Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc thông qua Sắc lệnh về Đặc khu kinh tế và Khu Kinh tế riêng biệt tại CHDCND Lào và Sắc lệnh về Đặc khu Kinh tế và Khu Kinh tế riêng biệt do Thủ tướng ký ngày 26/10/2010
CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
Hòa bình Độc lập Dân chủ Thống nhất Thịnh vượng
|
Quốc hội |
Số: 47/UBTV |
|
Ủy ban Thường vụ |
Thủ đô Viêng-chăn, ngày 26/10/10 |
NGHỊ QUYẾT CỦA ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
về việc thông qua Sắc lệnh về đặc khu kinh tế và khu kinh tế riêng biệt
tại CHDCND Lào
------------
- Căn cứ Điều 56, Hiến pháp nước CHDCND Lào quy định chức năng, quyền hạn của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
- Căn cứ Công văn số 151/TTg ngày 11/10/2010 của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ nước CHDCND Lào về việc đề nghị Quốc hội thông qua nội dung Sắc lệnh về đặc khu kinh tế và khu kinh tế riêng biệt;
- Căn cứ sự nhất trí của kỳ họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 25/10/2010 về việc thông qua nội dung Sắc lệnh đặc khu kinh tế và khu kinh tế riêng biệt tại CHDCND Lào.
Sắc lệnh về đặc khu kinh tế và khu kinh tế riêng biệt triển khai nội dung Luật khuyến khích đầu tư, trọng tâm là phần III, Nhóm 5 để cụ thể hóa và thực hiện.
Căn cứ Điều 59 Luật Khuyến khích đầu tư quy định "ngoài chính sách khuyến khích được quy định tại Chương I và II tại phần IV, nếu cần có chính sách khuyến khích thêm đối với một số ngành, lĩnh vực đầu tư, đặc khu kinh tế và khu kinh tế riêng biệt, Chính phủ có quyền trình Kỳ họp Quốc hội hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét và thông qua".
Qua nghiên cứu ý kiến đóng góp tại Kỳ họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội về nội dung Sắc lệnh Đặc khu kinh tế và khu kinh tế riêng biệt của Chính phủ:
ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI NHẤT TRÍ
Điều 1: Cho phép đặc khu kinh tế và khu kinh tế riêng biệt là đơn vị tài chính độc lập.
Giao Chính phủ xem xét cấp kinh phí để Ủy ban Quốc gia quản lý đặc khu kinh tế và khu kinh tế riêng biệt đảm bảo công tác tổ chức thực hiện đạt hiệu quả tối đa.
Điều 2: Giao Ủy ban Quốc gia quản lý đặc khu kinh tế và khu kinh tế riêng biệt ban hành chính sách miễn thuế-hải quan nhập khẩu xăng dầu trong thời gian xây dựng cho nhà đầu tư vào đặc khu kinh tế và khu kinh tế riêng biệt ở vùng sâu vùng xa, địa hình khó khăn.
Điều 3: Giao Ban Quản trị hoặc Hội đồng Quản trị kinh tế của đặc khu kinh tế hoặc khu kinh tế riêng biệt quy định chính sách tỷ giá thuế-hải quan bao gồm cả việc thu thuế-hải quan tại khu vực mình, nhưng không vượt quá tỷ giá được quy định tại Luật Thuế và Luật Hải quan.
Giao Ủy ban Quốc gia quản lý đặc khu kinh tế và khu kinh tế riêng biệt quy định chính sách giá thuê hoặc tô nhượng đất bao gồm việc thu lệ phí thuê và phí tô nhượng, nhưng tối đa không hơn tỷ giá được quy định trong Sắc lệnh của Chủ tịch nước số 02/CTN ngày 18/11/2009 về tỷ giá thuê và giá tô nhượng đất công.
Điều 4: Giao Ủy Ban Quốc gia quản lý đặc khu kinh tế và khu kinh tế riêng biệt xem xét cấp cô-ta phương tiện giao thông cho đặc khu kinh tế và khu kinh tế riêng biệt, cho Ban Quản trị hoặc Hội đồng Quản trị quản lý và đăng ký phương tiện tại khu vực đó.
Điều 5: Giao Ban Quản trị hoặc Hội đồng Quản trị đặc khu kinh tế hoặc khu kinh tế riêng biệt bảo vệ rừng cấm theo Hợp đồng được Chính phủ giao (nếu có) nhằm giữ gìn khu vực xanh, chăm sóc, trồng rừng, phục hồi rừng cấm nhằm khuyến khích phát triển bền vững gắn liền với việc gìn giữ bảo vệ thiên nhiên, môi trường và các loại cây.
Điều 6: Giao Ủy ban Quốc gia quản lý đặc khu kinh tế và khu kinh tế riêng biệt nghiên cứu, xem xét, kiến nghị thành lập các đặc khu kinh tế và khu kinh tế riêng biệt trên toàn quốc.
Điều 7: Giao Chính phủ tổ chức thực hiện Nghị quyết này. Nghị quyết này có hiệu lực kể từ ngày ký.
|
|
Ủy Ban Thường vụ Quốc hội Chủ tịch đã ký và đóng dấu Thoong-xỉng Thăm-ma-vông |
CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
Hòa bình Độc lập Dân chủ Thống nhất Thịnh vượng
************
|
Văn phòng Phủ Thủ tướng |
Số 443/TTg Thủ đô Viêng-chăn, ngày 26/10/10 |
SẮC LỆNH VỀ ĐẶC KHU KINH TẾ VÀ KHU KINH TẾ RIÊNG BIỆT
TẠI CHDCND LÀO
- Căn cứ Luật Chính phủ số 02/QH ngày 06/5/2003;
- Căn cứ Luật Khuyến khích Đầu tư số 02/QH ngày 08/7/2009;
- Căn cứ Nghị quyết Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc thông qua Sắc lệnh Đặc khu kinh tế và khu kinh tế riêng biệt tại CHDCND Lào số 47/UBTV ngày 26/10/2010;
- Căn cứ văn bản kết luận tại kỳ họp thường kỳ Chính phủ, số 2898/BTK ban hành ngày 05/10/2010.
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ RA SẮC LỆNH
CHƯƠNG I
ĐIỀU KHOẢN CHUNG
Điều 1: Mục đích
Sắc lệnh này quy định nguyên tắc, thủ tục thành lập, hoạt động và các chính sách về đặc khu kinh tế và khu kinh tế riêng biệt, nhằm triển khai thực hiện Luật Khuyến khích đầu tư, nhất là Phần III Chương 5, điều 59 nhằm thu hút và khuyến khích đầu tư phát triển đặc khu kinh tế và khu kinh tế riêng biệt với chính sách và hình thức đặc biệt, xây dựng quản lý hành chính "đơn vị quản trị nhỏ-xã hội rộng" trên cơ sở gìn giữ bảo vệ văn hóa tốt đẹp, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và trật tự xã hội, môi trường, khuyến khích thế mạnh địa phương và quốc gia, đảm bảo an ninh, an toàn, góp phần phát triển kinh tế quốc gia giàu mạnh, vững chắc, ngày càng củng cố đời sống nhân dân các dân tộc.
Điều 2: Đặc khu kinh tế và khu kinh tế riêng biệt
Đặc khu kinh tế là khu phát triển kinh tế mới, được Chính phủ quy định là khu vực có vị trí, môi trường kinh tế thuận lợi và độc lập để tiến hành kinh doanh hơn các khu vực khác trên toàn quốc, có hạ tầng cơ sở kinh tế-xã hội đồng bộ, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh sản xuất kinh doanh, có sức thu hút đầu tư làm cho kinh tế phát triển trên nhanh hơn các khu vực khác. Đặc khu kinh tế được hưởng chính sách khuyến khích đặc biệt, tự chủ trong hệ thống kinh tế-tài chính, hệ thống quản trị theo cơ chế, đơn vị hành chính nhỏ, xã hội rộng, có Ban Quản trị hoặc Hội đồng Quản trị, có hệ thống đảm bảo an toàn và gìn giữ văn hóa, bảo vệ môi trường bền vững, có diện tích từ 1.000 ha trở lên, có thể bao gồm nhiều khu kinh tế riêng biệt và nếu có dân sinh sống trong khu vực thì không cần thiết phải di dời, ngược lại sẽ được bố trí và phân công tham gia, cùng phát triển, có thu nhập ổn định.
Khu kinh tế riêng biệt là khu vực Chính phủ quy định có vị trí, môi trường kinh doanh thuận lợi và thống nhất hơn so với các khu vực khác trên toàn quốc, có đầy đủ hạ tầng cơ sở kinh tế-xã hội, tạo năng lực cạnh tranh nhằm thu hút mọi thành phần đầu tư. Việc đặt tên của khu kinh tế riêng biệt căn cứ tính chất riêng của từng khu vực nào đó, phù hợp tính chất của hạ tầng cơ sở và trung tâm tài chính thuận lợi cho kinh doanh, sản xuất và dịch vụ, có sự khác biệt cụ thể. Khu kinh tế riêng biệt được hưởng chính sách khuyến khích riêng, tự chủ trong hệ thống kinh tế-tài chính, có Hội đồng quản trị theo cơ chế một dấu và có một số đơn vị tiến hành kinh doanh sản xuất, thương mại và dịch vụ, có quy định ranh giới rõ ràng và không có dân sống trong khu vực này.
Khu kinh tế riêng biệt nằm trong đặc khu kinh tế được hình thành theo Hợp đồng giữa nhà đầu tư và Ban Quản trị/Hội đồng Quản trị đặc khu kinh tế.
Khu kinh tế riêng biệt nằm ngoài đặc khu kinh tế được hình thành trên cơ sở Sắc lệnh này và theo Hợp đồng giữa Chính phủ và nhà phát triển.
Đặc khu kinh tế và khu kinh tế riêng biệt viết bằng tiếng Anh là: Special Economic Zone and Specific Economic Zone (SEZ).
Điều 3: Giải thích từ ngữ
Một số từ ngữ được sử dụng tại Sắc lệnh này có ý nghĩa như sau:
1/ Nhà phát triển là cá nhân, pháp nhân hoặc tổ chức Nhà nước được Chính phủ CHDCND Lào cấp phép đầu tư phát triển khu vực nào đó là đặc khu kinh tế hoặc khu kinh tế riêng biệt, như phát triển hạ tầng cơ sở và công cộng nhằm tạo điều kiện thuận lợi trong việc tiến hành kinh doanh, sản xuất và dịch vụ;
2/ Nhà đầu tư là cá nhân, pháp nhân hoặc tổ chức Nhà nước đăng ký tiến hành kinh doanh tại SEZ.
3/ Đơn vị kinh doanh, sản xuất, thương mại và dịch vụ tại khu kinh tế riêng biệt là nhà đầu tư đăng ký hợp pháp theo quy định của Hội đồng quản trị.
4/ Hoạt động sản xuất là việc sản xuất, chế biến, lắp ráp, thành phẩm, thay đổi tình trạng vật liệu thô hoặc đồ vật nhằm tạo ra sản phẩm mới, ví dụ: nhà máy nội thất, nhà máy lắp ráp phương tiện, nhà máy lắp ráp thiết bị điện tử và sản xuất..
5/ Hoạt động thương mại là việc sử dụng vật tư, hàng hóa và các sản phẩm đưa ra ngoài bán theo nguyên trạng mà không chế biến hoặc có thể chỉ đóng gói, thay đổi nhỏ như: thương mại xuất-nhập khẩu, thương mại mậu biên, cửa hàng miễn thuế, bán buôn…
6/ Hoạt động dịch vụ là việc cung cấp lao động hoặc cung cấp dịch vụ cho người khác bằng lao động, trí tuệ, thiết bị máy móc, phương tiện, hàng hóa…và được trả phí dịch vụ hoặc đồ thay thế, ví dụ: vận tải, cung ứng kho bãi, xây dựng khách sạn, du lịch, ngân hàng, trường học, hoạt động công cộng như: khu vui chơi, dịch vụ địa điểm du lịch và các dịch vụ khác…
7/ Đơn vị quản trị nhỏ-xã hội rộng là việc quản lý SEZ bằng cơ chế chịu trách nhiệm nhằm đạt hiệu quả, toàn diện theo quyền hạn và nhiệm vụ của từng khu vực, có con dấu riêng, có quyền sử dụng trong quan hệ, phối hợp công tác, với mọi bộ phận trong nước và quốc tế.
8/ Phát triển gắn liền đảm bảo môi trường là việc phát triển SEZ gìn giữ sự phong phú của hệ sinh thái và sinh vật, nhà phát triển, người đầu tư không làm ảnh hưởng tới môi trường, có kế hoạch phục hồi, môi trường giữ nguyên tình trạng tốt, đảm bảo không gây tác động lâu dài, hạn chế dư thừa, rác, chất bẩn, chất hóa học, ô nhiễm không khí, âm thanh có thể tác động tới môi trường, sức khỏe người và vật.
9/ Chuyển đất thành vốn trong phát triển SEZ là việc phát triển đất có trọng điểm và để đất trên trở thành vốn (giữ cổ phần, thu phí thuê hoặc tô nhượng và đem bảo lãnh lấy vốn) để phát triển hiệu qủa.
10/ Việc phát triển SEZ đạt hiệu quả kinh tế là việc áp dụng thế mạnh tài nguyên thiên nhiên toàn diện và các chính sách khuyến khích được Chính phủ giao cho SEZ vào việc xây dựng kế hoạch và chiến lược phát triển của SEZ đạt hiệu quả kinh tế tối đa.
11/ Việc phát triển SEZ đạt hiệu quả về mặt xã hội là việc làm chuyển biến đời sống và lối sống của người dân trong khu vực SEZ đạt mục tiêu thiên niên kỷ vì sự phát triển bền vững.
12/ Công dân là người dân quốc tịch Lào, công dân danh dự, ngoại kiều, người không quốc tịch, lao động, chuyên gia và nhà đầu tư trong và ngoài nước sinh sống, tiến hành kinh doanh, sản xuất và dịch vụ tại SEZ.
13/ Hội nhập kinh tế với khu vực và quốc tế là việc hội nhập kinh tế toàn diện của SEZ vào kinh tế ASEAN, khu vực và quốc tế;
14/ Khu vực có năng lực cạnh tranh cao là khu vực phát triển các cơ chế quản trị và quản lý doanh nghiệp theo cơ chế thị trường thực sự.
Điều 4: Chính sách của Nhà nước về SEZ
Nhà nước có chính sách khuyến khích đặc biệt cho mọi thành phần trong và ngoài nước đầu tư vào phát triển SEZ, nhất là xem xét nhất trí đầu tư, tiến hành kinh doanh, sản xuất, dịch vụ, thu-chi ngân sách, quản trị bởi cơ chế, đơn vị quản trị nhỏ-xã hội rộng đối với đặc khu kinh tế, cơ chế một dấu đối với khu kinh tế riêng biệt, đảm bảo an toàn-an ninh, gìn giữ bảo vệ môi trường bền vững và chính sách đặc biệt khác theo Sắc lệnh này và Hợp đồng giữa Chính phủ và nhà phát triển.
Điều 5: Nguyên tắc thành lập và hoạt động của SEZ
Nguyên tắc thành lập SEZ thực hiện theo nội dung điều 34 Luật Khuyến khích đầu tư.
Ngoài nguyên tắc hoạt động của SEZ được quy định tại điều 49, Luật khuyến khích đầu tư, SEZ còn hoạt động theo nguyên tắc dưới đây:
1. Tôn trọng và thực hiện Hiến pháp, luật, Sắc lệnh này và Hợp đồng tô nhượng;
2. Chủ động và độc lập trong quản trị kinh tế;
3. Đảm ổn sự công bằng giữa đầu tư trong và ngoài nước tại SEZ;
4. Đảm bảo an toàn, trật tự, tình đoàn kết và phát huy văn hóa tốt đẹp của Lào;
5. Đảm bảo phát triển bền vững và gìn giữ môi trường;
6. Đảm bảo quản trị "đơn vị quản trị nhỏ-xã hội rộng";
7. Chịu sử quản lý vĩ mô của Chính phủ cũng như Ủy ban Quốc gia quản lý SEZ riêng hoặc cơ quan quản lý địa phương được Chính phủ giao.
Điều 6: Chiến lược phát triển của SEZ
Chính phủ quy định chiến lược phát triển SEZ trên cơ sở kết hoạch phát triển kinh tế-xã hội quốc gia từng giai đoạn, nhằm góp phần củng cố chính sách chuyển tài sản thành vốn, như chính sách chuyển đất thành vốn. Ngoài ra, góp phần củng cố chính sách mở cửa, hội nhập kinh tế với khu vực và quốc tế (thị trường chung căn cứ hạ tầng sản xuất chính, là khu cạnh tranh cao, khu có mức độ phát triển kinh tế tương đương và khu có mức độ hội nhập kinh tế thế giới), góp phần tăng cường chính sách công nghiệp hóa và hiện đại hóa.
Phát triển SEZ với hình thức phát triển theo cơ chế sử dụng đất có trọng điểm, bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế và xã hội nhằm sinh lợi tối đa vào việc phát triển hạ tầng cơ sở, hệ thống văn bản pháp quy và hệ thống viện nghiên cứu cần thiết, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiến hành kinh doanh tạo ra sức cạnh tranh cho công nghiệp trọng điểm từ lợi ích của việc tiết kiệm quy mô, xây dựng công nghiệp khép kín và tham gia mắt xích cung ứng và giá trị quốc tế.
Điều 7: Bảo vệ đầu tư của nhà phát triển và người đầu tư
Nhà đầu tư và người phát triển SEZ được bảo vệ quyền và lợi ích của mình do Nhà nước quy định tại Điều 60, 61 và Điều 62 Luật khuyến khích đầu tư.
Điều 8: Quyền và nghĩa vụ của công dân tại SEZ
Công dân sinh sống tại SEZ được bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng theo Hiến pháp và luật pháp nước CHDCND Lào và chịu sự quản lý của Ban Quản trị và/hoặc Hội Đồng Quản trị kinh tế SEZ; có nghĩa vụ tham gia mọi hoạt động và hợp tác với mọi thành phần trong SEZ, tuân thủ và thực hiện Sắc lệnh này và các quy định liên quan của SEZ. Công dân tại SEZ được hưởng chính sách khuyến khích như nhà đầu tư tại SEZ.
Điều 9: Hợp tác quốc tế
Nhà nước khuyến khích mọi thành phần trong SEZ thu hút nhà đầu tư nước ngoài đến đầu tư tại khu vực theo Luật khuyến khích đầu tư, mở rộng thị trường, trao đổi lao động, vật liệu thô, kỹ thuật, tài chính, thương mại, xuất nhập khẩu, vận tải, xuất nhập cảnh, quan hệ với công ty nước ngoài để hội nhập khu vực và quốc tế trên cơ sở pháp luật nước CHDCND Lào.
CHƯƠNG II
Các bước thành lập SEZ
Điều 10: Giấy tờ xin thành lập SEZ
Cá nhân muốn thành lập SEZ phải nộp đơn xin tại Ủy ban Quản lý SEZ thông qua Tổ thư ký SEZ, gồm những giấy tờ sau:
1. Luận chứng kinh tế-kỹ thuật;
2. Quy hoạch phát triển;
3. Đánh giá tác động tới văn hóa-xã hội và môi trường;
4. Dự thảo Hợp đồng phát triển dự án SEZ;
5. Giấy tờ chứng nhận tài chính;
6. Giấy chứng nhận vai trò cá nhân hoặc pháp nhân;
7. Giấy tờ khác liên quan.
Điều 11: Điều kiện cá nhân được phép phát triển SEZ
Cá nhân được phép phát triển SEZ phải có các điều kiện sau:
- Có tư cách pháp nhân;
- Có kinh nghiệm tiến hành kinh doanh từ 5 năm trở lên;
- Có khả năng tài chính tốt, được chứng nhận của Cơ quan Tài chính trong hoặc ngoài nước có uy tín.
Điều 12: Các bước xem xét thành lập
Việc xem xét thành lập SEZ gồm những bước sau:
1. Cá nhân muốn phát triển SEZ phải nộp Đơn xin thành lập SEZ thông qua Tổ Thư ký Đặc khu kinh tế và khu kinh tế riêng theo mẫu quy định;
2. Sau khi nhận được Đơn xin thành lập SEZ, Tổ thư ký SEZ phối hợp với ngành và cơ quan quản lý địa phương liên quan nghiên cứu trình Chủ tịch Ủy ban SEZ bổ nhiệm Ban Thành lập SEZ riêng để nghiên cứu bước đầu tính khả thi việc thành lập SEZ.
3. Sau khi Ban Thành lập được chính thức, Ban Thành lập trên tổ chức Cuộc họp đầu tư tiên để thảo luận, phân công công việc và lập kế hoạch cụ thể.
Trưởng Ban trên có quyền bổ nhiệm Tổ Thư ký giúp việc;
4. Tổ Thư ký tổng hợp kết quả nghiên cứu, kết quả đàm phán Hợp đồng tô nhượng và nghiên cứu của Ban Thành lập nhằm trình trước Hội nghị Tổ Thư ký thường trực và không thường trực, sau đó trình Ban Quản lý SEZ xem xét trên cơ sở khẳng định nhất trí bằng văn bản của Ban Thành lập;
5. Ban Quản lý đặc khu kinh tế xem xét nhất trí hoặc từ chối việc thành lập khu kinh tế. Trường hợp nhất trí cấp phép thành lập SEZ
Điều 13: Thành phần và nhiệm kỳ của Ban Thành lập SEZ
Thành phần của Ban Thành lập SEZ gồm:
1. Tỉnh trưởng hoặc Phó Tỉnh trưởng nơi thành lập Đặc khu kinh tế hoặc cá nhân thích hợp làm Trưởng Ban.
2. Trưởng hoặc Phó Ban Quản lý SEZ hoặc/và ngành thích hợp làm Phó Ban và một số ủy viên từ một số ngành, địa phương khác liên quan và nhà phát triển;
Ban Thành lập SEZ có nhiệm kỳ tối đa 6 tháng, trường hợp cần thiết, hợp lý, có thể gia hạn thêm nhưng không quá 6 tháng trên cơ sở đề nghị của Ban Thư ký SEZ.
Điều 14: Quyền và nhiệm vụ của Ban Thành lập
Ngoài quyền và nhiệm vụ được quy định tại Điều 37, Luật khuyến khích đầu tư, Ban Thành lập SEZ còn có thêm quyền và nhiệm vụ sau:
1. Nghiên cứu, lập quy hoạch tổng thể toàn diện của SEZ thông qua việc phối hợp với các ngành và cơ quan quản lý địa phương liên quan;
2. Giải quyết các vấn đề liên quan tới việc thành lập SEZ, như vấn đề đất đai và lợi ích của nhân dân tại SEZ kinh tế;
3. Thực hiện đền bù lợi ích của nhân dân theo quy định và quy hoạch nhân dân bị tác động bởi dự án;
4. Nghiên cứu chính sách khuyến khích và các điều kiện khác sẽ được quy định trong Hợp đồng Tô nhượng giữa Chính phủ và nhà đầu tư;
5. Phối hợp với Tổ Thư ký SEZ đàm phán Hợp đồng với nhà phát triển và dự thảo bước đầu Hợp đồng trình Ban Thành lập SEZ xem xét;
6. Trường hợp cần thiết, có thể thuê tư vấn hoặc chuyên gia trong và ngoài nước giúp nghiên cứu thành lập SEZ hoàn thiện. Chi phí thuê do công ty nhà phát triển trả.
7. Ban Thành lập và nhà phát triển cùng trình kết quả nghiên cứu tính khả thi phát triển trước Hội nghị ban Thư ký thường trực và không thường trực nhằm tổng kết kết quả nghiên cứu tính khả thi và cho ý kiến chỉ đạo vĩ mô về dự án, nhằm đảm bảo việc phát triển đạt hiệu quả và phù hợp với kết hoạc phát triển kinh tế-xã hội quốc gia;
8. Ban Thành lập và nhà phát triển thảo luận và sửa chữa lại một số vấn đề chưa rõ ràng theo chỉ đạo tại Hội nghị, được quy định tại điều 7 nhằm khẳng định bằng văn bản đển Tổ Thư ký báo cáo Ban Thành lập SEZ;
9. Nghiên cứu và trình nhân sự tham gia Ban Quản trị và/hoặc Hội đồng kinh tế SEZ để xin Chủ tịch Ban Thành lập bổ nhiệm.
10. Trình Hội nghị Ban Thành lập xem xét nhất quyết định.
Điều 15: Ban Thành lập SEZ chấm dứt hoạt động
Ban Thành lập SEZ sẽ chấm dứt hoạt động trong một số trường hợp sau:
1. Chính phủ hoặc Ban Thành lập chính thức quyết định thành lập SEZ và bổ nhiệm Ban Quản trị và/hoặc Hội đồng Quản trị;
2. Trường hợp Chính phủ hoặc ban Thành lập không cấp phép thành lập SEZ;
3. Thời gian hoạt động của Ban kết thúc theo Quyết định thành lập, mà không được gia hạn.
CHƯƠNG III
Việc phát triển, đầu tư và hoạt động tại SEZ
Điều 16: Việc phát triển
Việc phát triển SEZ gồm:
1. Lập kế hoạch công tác;
2. Phát triển hạ tầng cơ sở;
3. Hình thức phát triển;
4. Tổ chức thực hiện công tác phát triển.
Điều 17: Lập kế hoạch công tác của SEZ
Ban Quản trị và/hoặc Hội đồng Quản trị kinh tế SEZ nghiên cứu và lập kế hoạch công tác ngắn, trung và dài hạn căn cứ quy hoạch tổng thể phát triển toàn diện của SEZ, như kế hoạch phát triển và sử dụng đất, kế hoạch phát triển hạ tầng cơ sở, phát triển đô thị, xây dựng khu dân cư mới, khu du lịch, khu văn hóa, giáo dục, y tế, công-nông nghiệp, kế hoạch sản xuất hàng hóa xuất khẩu…
Điều 18: Phát triển hạ tầng cơ sở
Phát triển hạ tầng cơ sở phải thực hiện những việc dưới đây:
1. Nhà phát triển SEZ phải tiến hành xây dựng hạ tầng cơ sở nhằm tạo điều kiện thuận lợi thu hút đầu tư trong và ngoài nước vào SEZ, khu kết nối giữa SEZ và địa phương, rừng phòng hộ quốc gia theo quy hoạch tổng thể, khu chống va chạm, khu bảo tồn và các khu vực khác được Chính phủ công nhận;
2. Hạ tầng cơ sở cần thiết phải có gồm đường quốc lộ, đường nhánh, đường nối với khu, hệ thống lưới điện, nước máy, hệ thống xử lý nước thải, rác, kè chống xụt, bến tàu, cửa khẩu xuất nhập cảnh, mạng lưới trong khu, hạ tầng cơ sở giáo dục, y tế, văn hóa-xã hội, viễn thông….đạt tiêu chuẩn cao (trừ việc xây dựng không đạt tiêu chuẩn do Chính phủ quy định).
3. Nguồn vốn phát triển hạ tầng cơ sở là trách nhiệm của nhà phát triển, có thể lấy từ vốn nhà phát triển, ngân sách quốc gia, vốn vay, vốn của nhà phát triển với Nhà nước hoặc thu nhập sinh ra từ quản trị SEZ theo tỷ lệ phân chia được quy định tại Hợp đồng tô nhượng.
Điều 19: Hình thức phát triển SEZ
Việc phát triển SEZ tại CHDCND Lào có thể tiến hành dưới các hình thức sau:
1. Nhà nước đầu tư phát triển 100% có nghĩa SEZ do Nhà nước là nhà đầu tư phát triển hạ tầng cơ sở và dịch vụ công ích trên toàn khu bằng việc sử dụng ngân sách Nhà nước.
2. Nhà nước đầu tư cùng tư nhân phát triển có nghĩa SEZ do Nhà nước góp vốn cùng tư nhân trong hoặc ngoài nước phát triển cơ sở hạ tầng và dịch vụ công ích trên toàn khu, Nhà nước có thể góp vốn bằng quyền sử dụng đất thông qua việc Nhà nước giữ cổ phần tối thiểu 30% hoặc góp vốn bằng hình thức khác theo sự nhất trí của hai bên, nhà phát triển tư nhân phải góp vốn bằng tiền mặt và tài sản;
3. Tư nhân đầu tư phát triển 100% có nghĩa SEZ do tư nhân trong hoặc ngoài nước đầu tư phát triển hạ tầng cơ sở và dịch vụ công ích trên toàn khu bằng ngân sách của mình.
Điều 20: Tổ chức thực hiện công tác phát triển
Việc tổ chức thực hiện công tác phát triển SEZ phải gắn liền với một số công tác quan trọng sau:
- Nghiên cứu và lập kế hoạch phát triển thành từng giai đoạn (ngắn, trung và dài hạn), đồng thời đánh giá và phân tích kết quả;
- Nghiên cứu và quy định chính sách khuyến khích phát triển SEZ, gồm cả cơ chế phối hợp công tác với các ngành;
- Nghiên cứu kỹ thuật chuyên môn và tiêu chuẩn bảo vệ gìn giữ môi trường;
- Việc phát triển SEZ bằng luật và kế hoạch quy hoạch;
- Nghiên cứu lập cơ chế quản trị và tài chính của SEZ trong sáng và có thể kiểm toán;
- Quan hệ hợp tác kỹ thuật chuyên môn và trao đổi kinh nghiệm với quốc tế.
Điều 21: Đầu tư tại SEZ
Đầu tư tại SEZ gồm:
1. Đầu tư chung;
2. Đầu tư theo lĩnh vực được khuyến khích.
Điều 22: Đầu tư chung
Nhà phát triển và người đầu tư có thể đầu tư mọi ngành tại SEZ, trừ hoạt động Chính phủ cấm như: buôn bán, sản xuất vũ khí, chất gây nghiện, chất hóa học, hoạt động hủy hoại môi trường, đời sống và tài sản nhân dân, dịch vụ trái phép, phá hoại an ninh, trật tự, văn hóa tốt đẹp của quốc gia và địa phương, đầu tư chung chung sẽ không được hưởng chính sách khuyến khích nào của SEZ.
Điều 23: Đầu tư theo lĩnh vực được khuyến khích
Đầu tư được khuyến khích theo quy định của Ban Quản trị hoặc Hội đồng Quản trị kinh tế SEZ như công nghiệp điện tử, nghiên cứu khoa học và kỹ thuật mới đưa vào sản xuất, sản xuất thiết bị xây dựng hiện đại, hạ tầng du lịch, sản xuất-chế biến nông nghiệp sạch, sản phẩm sạch, sản xuất xuất khẩu, trồng cây gây rừng, trường học, bệnh viện, công viên và một số hoạt động phù hợp và là thế mạnh của SEZ.
Điều 24: Quyền và nghĩa vụ nhà phát triển SEZ
Nhà phát triển SEZ có quyền và nghĩa vụ như sau:
1. Chủ động đầu tư phát triển, quản trị hoạt động đầu tư, thuê mướn lao động, nơi ở, chuyển vốn, tài sản và doanh thu ra nước ngoài được quy định tại Điều 64, 65, 66, 67 và 68 Luật Khuyến khích Đầu tư;
2. Thực hiện nghĩa vụ chính bao gồm nghĩa vụ bảo vệ gìn giữ môi trường được quy định tại Điều 69 và 70 Luật Khuyến khích Đầu tư;
3. Thực hiện nghĩa vụ đóng góp cho Quỹ phát triển con người theo Hợp đồng tô nhượng giữa Chính phủ và nhà phát triển;
4. Thực hiện và thu hồi vốn theo Hợp đồng giữa Chính phủ và nhà phát triển;
5. Thực hiện quyền và nghĩa vụ khác được quy định tại Hợp đồng, Sắc lệnh này và văn bản pháp quy của SEZ.
Điều 25: Quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư tại SEZ
Nhà đầu tư tại SEZ có quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 63, 64, 65, 66, 68, 69 và 70 Luật Khuyến khích đầu tư và nghĩa vụ được quy định trong Hợp đồng.
Điều 26: Hoạt động tại SEZ
Hoạt động tại SEZ gồm:
- Đề nghị đầu tư;
- Dịch vụ đầu tư một cửa;
- Xuất-Nhập khẩu;
- Ra vào khu SEZ;
- Gìn giữ bảo vệ ăn hóa tốt đẹp quốc gia và bảo tồn môi trường;
- Quan hệ với bên ngoài.
Điều 27: Đề nghị đầu tư
Cá nhân, pháp nhân trong và ngoài nước có mục đích đầu tư tại SEZ phải nộp Đơn xin đầu tư lên Ban Quản trị hoặc Hội đồng Quản trị kinh tế SEZ theo từng trường hợp theo mẫu được quy định.
Tùy từng trường hợp, Nhà đầu tư có thể nộp đơn đầu tư thông qua fax, email hoặc nộp trực tiếp tại Văn phòng dịch vụ đầu tư một cửa của SEZ.
Điều 28: Dịch vụ đầu tư một cửa
Dịch vụ đầu tư một cửa là việc thực hiện nguyên tắc và cơ chế tổ chức thực hiện được quy định tại Điều 45 và 46 Luật Khuyến khích đầu tư.
Ban Quản trị hoặc Hội đồng Quản trị kinh tế của Đặc khu kinh tế thành lập Văn phòng dịch vụ đầu tư một cửa tùy từng trường hợp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư trong và ngoài nước như cấp Giấy Đăng ký doanh nghiệp, đáp ứng thông tin, dịch vụ đầu tư và các dịch vụ khác…
Điều 29: Xuất-Nhập khẩu
Việc nhập khẩu hàng hóa, thiết bị, phương tiện, máy móc, vật liệu thô, vật liệu bán thành phẩm (trừ xăng dầu) để sử dụng trong SEZ thực hiện theo quy định riêng của khu.
Việc xuất khẩu hàng hóa phải thực hiện theo luật pháp CHDCND Lào, Hợp đồng và Hiệp ước Quốc tế mà Lào là thành viên.
Ban Quản trị và Hội đồng Quản trị kinh tế SEZ chứng nhận và thường xuyên báo cáo việc xuất nhập khẩu trước Ủy ban Quốc gia Quản lý SEZ.
Điều 30: Ra-vào SEZ
Việc ra-vào SEZ phải qua điểm kiểm tra theo quy định.
Điều 31: Gìn giữ bảo vệ môi trường
Ban Quản trị hoặc Hội đồng Quản trị kinh tế SEZ quy định nguyên tắc, quy chế quản lý, gìn giữ bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên, phù hợp với luật pháp nước CHDCND Lào và đảm bảo việc phát triển bền vững.
Điều 32: Quan hệ với bên ngoài
SEZ có quyền hoạt động với các công ty khác, tổ chức trong và ngoài nước theo luật pháp nước CHDCND Lào.
Tổ chức, các ngành bên ngoài SEZ có nhiệm vụ tạo thuận lợi, hợp tác, giúp đỡ và hướng dẫn để SEZ hoạt động hiệu quả cao theo quyền và nhiệm vụ của SEZ.
CHƯƠNG IV
Chuyển đổi SEZ thành thành phố
Điều 33: Điều kiện chuyển đổi SEZ thành thành phố
Việc chuyển đổi SEZ thành thành phố phải căn cứ điều kiện được quy định tại Điều 12 Chương II Luật Quản lý địa phương, cụ thể dưới đây:
1. Là đô thị lớn, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa-xã hội;
2. Là trung tâm tiến hành kinh doanh, sản xuất, thương mại, dịch vụ và du lịch;
3. Có vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế và xã hội quốc gia, cơ sở hạ tầng phát triển, dịch vụ công ích, điện lực, nước máy, đường xá, sân bay quốc tế, bến tàu, viễn thông, bưu điện, vận tải, hoạt động y tế như bệnh viện, trường học được phát triển thành hệ thống hoàn thiện, bao gồm hệ thống quản trị công nghiệp hóa và hiện đại hóa, có quan hệ hợp tác với bên ngoài và quốc tế.
Đối với SEZ chưa có điều kiện xây dựng bến tàu hoặc sân bay quốc tế, không coi đó là điều kiện hạn chế việc chuyển đổi thành thành phố.
4. Có từ 80.000 công dân trở lên.
Điều 34: Các bước xem xét
Ban Quản trị hoặc Hội đồng Quản trị kinh tế SEZ trình Tổ thư ký SEZ để phối hợp với các ngành và cơ quan quản lý địa phương liên quan tổ chức khảo sát và kiểm tra hệ thống quản trị nhằm đánh giá, ước định theo điều kiện quy định tại Điều 33 Sắc lệnh này. Qua việc ước định, nếu thấy SEZ có đủ điều kiện và đảm bảo phát triển bền vững, Ban Quản trị hoặc Hội đồng Quản trị kinh tế SEZ thông qua Tổ Thư ký SEZ để trình Ủy ban Quốc gia Quản lý SEZ xem xét và báo cáo Chính phủ để trình Quốc hội xem xét thông qua.
Điều 35: Tuyên bố thành thành phố
Ủy ban Quốc gia Quản lý SEZ phối hợp với Ban Thư ký Nội các Chính phủ và Ủy ban Thường vụ Quốc hội tổ chức Lễ Tuyên bố và trao Quyết định SEZ trở thành thành phố theo Hiến pháp và luật pháp nước CHDCND Lào.
CHƯƠNG V
Chính sách khuyến khích
Điều 36: Chính sách khuyến khích
Căn cứ Điều 59 Luật khuyến khích đầu tư, ngoài chính sách khuyến khích được quy định tại Luật, SEZ còn được hưởng thêm chính sách khuyến khích sau:
- Là đơn vị quản trị nhỏ-xã hội rộng (đối với Đặc khu kinh tế) hoặc hệ thống một dấu (đối với khu kinh tế riêng) theo chính sách cơ chế quản trị kiểu mới công nghiệp hóa và hiện đại hóa;
- Toàn quyền phát triển và quản lý SEZ;
- Quản trị kinh tế, tài chính độc lập;
- Thực hiện chính sách dịch vụ đầu tư một cửa;
- Định giá thuê đất, bất động sản và tài sản khác trong khu vực của mình;
- Được hưởng thêm chính sách theo luật định.
Điều 37: Chính sách đối với nhà phát triển và người đầu tư tại SEZ
Nhà phát triển và người đầu tư SEZ được hưởng chính sách sau:
1. Chính sách thuế đặc biệt và hải quan, Ban Quản trị hoặc Hội đồng Quản trị kinh tế SEZ xem xét việc miễn hoặc giảm tỷ giá thuế hoặc hải quan cho nhà đầu tư, căn cứ các ngành, hoạt động, quy mô đầu tư, nhưng tối đa không hơn tỷ giá quy định tại Luật Thuế và Luật Hải quan.
2. Được hưởng miễn thuế nhập khẩu xăng dầu trong thời gian xây dựng cho nhà phát triển đặc khu kinh tế tại vùng sâu vùng xa hoặc địa hình trắc trở (không phải đặc khu kinh tế chung chung) và lập kế hoạch nhập khẩu năm do Ủy ban Quốc gia Quản lý SEZ là người xem xét;
3. Nhập khẩu xăng dầu dành cho nhà đầu tư và các nhà phát triển tại SEZ phải nộp thuế-hải quan theo Luật khuyến khích đầu tư, Luật Hải quan và Luật Thuế;
4. Nhập khẩu nguyên liệu thô tại CHDCND Lào để sử dụng các hoạt động của SEZ như xuất khẩu hàng hóa và được hưởng chính sách thuế-hải quan theo Luật;
5. Được hưởng chính sách khuyến khích bằng quyền sử dụng đất và sở hữu về bất động sản theo điều 58 Luật khuyến khích đầu tư;
6. Được hưởng quyền cùng gia đình cư trú tại CHDCND Lào theo giai đoạn Hợp đồng đầu tư phát triển;
7. Được hưởng quyền thuê mướn lao động theo điều 68 Luật khuyến khích đầu tư;
8. Tạo thuận lợi trong việc cung cấp thông tin đầu tư…;
9. Có hình thức khen thưởng phù hợp với kết quả của nhà phát triển và người đầu tư;
10. Được công nhận là công dân danh dự theo quy định.
Điều 38: Bảo vệ quyền và lợi ích nhà phát triển và người đầu tư tại SEZ
Chính phủ công nhận, bảo vệ quyền và lợi ích bao gồm cả tài sản của nhà phát triển và người đầu tư tại SEZ theo điều 60,61 và 62 Luật khuyến khích đầu tư.
Chính phủ công nhận, bảo vệ quyền và lợi ích của nhà phát triển theo Hợp đồng Tô nhượng SEZ theo điều 37 Sắc lệnh này.
Điều 39: Thuê đất
Nhà đầu tư tại SEZ thuê đất dài hạn sẽ được hưởng chính sách thuê đất theo cách thức và tỷ giá thuê do Ban Quản trị hoặc Hội đồng Quản trị kinh tế SEZ quy định.
Điều 40: Tiếp cận nguồn vốn
Nhà đầu tư có thể tiếp cận nguồn vốn vay từ ngân hàng kinh doanh hoặc trung tâm tài chính khác tại CHDCND Lào và nước ngoài.
Điều 41: Chiết khấu
Nhà đầu tư và người phát triển SEZ có thể trừ chi phí dành cho việc đào tạo nhân lực từ thuế thu nhập hàng năm.
CHƯƠNG VI
Đất đai SEZ
Điều 42: Quy định khu vực đất đai
Nhà nước quy hoạch đất chỉ riêng mặt đất (không bao gồm tài sản và tài nguyên khác dưới lòng đất và trên bầu trời) để xây dựng SEZ căn cứ đặc điểm, quy mỗ và điều kiện đất là nơi cư dân không đông đúc, vị trí địa lý phù hợp, không bao gồm dự án phát triển được Chính phủ cấp phép.
Điều 43: Đền bù thiệt hại
Nhà nước và nhà phát triển phải đền bù quyền sử dụng đất đai, công trình xây dựng và đồ đạc khác do tác động từ việc quy hoạch xây dựng và phát triển SEZ, theo luật định.
Điều 44: Đất cấm và đất đệm
Cá nhân hoặc pháp nhân không có quyền sử dụng hoặc xây dựng công trình xây dựng tại đất cấm và đất đệm.
Đất cấm và đất đệm giao cho Ban Quản trị hoặc Hội đồng Quản trị SEZ gìn giữ, bảo tồn, phục hồi và sử dụng bảo đảm phát triển bền vững và gìn giữ bảo vệ môi trường tại SEZ.
Đất cấm và đất đệm gia cho SEZ gìn giữ môi trường và trồng cây gây rừng nhằm phủ xanh và cung cấp ô xi cho SEZ sẽ miễn phí thuê và tô nhượng trong suốt thời gian tô nhượng. Nhưng SEZ phải quản lý không để hiện tượng chặt phá cây.
Điều 45: Phân chia khu vực
Sau khi được sự đồng ý thành lập SEZ, trước khi chính thức ký Hợp đồng tô nhượng phát triển SEZ, Ban Quản lý thành lập SEZ phối hợp với cơ quan quản lý đất Quốc gia, Ủy ban Biên giới Quốc gia (Bộ Ngoại giao), các ngành và địa phương liên quan để cắm mốc khu vực theo sự đồng ý của Chính phủ, đồng thời vẽ bản đồ khu vực đính kèm Hợp đồng tô nhượng phát triển SEZ.
Điều 46: Thành lập Cửa khẩu
Ban Thành lập SEZ phối hợp với ngành bảo vệ an ninh-quốc phòng, Ủy Ban Biên giới Quốc gia (Bộ Ngoại giao), Nhà chức trách thuế, ngành địa phương liên quan để xây dựng Cửa khẩu Quốc tế và Cửa khẩu địa phương của SEZ.
Điều 47: Mở rộng hạ tầng phát triển SEZ
Nhà phát triển có mục đích mở rộng hạ tầng phát triển phải có Đơn xin tới Tổ Thư ký SEZ để trình Ủy ban Quốc gia quản lý SEZ Chính phủ xem xét.
Điều 48: Quan hệ với Cơ quan chính quyền địa phương
Cơ quan chính quyền địa phương nơi đặt SEZ phải giúp và hợp tác với Ban Quản trị hoặc Hội đồng Quản trị kinh tế SEZ với từng trường hợp như thăm dò, quy hoạch đất, đền bù công trình xây dựng….
Điều 49: Thời hạn phát triển của Đặc khu kinh tế
Nhà phát triển có thể phát triển Đặc khu kinh tế nhiều nhất không quá 99 năm và có thể gia hạn tuỳ từng trường hợp theo sự cho phép của Nhà nước, đặc biệt ưu tiên các dự án mang lại hiệu quả cao cho đất nước, triển khai hợp đồng hiệu quả và có nhiều đóng góp trong phát triển địa phương.
Sau khi thời hạn phát triển Đặc khu kinh tế kết thúc, Nhà nước là người chịu trách nhiệm quản lý hành chính Đặc khu kinh tế trên các mặt như thu thuế, lệ phí, tiền thuê sử dụng đất, cở sở hạ tầng và các hạng mục công trình đang sử dụng tại khu vực Đặc khu kinh tế.
Điều 50: Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Cơ quan quản lý đất đai quốc ra cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Uỷ ban hành chính hoặc Hội đồng quản trị Đặc khu kinh tế.
Nội dung chủ yếu của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi: vị trí, diện tích, bản đồ đất, quy định thời gian và điều kiện sử dụng đất theo quy định ghi trong hợp đồng tô nhượng Đặc khu kinh tế.
Uỷ ban hành chính hoặc Hội đồng quản trị Đặc khu kinh tế là người cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong khu vực Đặc khu kinh tế của mình.
Điều 51: việc quản lý và sử dụng đất
Lĩnh vực chuyên môn, kỹ thuật trong quản lý và sử dụng đất trong Đặc khu kinh tế phải phù hợp với Luật đất đai.
Đối với các chính sách về đất, việc thu các thuế đất phải được thực hiện theo quy định của Đặc khu kinh tế.
Chương VII
Tài chính, kế toán và ngân sách của Đặc khu kinh tế
Điều 52: Tài chính của Đặc khu kinh tế
Tài chính của Đặc khu kinh tế được thực hiện như sau:
1- Đặc khu kinh tế là đơn vị kế hoạch và tài chính đặc biệt, tự cung, tự cấp, thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước theo hợp đồng tô nhượng và sắc lệnh này;
2- Thanh toán trong Đặc khu kinh tế sử dụng tiền kíp, thanh toán với nước ngoài thực hiện theo hợp đồng ký;
3- Ngân hàng Nhà nước Lào là đơn vị quản lý và kiển tra việc luân chuyển tiền tệ trong Đặc khu kinh tế theo quy định pháp luật về ngân hàng.
Điều 53: Việc sử dụng hệ thống tài chính, kế toán
Hệ thống tài chính, kế toán của nhà phát triển và đầu tư trong Đặc khu kinh tế phải thực hiện theo hệ thống tài chính, kế toán quy định tại Luật tài chính của Cộng hoà dân chủ Nhân dân Lào và có thể sử dụng hệ thống tài chính quốc tế khác nhưng cần phải được sự cho phép của Cục quản lý Đặc khu kinh tế và cần tạo điều kiện cho cơ quan kiểm toán Nhà nước có khả năng kiểm toán được.
Điều 54: Việc lưu thông và sử dụng ngoại tệ
Thu nhập từ bán sản phẩm, dịch vụ và các thu nhập khác của nhà đầu tư trong Đặc khu kinh tế bằng ngoại tệ phải chuyển vào tài khoản đã được mở tại ngân hàng tại CHDCND Lào.
Việc đưa tiền ngoại tệ vào hoặc ra khỏi Đặc khu kinh tế phải được thực hiện theo quy định pháp luật về việc quản lý lưu thông tiền ngoại tệ của CHDCND Lào.
Điều 55: Ngân sách Đặc khu kinh tế
Đặc khu kinh tế là đơn vị ngân sách độc lập do Đại hội hoặc Hội đồng quản trị Đặc khu kinh tế họp đề ra
Thu - chi ngân sách Đặc khu kinh tế như sau:
1. Thu nhập chủ yếu của Đặc khu kinh tế có được từ triển khai kinh doanh, sản xuất và dịch vụ sau:
- Cho thuê, tô nhượng đất Đặc khu kinh tế đã phát triển;
- Bán hoặc cho thuê bất động sản;
- Phí dịch vụ, lệ phí và các loại tem thuế theo quy định;
- Thu nhập thuế, hải quan phát sinh trong Đặc khu kinh tế (miễn thuế quan, thuế nhập khẩu CHDCND Lào);
- Tiền phạt do vi phạm hợp đồng đầu tư trong Đặc khu kinh tế;
- Thu nhập từ hoạt động kinh doanh, dịch vụ khách sạn, cửa hàng bách hoá và các hoạt động khác;
- Việc mua-bán cổ phần trực tiếp hoặc gián tiếp trong và ngoài nước;
- Các thu nhập khác.
2. Chi tiêu chủ yếu của Đặc khu kinh tế như sau:
- Chi tiêu trong đầu tư phát triển hạ tầng cơ sở;
- Chi tiêu trong quản lý hành chính Đặc khu kinh tế;
- Tiền lương, thưởng, trợ cấp (cán bộ Nhà nước và cán bộ của Đặc khu kinh tế);
- Phúc lợi xã hội (cán bộ Nhà nước, cán bộ của Đặc khu kinh tế và cán bộ theo hợp đồng);
- Chi cho các hạng mục công ích cần thiết trong Đặc khu kinh tế như điện, nước, đường xá, nhà ga, vệ sinh, công viên, trồng cây ven đường …v…v;
- Chi tiêu trong các trường hợp xảy ra tai nạn;
- Kho tập kết của Đặc khu kinh tế.
Tất cả các mục chi tiêu do Đại hội Ban quản lý hoặc Hội đồng quản trị kinh tế Đặc khu kinh tế họp phê chuẩn.
Tiền lương, tiền thưởng, trợ cấp của cán bộ Nhà nước tại Đặc khu kinh tế không được thấp hơn mức tiền lương, thưởng, trợ cấp của cán bộ Nhà nước và tuỳ thuộc mức độ phát triển về kinh tế của Đặc khu kinh tế.
3. Việc phân chia quyền lợi và tránh nhiệm trong thu chi ngân sách giữa Nhà nước và nhà phát triển Đặc khu kinh tế phải được thực hiện theo quy định giữ cổ phần theo từng thời kỳ 5 năm, 10 năm, 20 năm, 50 năm….theo quy định trong hợp đồng tô nhượng. Trường hợp nhà đầu tư, phát triển là Nhà nước hoặc tư nhân 100% cũng phải thực hiện theo quy định trong hợp đồng tô nhượng phát triển Đặc khu kinh tế;
4. Ngân sách Chi tiêu trong quản lý hành chính trong giai đoạn đầu của Ban quản lý hoặc Hội đồng quản trị Đặc khu kinh tế có được từ nhà đầu tư, được quy định rõ trong hợp đồng tô nhượng giữa Nhà nước và nhà đầu tư.
Điều 56: Việc phân chia lợi nhuận giữa Nhà nước và nhà đầu tư phát triển
Việc phân chia lợi nhuận giữa Nhà nước và nhà đầu tư phát triển như sau:
1. Lợi ích của Nhà nước.
- Tiền phân chia theo ti lệ góp vốn trong từng giai đoạn (trực tiếp) hoặc gián tiếp theo quy định của hợp đồng tô nhượng;
- Phân chia ngân sách theo quy định tại Khoản 3, Điều 55 ở trên;
- Giá trị tài nguyên thiên nhiên, hoàn toàn thuộc quyền của Nhà nước tại Đặc khu kinh tế quyết định;
- Thông qua của việc phát triển cơ sở hạ tầng, khu kết nối, tổng thu nhập quốc nội (GDP) của địa phương (gián tiếp);
- Tạo công ăn, việc làm cho nhân dân.
2. Lợi ích của cơ quan chính quyền tỉnh, Thành phố
- Giá trị sử dụng tài nguyên khoáng sản trong Đặc khu kinh tế (không dưới 50% giá trị của tài nguyên thiên nhiên);
- Ít nhất 30% của tổng thu nhập Nhà nước có được từ việc chia lợi nhuận và chia ngân sách Đặc khu kinh tế.
3. Lợi ích của cơ quan chính quyền huyện, thị xã
- Ít nhất 30% của giá trị sử dụng tài nguyên thiên nhiên trong Đặc khu kinh tế mà cơ quan chính quyền tỉnh, Thành phố được nhận;
- Ít nhất 30% tổng thu nhập của Nhà nước được nhận từ tiền chia lợi nhuận và tiền chia ngân sách Đặc khu kinh tế mà cơ quan chính quyền tỉnh, Thành phố được nhận.
4. Lợi ích của nhà đầu tư phát triển
- Thu nhập từ chia lợi nhuận của việc góp vốn theo từng giai đoạn được quy định trong hợp đồng tô nhượng giữa Nhà nước và nhà đầu tư phát triển;
- Thu nhập từ việc góp vốn trong các hoạt động khác phát sinh trong Đặc khu kinh tế;
- Thu nhập trong triển khai kinh doanh, dịch vụ, đầu tư và thu nhập khác theo sự cho phép của Nhà nước.
Đối với quyền, lợi ích và các vấn đề khác chưa được quy định hoặc quy định chưa cụ thể sẽ được quy định tiếp trong hợp đồng tô nhượng giữa Nhà nước và nhà đầu tư phát triển.
Chương VIII
Giải quyết tranh chấp
Điều 57: Giải quyết tranh chấp
Việc giải quyết tranh chấp nảy sinh trong Đặc khu kinh tế sẽ được tiến hành giải quyết nội bộ hoặc để bên ngoài giải quyết.
Điều 58: Giải quyết nội bộ
Giải quyết nội bộ tiến hành bằng cách hoà giải giữa đôi bên mâu thuẫn, nếu không chấm dứt mâu thuẫn sẽ để Uỷ ban hành chính Đặc khu kinh tế giải hoà, nếu tiếp tục chưa đạt hiệu quả sẽ tiến hành để bên ngoài giải quyết.
Điều 59: Để bên ngoài giải quyết
Việc để bên ngoài giải quyết được triển khai bởi ban tư vấn và giải quyết tranh chấp Đặc khu kinh tế, nếu trong trường hợp hai bên không giải quyết được thì có quyền đề nghị lên văn phòng giải quyết tranh chấp kinh tế hoặc toà án nhân dân để giải quyết một cách công bằng.
Chương IX
Quản lý, hành chính nội bộ và kiểm tra Đặc khu kinh tế
Điều 60: Giữ gìn an ninh trật tự trong Đặc khu kinh tế
Giữ gìn an ninh trật tự trong Đặc khu kinh tế như sau:
1- Đặc khu kinh tế có văn phòng hoặc sở chỉ huy an ninh đảm bảo an ninh trật tự theo từng trường hợp cụ thể nảy sinh;
2- Quyền và nhiệm vụ của văn phòng, sở chỉ huy an ninh của Đặc khu kinh tế giao cho chủ nhiệm Uỷ ban an ninh quốc phòng cấp tỉnh là người điều hành;
3- Người dân, nhà đầu tư trong và ngoài nước hoạt động và sinh sống trong Đặc khu kinh tế có nghĩa vụ bảo vệ an ninh trật tự, kỷ cương Đặc khu kinh tế và thực hiện theo quy định pháp luật của CHDCND Lào.
Chánh văn phòng hoặc Chỉ huy trưởng Sở chỉ huy an ninh do ban an ninh trật tự của Đặc khu kinh tế cử.
Trưởng Ban an ninh Đặc khu kinh tế do chủ nhiệm uỷ ban an ninh trật tự tỉnh, Thành phố cử và dưới dự chỉ đạo trực tiếp của Uỷ ban an ninh trật tự tỉnh, Thành phố nơi Đặc khu kinh tế trực thuộc.
4 - Trong Đặc khu kinh tế có thể có hệ thống bảo vệ thông qua việc thành lập đơn vị kinh doanh dịch vụ bảo vệ hoặc sử dụng lực lượng bảo vệ của công ty bảo vệ trong Cộng hoà dân chủ Nhân dân Lào.
Đối với khu kinh tế riêng biệt, việc giữ gìn an ninh trật tự của khu vực đó thuộc quyền quản lý của tỉnh, Thành phố và huyện, thị xã nơi đặt khu kinh tế. Có thể dùng lực lượng trực thuộc trong doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bảo vệ tại Cộng hoà dân chủ Nhân dân Lào nhưng không được tự mình hình thành lực lượng giữ gìn bảo vệ của riêng mình.
Điều 61: Ngôn ngữ dùng trong Đặc khu kinh tế
Cá nhân hoặc tập thể sinh sống, tiến hành kinh doanh trong Đặc khu kinh tế phải lấy ngôn ngữ Lào là ngôn ngữ chính thức. Đối với ngôn ngữ nước ngoài phải lấy ngôn ngữ là tiếng Anh hoặc một thứ ngôn ngữ khác tuỳ thuộc quy định của Nhà nước.
Trong việc ghi biển quảng cáo, biển tên công ty và các biển hiệu khác trong Đặc khu kinh tế phải ghi tiếng Lào ở trên và tiếng nước ngoài kèm ở dưới.
Điều 62: Việc quản lý phương tiện
Uỷ ban Đặc khu kinh tế là người xem xét cấp phép cô-ta các loại phương tiện cho Đặc khu kinh tế trong toàn quốc.
Nhà đầu tư, phát triển sử dụng các phương tiện, máy móc vào việc tiến hành kinh doanh sản xuất, dịch vụ theo chính sách khuyến khích của Đặc khu kinh tế cần phải đăng ký với Uỷ ban hành chính và Hội đồng kinh tế - quản trị của Đặc khu kinh tế.
Nếu có chuyển nhượng hoặc bán phương tiện, máy móc cho các nhà đầu tư khác trong Đặc khu kinh tế cũng phải xin giấy phép xác nhận của Uỷ ban hành chính hoặc Hội đồng kinh tế Đặc khu kinh tế là cơ quan cấp giấy phép cho từng loại phương tiện, máy móc theo từng trường hợp.
Đối với việc bán, chuyện nhượng phương tiện, máy mọc ra ngoài khu vực cần thực hiện theo quy định pháp luật của CHDCND Lào, trên cơ sở được sự đồng ý của Uỷ ban hành chính hoặc Hội đồng kinh tế - quản trị của Đặc khu kinh tế là cơ quan đã cấp phép đăng ký phương tiện trên.
Phương tiện đăng ký tại Đặc khu kinh tế phải dán biển hiệu và có sổ theo dõi riêng nhằm tạo thuận lợi trong việc quản lý của nhà chức trách trong việc sử dụng phương tiện hoạt động ngoài khu vực Đặc khu kinh tế. Quy định quản lý được Đặc khu kinh tế quy định cụ thể thông qua ban thư ký Uỷ ban Đặc khu kinh tế phê chuẩn.
Điều 63: Quản lý dân
Uỷ ban hành chính hoặc Hội đồng kinh tế - quản trị Đặc khu kinh tế phải phối hợp với nhau trong việc quản lý người dân trong khu vực Đặc khu kinh tế, cấp phát thẻ cho người có quốc tịch Lào, người đầu tư, phát triển, người nước ngoài, người không có quốc tịch, khách du lịch và chuyên gia trong và ngoài nước, công nhân, cán bộ Nhà nước và cá nhân trong và ngoài nước theo quy định pháp luật liên quan của Cộng hoà dân chủ Nhân dân Lào.
Điều 64: Quản lý nguồn nhân lực và lao động
Quản lý nguồn nhân lực của Uỷ ban hành chính hoặc Hội đồng kinh tế - quản trị Đặc khu kinh tế được căn cứ vào các văn bản pháp lý liên quan của CHDCND Lào.
Nhà đầu tư và nhà phát triển kinh doanh của Đặc khu kinh tế có nghĩa vụ trong quản lý, bảo vệ và khuyến khích người lao động dưới sự quản lý của mình thực hiện theo quy định pháp luật liên quan của Lào như phúc lợi xã hội, bảo hiểm lao động, bảo hộ tai nạn lao động, đào tạo và phát triển tay nghề lao động.
Điều 65: Giữ gìn văn hoá quốc gia và bảo vệ môi trường
Uỷ ban hành chính hoặc Hội đồng kinh tế quản trị Đặc khu kinh tế phải lên kế hoạch, quy hoạch ngân sách và thành lập quỹ trong quản lý, gìn giữ văn hoá quốc gia và phát triển môi trường trong Đặc khu kinh tế.
Nhà đầu tư phát triển phải tổ chức thực hiện hoạt động của mình phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế, luật pháp và quy định liên quan đến bảo về và gìn giữ môi trường xã hội và thiên nhiên nhằm:
1- Kiểm soát ô nhiễm, tránh việc phá huỷ tài nguyên thiên nhiên để gìn giữ phát triển thành địa điểm du lịch;
2- Giữ gìn khu vực bảo tồn, văn hoá và lịch sử;
3- Chống ô nhiễm và suy thoái của môi trường thiên nhiên;
4- Bảo vệ sức khoẻ và an toàn cho cán bộ, công nhân và nhân dân tại địa phương lân cận.
Nhà đầu tư phát triển cần thực hiện các hoạt động phù hợp, tránh các hoạt động gây cản trở hoặc ngăn chặn, kìm hãm sự sinh trưởng và phát triển tài nguyên thiên nhiên trong tương lai sao cho phù hợp với Luật về môi trường.
Điều 66: Quản lý rừng trong Đặc khu kinh tế
Việc phát triển Đặc khu kinh tế cần quan tâm công tác giữ gìn, quản lý và bảo vệ rừng thiên nhiên, trồng rừng tăng diện tích cây xanh che phủ. Trong trường hợp Nhà nước giao Đặc khu kinh tế nằm trong khu vực rừng phòng hộ và rừng bảo tồn, Uỷ ban hành chính hoặc Hội đồng kinh tế - quản trị Đặc khu kinh tế phải ra quy định quản lý và quy hoạch ngân sách để bảo vệ, giữ gìn khu vực rừng nói trên phù hợp với quy định pháp luật.
Điều 67: Quản lý tiến hành kinh doanh, sản xuất và dịch vụ
Việc quản lý tiến hành kinh doanh, sản xuất và dịch vụ trong Đặc khu kinh tế là do Uỷ ban hành chính hoặc Hội đồng kinh tế - quản trị Đặc khu kinh tế ra quy định quản lý trên cơ sở phù hợp với quy định pháp luật liên quan.
Điều 68: Quản lý văn hoá - xã hội
Việc quản lý phát triển văn hoá - xã hội, hệ thống giáo dục và y tế trong Đặc khu kinh tế do Uỷ ban hành chính hoặc Hội đồng kinh tế - quản trị Đặc khu kinh tế ra quy định quản lý, phát triển phù hợp với hệ thống pháp luật liên quan, đặc biệt nâng cao chất lượng và đạt tiêu chuẩn quốc tế.
Điều 69: Quản lý cơ sở hạ tầng và hạng mục công trình
Việc quản lý cơ sở hạ tầng và hạng mục công trình trong Đặc khu kinh tế do Uỷ ban hành chính hoặc Hội đồng kinh tế - quản trị Đặc khu kinh tế ra quyết định quản lý, sao cho phù hợp với quy định pháp luật liên quan.
Điều 70: Chính sách kinh tế vĩ mô trong Đặc khu kinh tế
Việc đề ra chính sách kinh tế vĩ mô trong phát triển Đặc khu kinh tế cần phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội quốc gia trong từng giai đoạn, quan tâm thu hút đầu tư vào các ngành giúp chuyển đổi từ sản xuất nông nghiệp thành công nghiệp và từng bước hiện đại. Đồng thời khuyến khích phát triển các ngành mà đất nước có thế mạnh.
Điều 71: Quản lý thông tin, số liệu
Việc quản lý số liệu, thông tin trong Đặc khu kinh tế do Uỷ ban hành chính hoặc Hội đồng kinh tế - quản trị của Đặc khu kinh tế ra quy định quản lý, trên cơ sở phù hợp với quy định pháp luật về quản lý số liệu.
Điều 72: Quản lý nghiên cứu phân tích
Việc quản lý nghiên cứu phân tích trong Đặc khu kinh tế do Uỷ ban hành chính hoặc Hội đồng kinh tế-quản trị của Đặc khu kinh tế ra quy định quản lý sao cho phù hợp với quy định pháp luật liên quan.
Điều 73: Quản lý trong hợp tác với trong và ngoài nước.
Việc quản lý hợp tác trong và ngoài nước trong Đặc khu kinh tế do Uỷ ban hành chính hoặc Hội đồng kinh tế - quản trị của Đặc khu kinh tế ra quy định quản lý sao cho phù hợp với quy định pháp luật liên quan.
Điều 74: Quản lý sản xuất
Hàng hoá các loại được sản xuất hoặc lắp ráp trong Đặc khu kinh tế phải được đăng ký xuất xứ hàng hoá (Made in Laos) mới có thể được phân phối và xuất khẩu.
Điều 75: Quản lý sản xuất lương thực và thuốc men
Lương thực và thuốc men sản xuất, nhập khẩu và phân phối trong Đặc khu kinh tế cần qua kiểm tra của đơn vị chức năng ngành lương thực và thuốc men của Đặc khu kinh tế, trên cơ sở tuân thủ nghiêm túc theo quy định tại Luật lương thực và thuốc, nhằm đảm bảo sức khoẻ của người sử dụng theo tiêu chuẩn quốc tế công nhận.
Điều 76: Kiểm tra hàng hoá
Hàng hoá, vật tư thiết bị và phương tiện nhập khẩu và xuất khẩu cần được qua kiểm tra giám định của đơn vị hành chính đầu tư một cửa của từng Đặc khu kinh tế, trên cơ sở từng cửa khẩu tạo điều kiện thuận lợi trong công tác phục vụ.
Điều 77: Quản lý đơn vị tài chính
Việc quản lý đơn vị tài chính do Uỷ ban hành chính hoặc Hội đồng kinh tế - quản trị của Đặc khu kinh tế ra quy định quản lý phù hợp với quy định pháp luật liên quan. Đặc biệt, thẻ tín dụng từ nước ngoài sử dụng thanh toán tại Lào phải thực hiện qua trung tâm dịch vụ thanh toán trong CHDCND Lào. Nếu đơn vị tài chính nào trong Đặc khu kinh tế không thể thành lập trung tâm dịch vụ thanh toán thì có thể sử dụng chung với hệ thống thanh toán của Trung tâm thanh toán của ngân hàng kinh doanh có đăng ký tại Lào.
Điều 78: Quản lý vận chuyển hàng hoá qua cửa khẩu và hàng hoá xuất khẩu
Cá nhân hoặc tập thể vận chuyển hàng hoá qua cửa khẩu và xuất khẩu hàng hoá ra khỏi CHDCND Lào cần áp dụng dịch vụ hệ thống kho bãi, xuất khẩu theo đường cửa khẩu quốc tế của Lào. Cụ thể chi tiết về tổ chức thực hiện do Uỷ ban hành chính hoặc Hội đồng kinh tế - quản trị Đặc khu kinh tế quy định riêng theo từng trường hợp, trên cơ sở được ban thư ký Uỷ ban Đặc khu kinh tế thông qua.
Điều 79: Việc phát triển
Phát triển trong Đặc khu kinh tế do Uỷ ban hành chính hoặc Hội đồng kinh tế - quản trị Đặc khu kinh tế ra quy định quản lý, phù hợp với quy định pháp luật liên quan trên cơ sở đảm bảo đạt mục tiêu thiên nhiên kỷ của xã hội, đảm bảo môi trường, an ninh trật tự và phát triển bền vững.
Điều 80: Hành chính trong Đặc khu kinh tế
Hành chính trong Đặc khu kinh tế, người làm công tác quản lý hành chính cần thực hiện theo các nguyên tắc chủ yếu sau:
1- Pháp lệnh riêng biệt của Đặc khu kinh tế;
2- Hợp đồng tô nhượng giữa Nhà nước và nhà đầu tư;
3- Minh bạch;
4- Có thể Kiểm toán được;
5- Hiệu quả cao;
6- Không chất hoá học;
7- Bảo vệ môi trường;
8- Phát triển bền vững.
Điều 81: Kiểm tra Đặc khu kinh tế
Kiểm tra Đặc khu kinh tế phải thực hiện theo phần IX, chương 3 của Luật khuyến khích đầu tư và có thể sử dụng cơ quan kiểm toán khác được quy định trong hợp đồng tô nhượng.
Chương X
Cơ quan quản lý Đặc khu kinh tế
Điều 82: Cơ quan quản lý Đặc khu kinh tế
Cơ quan quản lý Đặc khu kinh tế tại CHDCND Lào gồm:
1- Nhà nước;
2- Uỷ ban quốc gia quản lý Đặc khu kinh tế và khu kinh tế riêng biệt. Viết tắt bằng tiếng Lào: ຄຂພສ, viết bằng tiếng Anh: National Committee for Special Economic Zone, viết tắt bằng tiếng Anh: NCSEZ;
3- Ban thư ký Uỷ ban quốc gia quản lý Đặc khu kinh tế và khu kinh tế riêng biệt viết tắt bằng tiếng Lào: ກຄຂພສ, viết bằng tiếng Anh: Secretariat to National Committee for Special Economic Zone, viết tắt bằng tiếng Anh: S-NCSEZ;
4- Các bộ, ngành và cơ quan liên quan;
5- Cơ quan chính quyền địa phương;
6- Uỷ ban hành chính và Hội đồng kinh tế - quản trị Đặc khu kinh tế của từng khu vực;
7- Uỷ ban tham mưu.
Điều 83: Quyền và nghĩa vụ của Nhà nước
Đối với công việc quản lý Đặc khu kinh tế, Nhà nước có quyền và nghĩa vụ sau:
1- Đề ra chính sách và văn bản pháp qui về phát triển và quản lý Đặc khu kinh tế;
2- Tạo điều kiện quản lý ổn định, an toàn và chỉ đạo trực tiếp đối với vông việc bảo vệ an ninh - bảo vệ tổ quốc;
3- Xem xét cấp phép về ngân sách đối với hoạt động công tác của Uỷ ban quốc gia Đặc khu kinh tế, kể cả công tác phát triển và quản lý Đặc khu kinh tế trong phạm vi toàn quốc;
4- Hướng dẫn và vận động nhà đầu tư, phát triển vốn lớn để phát triển và đầu tư trong Đặc khu kinh tế.
Điều 84: Uỷ ban quốc gia Đặc khu kinh tế
Uỷ ban quốc gia Đặc khu kinh tế bao gồm:
1- Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Chủ tịch;
2- Bộ Trưởng Kế hoạch và Đầu tư Phó Chủ tịch thường trực;
3- Bộ Trưởng Công Thương Phó Chủ tịch;
4- Bộ Trưởng Bưu chính và Vận tải Phó Chủ tịch;
5- Bộ Trưởng Tài chính uỷ viên;
6- Bộ Trưởng Tư pháp uỷ viên;
7- Bộ Trưởng Thông tin và Văn hoá uỷ viên;
8- Thứ trưởng Bộ Quốc phòng uỷ viên;
9- Thứ trưởng Bộ An ninh uỷ viên;
10- Thứ trưởng Bộ Ngoại giao uỷ viên;
11- Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Lâm nghiệp uỷ viên;
12- Thứ trưởng Bộ Lao động Phúc lợi xã hội uỷ viên;
13- Phó Thống đốc Ngân hàng quốc gia Lào uỷ viên;
14- Phó Chủ nhiệm Cơ quan quản lý đất đai quốc gia Lào uỷ viên;
15- Phó Chủ nhiệm Cơ quan Du lịch quốc gia Lào uỷ viên;
16- Phó Chủ nhiệm Tổng cục Bảo vệ và Quản lý cán bộ uỷ viên;
17- Phó Chủ nhiệm Cơ quan tài nguyên nước và môi trường uỷ viên;
18- Uỷ viên Uỷ ban Thư ký Chính phủ uỷ viên;
19- Trưởng ban Thư ký Uỷ ban quốc gia Đặc khu kinh tế uỷ viên.
Đối với việc tổ chức và hoạt động của Uỷ ban quốc gia Đặc khu kinh tế và Ban Thư ký Uỷ ban quốc gia về Đặc khu kinh tế là cơ quan thường trực của Uỷ ban quốc gia về Đặc khu kinh tế có ngân sách cấp hai trên được quy định riêng.
Điều 85: Quyền và nghĩa vụ của các Bộ và Cơ quan liên quan
Đối với công tác Đặc khu kinh tế, các Bộ và Cơ quan liên quan có quyền và nghĩa vụ sau:
1- Đề ra chính sách khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi và quản lý việc tiến hành các hạng mục đầu tư trong Đặc khu kinh tế liên quan trực tiếp tới Bộ, ban, ngành của mình;
2- Hướng dẫn, theo dõi việc tổ chức thực hiện hệ thống pháp luật trong Đặc khu kinh tế mà Ban, ngành mình đã quy định;
3- Tập huấn, nâng cao chất lượng chuyên môn cho cán bộ Đặc khu kinh tế để đảm bảo tiêu chuẩn công tác của mình theo đề nghị của Đặc khu kinh tế.
Điều 86: Quyền và nghĩa vụ của cơ quan chính quyền địa phương
Cơ quan chính quyền địa phương có quyền và nhiệm vụ sau:
1- Chỉ đạo công tác an ninh trật tự của Đặc khu kinh tế, bao gồm bảo vệ an ninh và trật tự trong Đặc khu kinh tế tại địa phương mình;
2- Chịu trách nhiệm quản lý, giám sát hoạt động của Đặc khu kinh tế;
3- Theo dõi thực hiện quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, của Nhà nước, của nhà đầu tư, phát triển;
4- Tạo điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư và phát triển.
Điều 87: Quyền và nghĩa vụ của các huyện nơi đặt Đặc khu kinh tế
Các huyện nơi đặt Đặc khu kinh tế có quyền và nghĩa vụ sau:
1- Phối hợp với Uỷ ban hành chính và Hội đồng kinh tế - quản trị Đặc khu kinh tế trong việc thành lập kế hoạch phát triển Đặc khu kinh tế và khu vực xung quanh;
2- Tạo điều kiện thuận lợi trong việc quy hoạch đất, di dời và sinh hoạt của nhân dân trong khu vực xung quanh Đặc khu kinh tế theo bản đồ quy hoạch đã được phê chuẩn;
3- Quy hoạch và tập huấn chuyên môn, tạo công ăn việc làm cho nhân dân theo nhu cầu của Đặc khu kinh tế;
Cơ quan chính quyền huyện, Uỷ ban hành chính và Hội đồng quản lý kinh tế Đặc khu kinh tế tôn trọng nhau, hợp tác có tránh nhiệm trong những mặt được và mất trước chính quyền tỉnh, Thành phố và Nhà nước theo việc tổ chức thực hiện hợp đồng tô nhượng và Sắc lệnh này.
Điều 88: Quyền và nghĩa vụ của bản xung quanh Đặc khu kinh tế
Bản xung quanh Đặc khu kinh tế có quyền và nghĩa vụ sau:
1- Giữ gìn an ninh, bảo vệ trật tự trong bản;
2- Ủng hộ việc phát triển, đầu tư trong Đặc khu kinh tế theo quy định pháp luật;
3- Sử dụng và bảo vệ hệ thống cơ sở hạ tầng, các hạng mục công ích tiện dụng xây dựng khi phát triển Đặc khu kinh tế theo quy định của Đặc khu kinh tế;
4- Giáo dục tập huấn tổ chức và nhân dân trong việc nâng cao trách nhiệm của mình đóng góp tay nghề, phát triển mô hình kinh doanh vừa và nhỏ quanh các công trình, dự án của Đặc khu kinh tế.
Điều 89: Uỷ ban hành chính Đặc khu kinh tế của từng vùng
Uỷ ban hành chính Đặc khu kinh tế của từng vùng gồm:
1- Trưởng Ban hành chính vùng;
2- Phó trưởng Ban hành chính vùng từ 01 đến 03 người;
3- Một số Uỷ viên dùng theo tình hình.
Điều 90: Việc tổ chức Uỷ ban hành chính Đặc khu kinh tế
Trưởng ban, Phó ban và Uỷ viên của Uỷ ban hành chính Đặc khu kinh tế cử hoặc bãi nhiệm theo đề nghị Ban Thư ký Uỷ ban quốc gia về Đặc khu kinh tế, trên cơ sở phối hợp, trao đổi với các ban, ngành và cơ quan chính quyền địa phương liên quan.
Điều 91: Quyền và nghĩa vụ của Uỷ ban hành chính Đặc khu kinh tế
Uỷ ban hành chính Đặc khu kinh tế có quyền và nghĩa vụ như sau:
1- Nghiên cứu chiến lược hành chính, giữ gìn an ninh trong Đặc khu kinh tế phù hợp với chính sách bảo vệ an ninh quốc phòng, trật tự và quy định pháp luật;
2- Nghiên cứu, ra quy định về quản lý người dân, việc ra - vào Đặc khu kinh tế;
3- Nghiên cứu và đề ra chính sách về phát triển xã hội, khuyến khích giáo dục, y tế, văn hoá và giải quyết các vấn đề xã hội trong Đặc khu kinh tế;
4- Đảm bảo sự đoàn kết, an ninh trật tự và công bằng trong Đặc khu kinh tế theo Hiếp pháp và pháp luật của CHDCND Lào;
5- Tiến hành quản lý công trình hoạt động trong Đặc khu kinh tế, đảm bảo Đặc khu kinh tế phát triển nhanh chóng, toàn diện và theo định hướng đề ra;
6- Hợp tác với Hội đồng quản lý kinh tế và Uỷ ban tư vấn giải quyết mâu thuẫn phát sinh trong Đặc khu kinh tế;
7- Hợp tác với Hội đồng quản lý kinh tế đề ra những biện pháp giữ gìn bảo vệ môi trường, đảm bảo phát triển theo hướng bền vững;
8- Hướng dẫn Hội đồng quản lý kinh tế trong việc triển khai thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình;
9- Phối hợp với các cơ quan chính quyền cấp huyện, thường xuyên xin ý kiến chỉ đạo của cơ quan chính quyền cấp tỉnh và các ngành dọc của Trung ương, nhằm đảo bảo hoạt động được thuận tiện;
10-Hợp tác và quan hệ với quốc tế theo quyền và nghĩa vụ của mình;
11-Thường xuyên tổng kết, báo cáo các hoạt động lên Uỷ ban quốc gia về Đặc khu kinh tế, cơ quan chính quyền cấp tỉnh và các ban ngành dọc của Trung ương;
12-Thực hiện các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định pháp luật.
Điều 92: Hội đồng quản trị kinh tế Đặc khu kinh tế của từng vùng
Hội đồng quản lý kinh tế Đặc khu kinh tế của từng vùng bao gồm:
1- Chủ tịch Hội đồng quản trị kinh tế;
2- Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị kinh tế 01 đến 03 người;
3- Một số Uỷ viên theo thực tế.
Điều 93: Việc thành lập Hội đồng quản trị kinh tế
Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Uỷ viên của Hội đồng quản trị kinh tế Đặc khu kinh tế do Chủ tịch Uỷ ban quốc gia Đặc khu kinh tế cử hoặc bãi chức theo đề nghị của Ban Thư ký Uỷ ban quốc gia Đặc khu kinh tế, trên cơ sở phối hợp với các ban ngành và cơ quan chính quyền địa phương liên quan.
Đối với việc cử hoặc bãi nhiệm chức phó Chủ tịch Hội đồng quản lý kinh tế Đặc khu kinh tế là người nước ngoài, cần tiến hành xác minh tiểu sử và có sự đồng ý hoặc đề nghị của Chủ tịch Hội đồng quản lý kinh tế.
Điều 94: Quyền và nghĩa vụ của Hội đồng quản lý kinh tế
Hội động quản lý kinh tế Đặc khu kinh tế có quyền và nghĩa vụ chủ yếu sau:
1- Nghiên cứu và đề ra kế hoạch phát triển kinh tế, đề án, dự án đầu tư trong từng giai đoạn 6 tháng, 01 năm, 05 năm, 20 năm và các giai đoạn khác cho tới khi kết thúc thời hạn của dự án;
2- Nghiên cứu quy định trong quản lý và quản lý kinh tế;
3- Nghiên cứu và tổ chức thực hiện chính sách khuyến khích đầu tư theo Luật khuyến khích đầu tư, cho phép nhập khẩu và xuất khẩn tại tất cả Đặc khu kinh tế;
4- Tìm kiếm thu nhập, tạo và thực hiện ngân sách của Đặc khu kinh tế;
5- Tổ chức thu thuế thu nhập của Đặc khu kinh tế;
6- Cung cấp thông tin, xem xét việc đầu tư và đánh giá hiệu quả đầu tư;
7- Thúc đẩy, khuyến khích và tạo điều kiện cho đơn vị kinh doanh trong khu vực của mình;
8- Giải quyết tranh chấp cùng với Ủy ban hành chính và Ủy ban tư vấn và giải quyết tranh chấp;
9- Đóng góp nghĩa vụ với Nhà nước theo hợp đồng tô nhượng và Sắc lệnh này;
10-Thành lập, sử dụng và quản lý cán bộ, công nhân dưới sự quản lý của mình;
11-Phát triển văn hóa – xã hội, giáo dục và y tế;
12-Giữ gìn đoàn kết nội bộ và với bên ngoài, đảm bảo an ninh trật tự của Đặc khu kinh tế;
13-Bảo vệ, gìn giữ thiên nhiên, đảm bảo phát triển theo hướng bền vững;
14-Quản lý quy hoạch và sử dụng đất, xây dựng các hạng mục công trình theo quy định;
15-Hợp tác với công ty, đơn vị kinh doanh trong và ngoài nước theo quy định pháp luật;
16-Tổng kết, báo cáo kết quả hoạt động thường xuyên theo quý, 06 tháng và hàng năm lên Chính phủ.
Điều 95: Quản lý hành chính Đặc khu kinh tế
Việc quản lý hành chính Đặc khu kinh tế có tính chất như sau:
1- Phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng và các hạng mục công cộng bằng việc đầu tư của Nhà nước 100%, việc quản lý khu vực trên giao cho Ủy ban hành chính thi hành, có quyền và nhiệm vụ ghi rõ tại Điều 91 và Điều 94 của Sắc lệnh này;
2- Nhà nước cùng với tư nhân cùng đầu tư phát triển, việc quản lý hành chính gồm 02 cơ quan như: Ủy ban hành chính và Hội đồng kinh tế - quản lý có quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 91 và Điều 94 của Sắc lệnh này;
3- Tư nhân đầu tư 100%, việc quản lý hành chính bao gồm 02 cơ quan như: Ủy ban hành chính và Hội đồng kinh tế quản lý có quyền và nghĩa vụ được quy định trong Điều 91 và Điều 94 của Sắc lệnh này.
Điều 96: Quản lý hành chính khu vực kinh tế riêng biệt
Quản lý hành chính khu kinh tế riêng biệt được căn cứ theo hợp đồng giữa Nhà nước và nhà đầu tư, có Hội đồng quản lý kinh tế bao gồm nguồn nhân lực của Nhà nước và nhà đầu tư thay phiên nhau làm Chủ tịch Hội đồng quản lý kinh tế có quyền và nghĩa vụ được quy định trong Điều 91 (bỏ Khoản 1) và Điều 94 của Sắc lệnh này.
Điều 97: Ủy ban tư vấn
Ủy ban tư vấn bao gồm người có kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh tế, pháp luật, quản lý và công tác quốc phòng giữ gìn an ninh trật tự, lịch sử, văn hóa xã hội, trong xây dựng, môi trường thiên nhiên, đất đai và các lĩnh vực khác được Chủ nhiệm Ủy ban quốc gia về Đặc khu kinh tế cử theo đề nghị của Ban Thư ký Ủy ban quốc gia về Đặc khu kinh tế.
Ủy ban tư vấn có thể là người trong nước hoặc người nước ngoài,có thể có ủy viên thường trực hoặc không thường trực.
Điều 98: Quyền và nghĩa vụ của Ủy ban tư vấn
Ủy ban tư vấn có quyền và nghĩa vụ chủ yếu sau:
1- Phối hợp với Ban Thư ký Uỷ bản quốc gia Đặc khu kinh tế nhằm trao đổi ý kiến, rút kinh nghiệm từ trong và ngoài nước về vấn đề giải quyết tranh chấp và vấn đề khác trong Đặc khu kinh tế;
2- Phối hợp với Ban Thư ký Ủy ban quốc gia Đặc khu kinh tế để quảng bá thu hút đầu tư vào việc phát triển và đầu tư trong Đặc khu kinh tế;
3- Phối hợp với Ban Thư ký Ủy ban quốc gia Đặc khu kinh tế trong việc tìm nguồn viện trợ (ODA) và đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) vào phát triển và đầu tư trong Đặc khu kinh tế;
4- Phối hợp với Ban Thư ký Ủy ban quốc gia Đặc khu kinh tế trong lĩnh vực kỹ thuật chuyên môn về việc phát triển và đầu tư trong Đặc khu kinh tế, đặc biệt tập huấn đào tạo nguồn nhân lực trong và ngoài nước, phát hành sổ tay, xây dựng website, các công cụ sử dụng trong quản lý hành chính.
Chương XI
Chính sách đối với người có công và biện pháp với người vi phạm
Điều 99: Chính sách đối với người có công
Cá nhân, tập thể có thành tích nổi bật trong việc thực hiện Sắc lệnh này, đặc biệt là thu hút đầu tư, thúc đẩy, tư vấn, góp phần tích cực vào hoạt động phát triển và đầu tư trong Đặc khu kinh tế sẽ được nhận bằng khen và các chính sách khác theo quy định pháp luật.
Điều 100: biện pháp đối với người vi phạm
Ngoài những biện pháp được quy định trong Điều 97 của Luật khuyến khích đầu tư, cá nhân hoặc tập thể vi phạm Sắc lệnh này còn bị áp dụng các biện pháp khác tùy thuộc theo mức độ nặng nhẹ.
Vi phạm trong trường hợp không nộp thuế nghĩa vụ, vi phạm hợp đồng, xây dựng nhà cửa khi không được phép và các vi phạm khác phải thực hiện theo Luật liên quan.
Chương XII
Điều khoản cuối cùng
Điều 101: Con dấu
Ủy ban hành chính và Hội đồng quản lý kinh tế Đặc khu kinh tế có con dấu có hình quy định riêng, sử dụng trong hoạt động theo vai trò nhiệm vụ được phân công.
Điều 102: Tổ chức thực hiện
Văn phòng Thủ tướng, Ủy ban quốc gia về Đặc khu kinh tế, Ban Thư ký Ủy ban quốc gia về Đặc khu kinh tế các Bộ và các cơ quan ban ngành tương đương, cơ quan chính quyền địa phương, Uỷ ban hành chính đặc khu kinh tế, hội đồng quản trị đặc khu kinh tế, Ủy ban tư vấn, Đặc khu kinh tế, nhà đầu tư, phát triển và nhân dân trong khu vực xung quanh Đặc khu kinh tế là người triển khai thực hiện nghiêm túc Sắc lệnh này.
Điều 103: Hiệu lực
Sắc lệnh này có hiệu lực kể từ ngày ký.
Nhà đầu tư – phát triển tiến hành kinh doanh theo Sắc lệnh về tổ chức, hoạt động và quản lý Đặc khu kinh tế mà Nhà nước đã phê chuẩn trước đây có thể sử dụng Sắc lệnh này để thực hiện, nhưng cần có văn bản đề nghị lên Ban Thư ký Ủy ban quốc gia về Đặc khu kinh tế trong vòng 06 tháng kể từ ngày Sắc lệnh này có hiệu lực trở đi./.
Thủ tướng Chính phủ Lào
(đã ký và đóng dấu)
Bua-xỏn Bup-phả-văn

