I. Khái quát chung:
1. Thông tin chung:
- Tên nước: Vương Quốc Eswatini (Kingdom of eSwatini).
- Thủ đô: Mbabane.
- Quốc khánh: 06/9/1968.
- Vị trí địa lý: Giáp Nam Phi về phía Bắc, Tây và Nam; giáp Mô-dăm- bích (Mozambique) về phía Đông.
- Diện tích: 17.363 km2
- Khí hậu: Đa dạng từ khí hậu nhiệt đới ở khu vực đồng bằng đến cận ôn đới ở vùng núi cao.
- Dân số: 1,19 triệu người (2026, theo IMF)
- Dân tộc: 84% là người Swazi, 10% là người Zulu và 6% người có nguồn gốc ngoài châu Phi (Pakistan, Ấn Độ, Bồ Đào Nha).
- Tôn giáo: Thiên chúa giáo 90%, Đạo hồi 2%, tôn giáo khác 8%.
- Ngôn ngữ chính thức: Tiếng Anh và tiếng SiSwati (chính thức).
- Đơn vị tiền tệ: Đồng Lilangeni (SZL) (1USD = 16,3 SZL).
- GDP: 5,2 tỷ USD (2025, theo IMF)
- GDP/ đầu người: 4.410 USD (2025, theo IMF).
- Lãnh đạo chủ chốt:
+ Quốc vương: Mswati đệ tam (từ tháng 4/1986);
+ Thủ tướng: Russel Mmiso Dlamini (từ tháng 11/2023);
+ Chủ tịch Quốc hội: Jabulani Mabuza (từ tháng 10/2023);
+ Chủ tịch Thượng viện: Lindiwe Dlamini (từ tháng 10/2018);
+ Bộ trưởng Ngoại giao: Pholile Shakantu (từ tháng 11/2023).
2. Khái quát lịch sử:
Cư dân đầu tiên xuất hiện tại Swaziland là những bộ tộc Khoisan sống bằng nghề săn bắn. Sau đó, một dòng người Bantu rất lớn đã tràn vào vùng đất này.
Vào giữa thế kỉ XVIII, người Swazi đến vùng lãnh thổ này dùng làm nơi lánh nạn, tránh sự đe dọa của người Zulu và thành lập vương quốc Ngwan, lần lượt chinh phục và hợp nhất các thị tộc lâu đời lấy tên chung là thị tộc Emakhandzambili. Công ước Pretoria (1881) bảo đảm nền độc lập của Swaziland và quốc gia này được đặt dưới sự bảo hộ của Nam Phi, rồi đến người Anh từ năm 1902 sau chiến thắng tại cuộc chiến tranh Boer thứ 2. Năm 1921, Sobhuza II trở thành Quốc vương và đạt nhiều thành tựu trong lãnh đạo đất nước. Năm 1963, Anh ban hành Hiến pháp cho Swaziland độc lập với sự ra đời của Hội đồng lập pháp vào năm 1964. Các cuộc bầu cử theo Hiến pháp được tổ chức vào năm 1967. Swaziland là một quốc gia được bảo hộ cho đến khi giành được độc lập năm 1968 và cũng năm này Swaziland trở thành thành viên thứ 28 của Khối Thịnh vượng chung của Anh.
Năm 1973, Vua Sobhuza II đình chỉ hiến pháp Swaziland, thiết lập thể chế quân chủ chuyên chế. Sau khi Vua Sobhuza qua đời (1982), Hoàng hậu lên nắm quyền nhiếp chính cho đến khi Thái tử tròn 18 tuổi, lên ngôi vào năm 1985 và lấy đế hiệu là Mswati. Năm 2005, Hiến pháp mới ra đời và chính thức có hiệu lực từ tháng 01/2006.
Ngày 19/4/2018, kỷ niệm 50 năm ngày Swaziland độc lập, Vua Mswati III chính thức đổi tên từ Vương quốc Swaziland thành Vương quốc Eswatini (có nghĩa là vùng đất của người Swazi).
3. Thể chế nhà nước, chế độ chính trị, đảng phái chính trị
- Eswatini theo thể chế Quân chủ chuyên chế và cha truyền con nối. Quốc vương, kiêm Tổng tư lệnh quân đội, được quyền bổ nhiệm Thủ tướng và nội các; tất cả chánh án; Thượng viện (20 người); 15% thành viên Hạ viện (65 người).
- Cơ cấu nghị viện: gồm Thượng viện (gồm 31 ghế, nhiệm kỳ 5 năm, 2/3 thành viên do Quốc vương bổ nhiệm) và Quốc hội (tối đa có 76 thành viên, nhiệm kỳ 5 năm, Quốc vương bổ nhiệm 10 thành viên, mỗi khu hành chính có từ 11 - 16 thành viên được bầu).
- Các đảng phái chính trị: Theo Hiến pháp năm 2005, tất cả các đảng phái chính trị bị cấm hoạt động ở Eswatini.
4. Tình hình:
4.1 Chính trị nội bộ: Tháng 9/2008, lần đầu tiên Eswatini tổ chức bầu cử Quốc hội. Do các đảng phái chính trị bị cấm nên các ứng cử viên chỉ được ứng cử với tư cách cá nhân. Tình hình chính trị Eswatini hiện tại cơ bản ổn định.
4.2 Kinh tế - xã hội: Nông nghiệp trồng trọt (mía, cây ăn quả, ngô, bông vải) và chăn nuôi (bò, cừu) chiếm 70% lực lượng lao động, ngoài ra còn có các ngành lâm nghiệp, khai thác khoáng sản (amian, than đá, kim cương), chế biến nông thực phẩm, dệt, hóa và công nghiệp gỗ. Chính phủ Eswatini đang triển khai chiến lược giai đoạn 2018-2028 nhằm phục hồi các lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế như năng lượng, khai khoáng, truyền thông và công nghệ thông tin, giáo dục, du lịch, nông nghiệp.
+ Cơ cấu ngành kinh tế: Dịch vụ 65,8%, công nghiệp 22,2%, nông nghiệp 12%.
+ Các sản phẩm xuất khẩu chính: Đường, gỗ, bông, mía, cam, quýt, nước ngọt đóng chai,
+ Các sản phẩm nhập khẩu chính: Xe cơ giới, thiết bị vận tải, thực phẩm, máy móc, sản phẩm hóa dầu, hóa chất
+ Các đối tác thương mại chính: Nam Phi, Hoa Kỳ, EU, Singapore, Ấn Độ, Trung Quốc, Kenya, Nigeria, Tanzania, Mozambique.
5. Quan hệ đối ngoại
- Eswatini theo đường lối đối ngoại hòa bình, không liên kết, đa phương hóa, đa dạng hóa.
- Eswatini là thành viên của Liên hợp quốc, Khối Thịnh vượng chung, Liên minh châu Phi (AU), Thị trường chung Đông Nam châu Phi (COMESA), Cộng đồng Phát triển miền Nam châu Phi (SADC).
II. QUAN HỆ VIỆT NAM - ESWATINI
1. Quan hệ chính trị:
- Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao: 21/5/2013.
- Cơ quan đại diện: Hai nước chưa mở Đại sứ quán tại thủ đô của nhau. Hiện nay Đại sứ Việt Nam tại Nam Phi kiêm nhiệm Eswatini. Eswatini chưa cử Cơ quan đại diện kiêm nhiệm Việt Nam.
- Hoạt động trao đổi đoàn: Hai nước chưa có trao đổi đoàn.
2. Hợp tác kinh tế - thương mại - đầu tư
Trao đổi thương mại thời gian qua còn hạn chế.
3. Hợp tác trong các lĩnh vực khác
Hợp tác trên các diễn đàn đa phương/quốc tế: Hai nước phối hợp tốt trên các diễn đàn quốc tế. Gần đây, Eswatini ủng hộ Việt Nam làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021.
4. Các hiệp định, thoả thuận đã ký kết giữa hai nước
Hai nước chưa ký văn bản hợp tác./.
Tháng 1/2026