương sự bằng cách đánh giá phù hợp theo định giá của cơ quan quản lý đất đai phối hợp với các đơn vị hữu quan.

Cấm bán quyền sử dụng loại đất và nhà mà Nhà nước có kế hoạch sử dụng và phát triển vì lợi ích công cộng, dành cho việc bảo vệ di tích lịch sử và văn hoá quốc gia, đất đai, nhà cửa nằm trong khu vực dành để sử dụng vào mục đích chính trị, xã hội, quốc phòng, an ninh xã hội, công tác nghiên cứu khoa học và lợi ích công cộng, v.v...

Cơ quan quản lý đất đai quốc gia phối hợp với ngành hữu quan nghiên cứu quyết định bán quyền sử dụng đất nói trên theo quy định.

Điều 25. Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đai và nhà cửa của người đã bỏ đi      

Đất đai và nhà cửa của người bỏ đi thì Nhà nước cho phép bà con thân thích của đương sự hoặc người khác đã trông coi và sử dụng yên ổn, thường xuyên trên mười năm thì đánh giá bán quyền sử dụng vĩnh viễn đất đai và nhà cửa nói trên cho người coi giữ và sử dụng.

Cơ quan quản lý đất đai chịu trách nhiệm trong việc đánh giá, bán quyền sử dụng đất đai. Còn công trình của Nhà nước do Bộ Tài chính chịu trách nhiệm đánh giá, bán quyền sử dụng công trình nói trên.

Điều 26. Sở hữu đất đai theo truyền thống

Sở hữu đất đai theo truyền thống là việc giữ gìn (trông nom) và sử dụng thông qua việc khai phá, phát triển đất hoặc theo quy hoạch của Nhà nước thường xuyên, liên tục và lâu dài cho đến ngày nay, nhưng không có giấy tờ gì khẳng định quyền sở hữu của đương sự, tổ chức hoặc của tập thể bản.

Nhà nước công nhận quyền sở hữu đất đai theo truyền thống của cá nhân, tổ chức hoặc của tập thể bản bằng việc cấp sổ đỏ hoặc bản đồ đất đai hoặc xác nhận đất cho từng trường hợp đã được quy định tại Luật đất đai thông qua việc đề nghị cơ quan quản lý đất đai cho đăng ký.

Việc đề nghị cho đăng ký đất đai phải bổ sung giấy tờ xác nhận nguồn gốc, người làm chứng, người liền kề đã được nhận quyền sử dụng và cơ quan quản lý đất đai bản, nơi có mảnh đất đó.

Điều 27. Việc tước quyền sở hữu và sử dụng đất đai

Người đã nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đất sẽ bị tước quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng đất trong trường hợp đã được quy định tại Điều 62, Luật Đất đai.

Cơ quan quản lý đất đai quyết định việc tước quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng đất theo quy định tại Điểm 4, Điều 10, Luật Đất đai. Trước khi tước quyền, phải thông báo bằng văn bản cho người bị tước quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng đất biết trước ít nhất sáu tháng.

Trong quá trình tổ chức thực hiện cụ thể, cần phối hợp với ngành hữu quan và cơ quan quản lý đất đai địa phương nơi có đất.

Điều 28. Việc đền bù thiệt hại

Cá nhân hoặc tổ chức gây nên thiệt hại cho người đã có quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng đất phải chịu đền bù cho người bị thiệt hại theo các trường hợp dưới đây:

1. Khi cần thiết phải lấy đất đưa vào phục vụ lợi ích công cộng, quốc phòng, an ninh hoặc sử dụng vào việc phát triển của Nhà nước;

2. Lấy đất để làm đường, mương máng thuỷ lợi, đường dây điện, đường ống nước sạch, v.v... là công trình của Nhà nước mà gây nên thiệt hại cho đương  sự thì đương sự sẽ được nhận đền bù từ các công trình đó;

3. Do những tác động khác dẫn đến đất ở liền kề sụt lở, hỏng hóc, thiệt hai, như: đào hào, đào nguồn nước, đào hồ cá, đào mương dẫn nước, đào đất đem bán, v.v...

Điều 29. Việc định giá thiệt hại

Việc đền bù thiệt hại, thực hiện theo việc định giá của Cơ quan quản lý đất đai quốc gia sau khi đã phối hợp với cơ quan quản lý đất đai địa phương và ngành hữu quan.

Chương V

CÔNG TÁC KIỂM TRA

VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ ĐẤT ĐAI

Điều 30. Công tác kiểm tra về nguồn gốc của quyền sở hữu và quyền sử dụng đất đai

Công tác kiểm tra có ba loại như sau:

1. Kiểm tra có hệ thống và thường xuyên;

2. Kiểm tra có thông báo trước;

3. Kiểm tra không được thông báo trước (bất thường).

Kiểm tra có hệ thống và thường xuyên tức là được thực hiện theo kế hoạch định kỳ và có ấn định thời gian do Cục Chính sách và Kiểm tra việc sử dụng đất đai tiến hành.

Kiểm tra có thông báo trước là kiểm tra khi thấy cần thiết, có thông báo trước cho người sở hữu hoặc sử dụng đất đai biết trước ít nhất bốn mươi tám giờ đồng hồ, do cơ quan quản lý đất đai tiến hành.

Kiểm tra không được thông báo trước, là kiểm tra khi thấy có vi phạm quy định của pháp luật thì phải tiến hành gấp.

Chính phủ giao cho chính quyền địa phương chịu trách nhiệm kiểm tra cả ba loại trên. Trường hợp đặc biệt, Chính phủ sẽ thành lập đoàn riêng xuống kiểm tra theo đề nghị của Cơ quan quản lý đất đai quốc gia.

Mọi cuộc kiểm tra đều phải thực hiện nghiêm túc, hợp lý theo Điều 79, Luật Đất đai.

Điều 31. Việc giải quyết mâu thuẫn về đất đai

Việc giải quyết mâu thuẫn về đất đai phải thực hiện đúng quy định tại Điều 73, 74, 75, 76, 80 và 81 của Luật Đất đai. Đối với các vụ án về đất đai toà đã quyết định đúng và hợp pháp thì phải nghiêm túc chấp hành.

Cá nhân hoặc tổ chức có yêu cầu giải quyết mâu thuẫn về đất đai phải làm đơn và kèm giấy tờ liên quan đến cơ quan quản lý đất đai để nghiên cứu, phối hợp với chính quyền địa phương nơi có đất giải quyết. Trường hợp cơ quan quản lý đất đai không thể giải quyết được thì phải tiến hành theo trình tự của pháp luật.

Điều 32. Việc giải quyết vấn đề đất đai phần vượt trội

Việc giải quyết vấn đề đất đai phần vượt trội của từng loại đất, theo quy định của Luật đất đai, thực hiện như sau:

1. Chuyển nhượng quyền sử dụng đất phần vượt quá tiêu chuẩn cho người thân hoặc người khác có điều kiện.

2. Nếu muốn giữ lại phần đất vượt trội đó thì mỗi năm phải nộp thuế gấp năm lần so với thuế đất bình thường.

Trong thời hạn ba năm kể từ ngày Chính phủ ban hành chỉ thị về việc giải quyết diện tích đất vượt trội, nếu không giải quyết theo điểm 1 hoặc điểm 2 của điều này, quyền sở hữu đất phần vượt trội sẽ trở thành đất do nhà nước quản lý.

Điều 33. Cách tính thuế phần đất vượt trội

Cách tính thuế phần đất vượt trội, lấy tổng số diện tích đất trừ đi diện tích đất theo luật định, sau đó lấy kết quả đó nhân với tiêu chuẩn thuế đất được quy định trong Sắc lệnh của Chủ tịch nước về Luật đất đai và nhân với năm (5).

Điều 34. Việc giải quyết vấn đề đất đai của ngoại kiều, người không có quốc tịch, người nước ngoài và tổ chức của cá nhân nói trên

Ngoại kiều, người không có quốc tịch, người nước ngoài và tổ chức của cá nhân nói trên, không có quyền được nhận quyền sở hữu đất đai theo quy định tại Luật Đất đai. Người được nhận quyền sở hữu đất đai thời gian quan phải giải quyết đất đai của mình trong thời gian ba năm kề từ ngày Chính phủ ban hành chỉ thị về việc giải quyết đất đai của ngoại kiều, người không có quốc tịch, người nước ngoài và tổ chức của cá nhân nói trên, bằng việc chuyển nhượng quyền sở hữu đất đai cho công dân Lào hoặc tổ chức của Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào. Nếu không chuyển nhượng trong thời gian ba năm như đã nêu ở trên, diện tích đất đó sẽ trở thành đất do Nhà nước quản lý, nhưng đương sự có quyền ưu tiên trong việc xin thuê hoặc tô nhượng với nhà nước diện tích đất đó.

Trường hợp công dân Lào đã nhận được quyền sở hữu đất, nhưng nếu thay đổi quốc tịch trở thành quốc tịch khác cũng phải thực hiện như đối với ngoại kiều, người không có quốc tịch, người nước ngoài và tổ chức của cá nhân kể trên đã được quy định tại khoản một nói trên.

 

Chương VI

KHEN THƯỞNG, KỶ LUẬT

 

Điều 35. Khen thưởng đối với người có công

Cá nhân hoặc tổ chức sử dụng đất theo Luật Đất đai đạt hiệu quảnăng suất cao làm cho đất đai có giá trị và giá trị nâng lên sẽ được giảm thuế, lợi tức, được tạo thuận lợi trong việc gia hạn cho thuê hoặc tô nhượng.

Điều 36. Kỷ luật đối với người vi phạm

Cá nhân hoặc tổ chức nếu cắm đất không đúng pháp luật sẽ bị giáo dục và thu hồi đất trả lại Nhà nước, trong trường hợp gây thiệt hại sẽ bị phạt hoặc khởi tố theo luật định.

Nếu cá nhân hoặc tổ chức sử dụng đất, tự thay đổi loại đất mà không được phép sẽ bị phạt gấp đôi so với giá trị sản phẩm thiệt hại. Đối với đất nông nghiệp, sẽ bị phạt gấp năm lần của sản phẩm bình quân thu được trong năm đó.

Cá nhân hoặc tổ chức sử dụng đất hoặc sở hữu đất không đúng mục đích sẽ bị giáo dục, nếu vẫn chưa thay đổi sẽ bị phạt hai trăm phần trăm của giá trị đất theo thời giá và địa phương đó. Trong trường hợp ngoan cố sẽ bị tước quyền sử dụng hoặc sở hữu đất.

Nếu cán bộ, công chức làm công tác quản lý đất đai lợi dụng chức vụ, lạm quyền, ăn hối lộ, giả mạo giấy tờ sẽ bị thi hành kỷ luật theo Luật công chức đồng thời bị khởi tố theo luật định.

Nếu cá nhân hoặc tổ chức đưa hối lộ cho cán bộ, công chức làm công tác quản lý đất đai để được sử dụng, sở hữu sổ đỏ hoặc các loại giấy xác nhận khác sẽ bị khởi tố theo luật định.

 

Chương VII

NHỮNG QUY ĐỊNH CUỐI CÙNG

Điều 37. Việc tổ chức thực hiện

Giao Cơ quan quản lý đất đai Nhà nước, các Bộ, cơ quan ngang Bộ và cơ quan chính quyền địa phương nghiêm chỉnh tổ chức thực hiện Sắc lệnh này.

Điều 38. Hiệu lực  

Sắc lệnh này có hiệu lực kể từ ngày ký và thay thế Sắc lệnh tổ chức thực hiện Luật Đất đai số 101/CP, ngày 20 tháng 4 năm 2005.

Mọi văn bản, quy định, điều khoản của Sắc lệnh hoặc các quy định về Đất đai trái với Sắc lệnh này đều bãi bỏ./. 

 

 

 

 

 

Thủ tướng Chính phủ 

nước CHDCND Lào

 

 

(đã ký, đóng dấu)

 

 

Bua-xỏn BUP-PHẢ-VĂN

 


Copyright by VietNam Ministry of Foreign Affairs