Trang chủ     Đăng ký nhận tin    Ý kiến bạn đọc   Liên kết website English 
Thứ năm, ngày 20 tháng 06 năm 2013 Tìm kiếm
 Tìm kiếm nâng cao

THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ PHONG TRÀO KHÔNG LIÊN KẾT VÀ QUAN HỆ VỚI VIỆT NAM

(Non-Aligned Movement – NAM)

I. MỘT SỐ NÉT VỀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
1. Sự ra đời của Phong trào Không liên kết:
Phong trào Không liên kết ra đời trong cao trào giải phóng dân tộc làm sụp đổ chủ nghĩa thực dân cũ và trong bối cảnh chiến tranh lạnh có nguy cơ dẫn đến chiến tranh thế giới mới. Chính sách không liên kết là biểu thị ý chí của các nước độc lập non trẻ Á, Phi, Mỹ la tinh đoàn kết đấu tranh bảo vệ và củng cố độc lập chính trị, từng bước giành độc lập kinh tế, bảo vệ hoà bình thế giới để tồn tại và phát triển.
Mặc dù hết sức đa dạng về văn hoá tín ngưỡng, về chế độ chính trị- xã hội, về lợi ích dân tộc, nhưng các nước không liên kết có nhiều đặc điểm giống nhau: đều đã bị thực dân đô hộ, kinh tế kém phát triển, cùng chung nguyện vọng muốn có hoà bình ổn định để xây dựng đất nước, thoát khỏi nghèo nàn và lạc hậu, Đó là cơ sở khách quan để phong trào có thể trở thành một tập hợp lực lượng rộng rãi, đoàn kết gắn bó trong một cương lĩnh hành động tối thiểu.
Tháng 3/1947, Thủ tướng Nehru triệu tập tại New Delhi hội nghị Đại biểu các tổ chức và đoàn thể quần chúng, về sau được gọi là Hội nghị về quan hệ châu Á lần thứ nhất.
Tháng 1/1949, theo đề nghị của Miến Điện, Thủ tướng Nehru tổ chức Hội nghị Châu Á lần thứ hai tại New Delhi.
Tháng 4/1954, Thủ tướng 5 nước Ấn Độ, Miến Điện, Indonesia, Pakistan và Xri Lanca họp tại Colombo để thảo luận các vấn đề quan tâm chung như: chống thực dân và phân biệt chủng tộc, chiến tranh lạnh, vấn đề thử vũ khí hạt nhân và hợp tác kinh tế. Tại đây Thủ tướng Nehru tuyên bố rằng đa số các nước tham dự Hội nghị theo đuổi chính sách đối ngoại KLK. theo đề nghị của Indonesia, 5 nước này quyết định triệu tập một Hội nghị các quốc gia độc lập Châu Á và Châu Phi trong năm 1955. Sau đó 5 nước lại gặp nhau tại Bogor (12/1954) và quyết định Hội nghị Á Phi sẽ họp tại thành phố Bandung của Indonesia từ 18 đến 24/4/1955.
Từ cuối năm 1954 đến tháng 4/1955 đã diễn ra một loạt cuộc tiếp xúc ngoại giao quan trọng của Thủ tướng Nehru với Tổng thống Nasser, Tổng thống Tito, đặc biệt với Thủ tướng Chu Ân Lai. Trước ngày khai mạc Hội nghị Bandung, Ấn Độ và Trung quốc ra thông cáo chung nêu lên 5 nguyên tắc chỉ đạo quan hệ giữa hai nước có chế độ chính trị – xã hội khác nhau, về sau được gọi là 5 nguyên tắc chung sống hoà bình. Đó là:
*Tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau;
*Không xâm lược lẫn nhau;
*Không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau;
*Bình đẳng và hai bên cùng có lợi;
*Cùng tồn tại hoà bình.
Tham dự Hội nghị Bandung 1955 gồm các chính phủ của 29 nước Á-Phi, trong đó có 23 nước Châu Á (Afghanistan, Miến Điện, ấn Độ, Indonesia , Gióocdani, Iran, Irắc, Yemen, Trung Quốc, Campuchia, Lào, Xiri, Libăng, Nepal, Pakistan, A rập Xê-út, Thổ Nhĩ Kỳ, Xri Lanca, Philippin, Thái Lan, Nhật, Việt Nam dân chủ Cộng hoà và 6 nước Châu Phi (Ai Cập, Ghana, Ethiopia, Liberia, Libya và Sudan). Ghana tham dự Hội nghị trước khi được chính thức trao trả độc lập, Síp và Palextin tham dự với tư cách quan sát viên. Đoàn đại biểu Chính phủ ta do Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu.
Những đề tài chính được thảo luận tại Bandung là hoà bình thế giới, an ninh của các nước Á-Phi, cùng tồn tại hoà bình và láng giềng thân thiện, giải phóng các dân tộc Á-Phi khỏi ách thống trị thực dân và phân biệt chủng tộc... Trong quá trình Hội nghị đã nảy sinh bất đồng quan điểm gay gắt giữa các nước tán thành chính sách KLK và những nước tham gia các khối quân sự, có nguy cơ làm Hội nghị tan vỡ.
Tháng 4/1961 các Tổng thống Ai Cập, Nam Tư và Indonesia gửi thư chung cho nguyên thủ 21 nước đề nghị tổ chức một hội nghị các nước KLK. Ngày 18/5/61 các Tổng thống Naser, Tito, Sukarno gửi thư chính thức mời những nước đó dự Hội nghị trù bị tại Cairo.
Hội nghị trù bị tại Cairo từ ngày 5 đến 12/6/1961 để chuẩn bị cho Hội nghị cấp cao của các nước KLK tại Nam Tư vào tháng 9/1961, đã bàn về vai trò và chính sách của phong trào KLK trong tương lai. Những nước tham dự Hội nghị trù bị Cairo cho rằng cần biến khu vực các nước không cam kết thành một nhân tố cơ bản gìn giữ hoà bình và an ninh quốc tế, khẳng định sự trung thành đối với chính sách không cam kết như là một biện pháp xử lý tích cực các vần đề mà thế giới đang gặp phải (về từ ngữ, cụm từ không liên kết chỉ được sử dụng chính thức từ Hội nghị cấp cao Belgrade, Trước đó, Hội nghị trù bị Cairo dùng cụm từ không cam kết). Một đóng góp rất quan trong của Hội nghị trù bị Cairo là việc soạn thảo 5 tiêu chuẩn thành viên của Phong trào được Hội nghị cấp cao Belgrade thông qua và có hiệu lực cho đến ngày nay.
Hội nghị các vị đứng đầu nhà nước và chính phủ các nước KLK tại Nam Tư vào đầu tháng 9/1961 đã chính thức khai sinh ra Phong trào không liên kết.
2. Các Hội nghị cấp cao:
Hội nghị Belgrade tháng 9/1961 có 25 thành viên chính thức; Hội nghị Cairo 1964, 47 thành viên; Hội nghị Lusaka 1970, 58 thành viên, Hội nghị Alger 1973, 76 thành viên; Hội nghị Colombo 1976, 86 thành viên; Hội nghị Havana 1979, 95 thành viên; Hội nghị New Delhi 1983, 101 thành viên; Hội nghị Harare 1986, 101 thành viên, Hội nghị Belgrade 1989, 104 thành viên; Hội nghị Jakarta 1992, 108 thành viên; Hội nghị Cartagena (Colombia) 1995, 113 thành viên; Hội nghị Đơ-ban 1998 (Nam Phi), 114 thành viên; Hội nghị Kuala Lumpur (Malaysia) 2003, 116 thành viên; Hội nghị La-ha-ba-na 14 (Cuba) 2006, 118 thành viên.

II. CƠ CẤU VÀ THỦ TỤC HOẠT ĐỘNG CỦA PHONG TRÀO KHÔNG LIÊN KẾT
1. Tôn chỉ mục đích:
Phong trào Không liên kết đấu tranh cho quyền tự quyết của các dân tộc, chống chủ nghĩa đế quốc, thủ tiêu chủ nghĩa thực dân cũ và thực dân mới, theo năm nguyên tắc chỉ đạo: hoà bình, độc lập, phát triển, không liên kết và không tham gia khối, nhóm quân sự, chính trị nào.
2. Tiêu chuâne thành viên:
*Là nước có chính sách độc lập.
*Kiên định ủng hộ các phong trào độc lập dân tộc.
*Không là thành viên của bất cứ một liên minh quân sự đa phương nào thành lập trong bối cảnh các cuộc xung đột giữa các cường quốc.
*Nếu một nước có hiệp định quân sự đa phương với một cường quốc, hoặc là thành viên của một hiệp định phòng thủ khu vực thì hiệp định hoặc hiệp ước đó không được ký kết trong bối cảnh những cuộc tranh chấp giữa các cường quốc.
*Nếu một nước đã nhượng căn cứ quân sự cho một nước ngoài, thì sự nhượng đó không được tiến hành trong bối cảnh các cuộc tranh chấp giữa các cường quốc.
3. Cơ cấu tổ chức:
Phong trào này không có trụ sở hay cơ chế thường trực (Uỷ ban Phối hợp hoạt động theo cơ chế ad-hoc tại LHQ)
Phong trào Không liên kết là một loại thể chế quốc tế đặc biệt, là một hiện tượng mới trong luật pháp quốc tế. Nó không phải đơn thuần là một Hội nghị hoặc Diễn đàn Liên chính phủ họp định kỳ, mà cũng không phải là một tổ chức của các nước do một điều ước quốc tế lập ra, có điều lệ rõ ràng và được thể chế hoá chặt chẽ. Mức độ thể chế hoá của Phong trào tương đối lỏng lẻo và thể hiện chủ yếu ở tập quán và lề lối hoạt động.
Qua thực tiễn hoạt động, đã hình thành một hệ thống tổ chức gồm 3 cấp:
* Hội nghị cấp cao các vị đứng đầu nhà nước hoặc chính phủ các nước KLK, thông thường 3 năm họp một lần. Nguyên thủ của nước đăng cai Hội nghị cấp cao trở thành Chủ tịch đương nhiệm và là người phát ngôn của Phong trào.
* Giữa hai kỳ Hội nghị cấp cao, có hội nghị toàn thể các Bộ trưởng Ngoại giao và một số Hội nghị khác khi cần.
* Cơ quan thường trực của Phong trào là Uỷ ban phối hợp, thường xuyên hoạt động ở cấp đại sứ - đại diện các nước KLK bên cạnh Liên hợp quốc tại New York. Uỷ ban phối hợp có thể họp cấp Bộ trưởng khi cần.
Cơ cấu và thủ tục làm việc cụ thể như sau:
3.1 Các cuộc họp:
- Hội nghị cấp cao: Là cuộc họp giữa các nguyên thủ quốc gia và những người đứng đầu chính phủ các nước thành viên KLK. Hội nghị cấp cao được tổ chức 3 năm 1 lần và luân phiên theo khu vực địa lý.
- Hội nghị Bộ trưởng: được tổ chức giữa các kỳ Hội nghị cấp cao và cũng luân phiên theo khu vực địa lý.
- Cuộc họp cấp Bộ trưởng của Ủy ban Phối hợp: được tổ chức vài tháng trước các Hội nghị cấp cao nhằm chuẩn bị và phối hợp các quan điểm được thể hiện trong Hội nghị cấp cao sắp tới.
- Cuộc họp cấp Bộ trưởng tại New York: được tổ chức cùng đợt với các kỳ họp Đại Hội đồng Liên hợp quốc hàng năm.
- Các cuộc họp cấp Bộ trưởng khác về những lĩnh vực cụ thể như hợp tác kinh tế và thông tin.
- Các cuộc cấp dưới Bộ trưởng của Ủy ban Phối hợp, các Nhóm công tác, liên lạc và công tác đặc biệt, của Ủy ban Phối hợp chung KLK – G77.
3.2 Chủ tịch Phong trào:
- Việc điều hành phong trào KLK không tuân theo cơ chế thứ bậc, trái lại, theo cơ chế luân phiên và khuyến khích các thành viên tham gia, nhằm đảm bảo tất cả các nước thành viên, đều có được cơ hội tham gia tích cực vào nền chính trị quốc tế.
- Hội nghị cấp cao là một dịp để Phong trào KLK chính thức chuyển giao vị trí Chủ tịch Phong trào cho nguyên thủ của quốc gia đăng cai Hội nghị cấp cao đó, và nguyên thủ nước này sẽ giữ vai trò đó tới tận kỳ Hội nghị cấp cao lần sau. Chủ tịch Phong trào sẽ được trao một số trách nhiệm nhất định nhằm thúc đẩy các nguyên tắc và hoạt động của Phong trào.
- Khi một nước đảm nhận vị trí Chủ tịch phong trào, nước đó sẽ thiết lập hoặc trao nhiệm vụ cho một bộ phận cụ thể của Bộ Ngoại giao nước mình giải quyết các vấn đề của phong trào KLK. Tiếp đó, vì các nước KLK gặp gỡ nhau thường xuyên tại Liên hợp quốc và thực hiện rất nhiều hoạt động của phong trào ở đó, nên Đại sứ tại Liên hợp quốc của nước giữ chức chủ tịch Phong trào đóng vai trò quan trọng như một “Bộ trưởng” của phong trào KLK. Công việc của phong trào thường được đưa vào trong hoạt động của Phái đoàn thường trực tại New York của nước giữ chức Chủ tịch.
- Nhằm hỗ trợ chức năng của Chủ tịch Phong trào, một số cơ chế được thành lập nhằm tăng cường phối hợp và điều hành các Nhóm công tác, Nhóm liên lạc, các Ủy ban của KLK đã có. Các cơ chế này cũng được tạo ra nhằm thúc đẩy quá trình đạt được quan điểm và lợi ích chung để cho các nước KLK có thể tạo ra một tiếng nói chung trong các cuộc đàm phán và diễn đàn quốc tế.
  3.3 Ủy ban Phối hợp
- Ủy ban Phối hợp (UBPH) được thành lập lần đầu tiên ở cấp Bộ trưởng tại Hội nghị cấp cao ở Algeria năm 1973. UBPH có trách nhiệm chuẩn bị cho các Hội nghị cấp cao và các Hội nghị Bộ trưởng tiếp đó. UBPH là đầu mối chính trong điều hành các hoạt động và phối hợp quan điểm giữa các thành viên Phong trào, đặc biệt là tại diễn đàn Liên hợp quốc. UBPH thiết lập và điều hòa hoạt động của các Nhóm Công tác, Nhóm công tác đặc biệt, Nhóm Liên lạc và các Ủy ban của các nước thành viên Phong trào KLK. Ủy ban Phối hợp thường xuyên họp ở New York để phối hợp và thống nhất lập trường của các nước KLK tại LHQ và trên các diễn đàn quốc tế khác.
- Dần dần hoạt động của Ủy ban Phối hợp còn được giao cho các Đại sứ, đại diện của các nước tại LHQ. Khi mới thành lập, thành viên của Ủy ban Phối hợp được giới hạn ở 25 nước, nhưng đến nay, Ủy ban mở rộng cho tất cả các nước tham gia. Nước đảm nhận vị trí Chủ tịch Phong trào KLK đồng thời giữ chức Chủ tịch Ủy ban.
3.4 Các nhóm Công tác, Liên lạc, Công tác đặc biệt và Các Ủy ban
Các nhóm công tác KLK hoạt động một cách không chính thức và góp phần vào các công việc chuẩn bị và phối hợp của Ủy ban Phối hợp. Các nhóm này hoạt động chủ yếu trong khuôn khổ chương trình của các cơ quan Liên hợp quốc. Hội nghị Cấp cao ở Algieria năm 1973 xác định công việc của các nhóm này là “nhằm đạt được một lập trường chung và cố gắng có được hành động chung hợp lý tại Đại Hội đồng Liên hợp quốc”. Hiện nay các nhóm công tác hoạt động tích cực nhất là các nhóm về các vấn đề giải trừ quân bị, gìn giữ hòa bình, Palestine, nhân quyền và nhóm về cải tổ Hội đồng Bảo an.
3.5 Nhóm Các nước KLK là thành viên Hội đồng Bảo an (Caucus)
- Có những thành viên của Phong trào KLK được bầu vào Hội đồng Bảo an, và những nước này sẽ nhóm họp theo cơ chế họp kín (Caucus). Các nước này có trách nhiệm bảo đảm các quan điểm và quyết định của Phong trào KLK được thông qua tại các Hội nghị cấp cao, Hội nghị Bộ trưởng hay của Ủy ban Phối hợp, sẽ được thể hiện một cách đúng đắn tại Hội đồng Bảo an mà không áp đặt lên chủ quyền của các nước này. 
- Chủ tịch Ủy ban Phối hợp ở New York tham dự và phát biểu trước Hội đồng Bảo an về những vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt đối với các thành viên của Phong trào. Để mở rộng quy mô phối hợp, Chủ tịch Ủy ban Phối hợp có thể được nhóm Caucus mời tham dự cuộc họp kín của nhóm này.
- Chủ tịch của Ủy ban Phối hợp KLK có thể tổ chức các cuộc họp thường kỳ với từng nước trong nhóm Caucus nhằm có được thông tin cơ bản về hoạt động của Hội đồng Bảo an và ngược lại cung cấp cho nhóm Caucus quan điểm của Phong trào. Cũng như vậy, nhóm Caucus thông tin cho Chủ tịch của Ủy ban Phối hợp về những cuộc thảo luận sẽ diễn ra và các vấn đề có tầm quan trọng đối với Phong trào. Nước điều phối viên của nhóm Caucus cũng cần thông báo thường kỳ với các thành viên của Phong trào về những thông tin trên thông qua Ủy ban Phối hợp.
3.6 Ủy ban Phối hợp Chung KLK – G77
Ủy ban phối hợp chung KLK – G77 có trách nhiệm phối hợp các hoạt động của các nước KLK và nhóm các nước đang phát triển G77 để thúc đẩy quan điểm và lợi ích của các nước đang phát triển nói chung trên các diễn đàn quốc tế.
3.7 Nhóm Troika
Nhóm Troika lần đầu tiên được đề ra tại Hội nghị Bộ trưởng KLK tại New Delhi năm 1997. Nhóm này bao gồm 3 nước giữ cương vị Chủ tịch Phong trào khóa trước, Chủ tịch hiện tại và Chủ tịch khóa sắp tới.
4. Thủ tục làm việc:
Phong trào Không liên kết áp dụng các thủ tục hiện hành của Liên hợp quốc. Tuy nhiên, có khác Liên hợp quốc về một điểm cơ bản, đó là thông qua quyết định bằng "nhất trí" (consensus), không phải bằng bỏ phiếu. "Consensus" có nghĩa là sự "nhất trí áp đảo", chứ không phải là "nhất trí tuyệt đối", đi đôi với quyền "bảo lưu" ý kiến của nước nào không tán thành "nhất trí", là sự thể hiện tinh thần dân chủ và tính mềm dẻo trong quá trình thông qua quyết định.
* Lần đầu tiên khái niệm consensus được thảo luận trực tiếp ở Hội nghị Kabul (5/1973) của Uỷ ban trù bị cho HNCC lần thứ 4 (Alger 5-9/9/1973) với nhiều quan điểm khác nhau. Chủ tịch Hội nghị đúc kết các ý kiến trong một tuyên bố giải thích khái niệm consensus như sau và đã được Phong trào chấp nhận rộng rãi:
* "Trong mươì hai năm qua kể từ Hội nghị lần thứ nhất của các nước KLK, từ thực tiễn đã rút ra được ý kiến tổng hợp và làm cân đối quan điểm của các nước về những vấn đề quan trọng, và thông qua các quyết định bằng consensus - "nhất trí" . Từ ngữ này có nét đặc thù phần nào khó định nghĩa, khó diễn đạt bằng lời nói, nhưng tất cả chúng ta có bản năng để hiểu nó nghĩa là gì. Nó đòi hỏi sự thông cảm và tôn trọng các quan điểm khác nhau kể cả những quan điểm bất đồng, và hàm chứa sự nhân nhượng lẫn nhau, tạo cơ sở cho một quá trình thích nghi lẫn nhau giữa các nước thành viên theo tinh thần thực sự không liên kết. Nói cách khác, consensus đơn giản có nghĩa là sự hội tụ của các quan điểm ("convergence of views").
* Nguồn gốc của phương thức consensus xuất phát chủ yếu từ tính đa dạng về thành viên của Phong trào KLK. Tính đa dạng này đã được Hội nghị Kabul (5/1973) giải thích như sau: "Phong trào KLK bao gồm nhiều nước thuộc các khu vực khác nhau trên thế giới, với nhiều đặc thù về chủng tộc và văn hoá, chế độ chính trị và kinh tế. Tuy nhiên, trong sự đa dạng đó của các nước KLK, có sự thống nhất cơ bản về mục đích. Sự thống nhất trong đa dạng là bản chất của sức mạnh và sức sống của Phong trào". Từ đó về sau, từ ngữ "thống nhất trong đa dạng" được thường xuyên nhắc đến như một châm ngôn của Phong trào KLK. Trong quá trình thông qua các quyết định của Phong trào, sự "thống nhất trong đa dạng" ở đây còn được hiểu là consensus đi đôi với quyền được bảo lưu ý kiến.
* Việc bảo lưu: Mặc dù tại Kabul có sự giải thích như trên về khái niệm consensus, nhưng việc áp dụng trong thực tế đối với từng vấn đề cụ thể không phải là đơn giản mà còn tuỳ thuộc vào so sánh lực lượng bên trong Hội nghị và xu thế chung lúc đó. Khái niệm "bảo lưu", tức là cho phép những nước có ý kiến khác với kết luận của chủ tịch cuộc họp có quyền bảo lưu quan điểm của mình bằng cách phát biểu tại hội nghị hoặc bằng văn bản gửi cho Chủ tịch Hội nghị.
* Tại Hội Nghị Cấp Cao 7 New Delhi (7-12/3/1983), "Quyết định về biện pháp tăng cường thống nhất, đoàn kết và hợp tác giữa các nước đang phát triển" đã quy định cụ thể thêm về lề lối làm việc của Uỷ ban phối hợp và thể thức thông qua các quyết định bằng consensus. Hội nghị cho rằng: việc thông qua các quyết định bằng "nhất trí" đã trở thành thông lệ của Phong trào, mặc dù còn một số khó khăn trong việc sử dụng phương thức consensus. Phong trào khẳng định thêm: " Nhất trí vừa là quá trình vừa là bản thân công thức thoả hiệp cuối cùng được hình thành sau những cuộc tham khảo, thảo luận và đàm phán để đi đến một lập trường nói chung được chấp nhận. Nói cách khác, consensus là sự hội tụ và hài hoà các quan điểm thể hiện sự đồng ý rộng rãi nhất của Hội nghị nhằm tăng thêm hoặc chí ít duy trì sự thống nhất và sức mạnh của phong trào".
Thực tế từ ngày Phong trào mới ra đời cho đến nay chứng minh rằng đó là sự lựa chọn duy nhất đúng, đảm bảo đoàn kết nội bộ và phù hợp tính chất đa dạng của Phong trào. Mặc dù có ngươì chỉ trích phương pháp thông qua các quyết định bằng "nhất trí", đòi thay thế bằng phương pháp bỏ phiếu, nhưng nguyện vọng chung của tuyệt đại đa số các nước thành viên là cần duy trì phương pháp "nhất trí" vì nó là đặc thù của Phong trào Không Liên Kết.

III. MỘT SỐ NÉT VỀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VÀ ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ PHONG TRÀO
Phong trào Không liên kết tồn tại hơn ba thập niên và không ngừng phát triển. Số thành viên chính thức tăng hơn 4 lần, từ 25 lên 118.
Nhìn lại lịch sử của Phong trào, chúng ta thấy sự đóng góp của Phong trào vào việc giải quyết các vấn đề trọng đại của thế giới là to lớn và nói chung là tích cực. Hoạt động của Phong trào luôn thể hiện cuộc đấu tranh gay go phức tạp giữa hai khuynh hướng: giữa một bên là khuynh hướng tăng cường đoàn kết nội bộ, mở rộng hợp tác với các lực lượng hoà bình và dân chủ khác với một bên là các thế lực đồng minh công khai hoặc dấu mặt của đế quốc muốn lái Phong trào đi chệch mục tiêu cơ bản, làm suy yếu Phong trào.
Trong chiến tranh lạnh, Phong trào KLK với những nguyên tắc, mục tiêu cơ bản của mình, đã có vai trò và đóng góp quan trọng vào đời sống chính trị quốc tế nói chung và việc bảo vệ lợi ích đối với các nước đang phát triển nói riêng. Tình hình thế giới, thực tế, đã có những biến đổi sâu sắc theo chiều hướng tích cực nhờ có sự đoàn kết đấu tranh của các lực lượng hoà bình, độc lập và dân chủ mà Phong trào Không liên kết là một bộ phận. Phong trào đã góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh bảo vệ hoà bình và an ninh quốc tế, ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh hạt nhân, đòi giải trừ quân bị và thành lập khu vực hoà bình và phi hạt nhân. Phong trào đã cổ vũ và ủng hộ mạnh mẽ cuộc đấu tranh giải phóng và bảo vệ độc lập dân tộc, là lực lượng quan trọng trong cuộc đấu tranh đòi thiết lập trật tự kinh tế quốc tế mới và trật tự thông tin quốc tế mới. Phong trào có đóng góp đáng kể vào việc giải quyết tranh chấp và xung đột giữa các nước thành viên bằng biện pháp hoà bình.
Sau chiến tranh lạnh, Phong trào, trong thời kỳ đầu, đã có những khó khăn nhất định trong việc xác định lại mục tiêu cho hoạt động của mình khi thế giới không còn hai cực. Tình hình hiện nay cho thấy các nước đang phát triển tiếp tục đứng trước nguy cơ can thiệp và áp đặt có hại cho độc lập chủ quyền và quyền lợi của mình. Do vậy các nước này tiếp tục có nhu cầu tham gia vào Phong trào để có một diễn đàn phối hợp với nhau, góp phần bảo vệ lợi ích an ninh quốc gia và phát triển của mình, chống sự áp đặt của các nước lớn và chống sự bất bình đẳng trong quan hệ Bắc-Nam, để phối hợp lập trường chung tại LHQ và các diễn đàn quốc tế khác. Trong bối cảnh đó, phong trào KLK tiếp tục đóng vai trò không thể thiếu là một tập hợp lực lượng chính trị hùng hậu, là diễn đàn quan trọng để các nước không liên kết đang phát triển hình thành tiếng nói chung đối với các vấn đề toàn cầu quan trọng liên quan đến hoà bình, an ninh và phát triển.
Kể từ Hội nghị cấp cao 10 (Jarkarta 1992), Phong trào KLK đã có những bước điều chỉnh nhất định nhằm thích ứng với tình hình mới. Các quốc gia thành viên đều nhất trí cho rằng: Phong trào có khả năng và cần tiếp tục phát huy tiếng nói và vai trò chính trị trong tình hình mới hiện nay vì hoà bình, phát triển, tự quyết dân tộc, độc lập và chủ quyền quốc gia. Phong trào tiếp tục là chỗ dựa tinh thần, là tập hợp đoàn kết rộng rãi của 114 nước đang phát triển vì những lợi ích căn bản chung của các nước này và vì mục tiêu phấn đấu cho một trật tự thế giới công bằng, bình đẳng, lành mạnh. Việc Phong trào liên tục có thêm thành viên mới (tăng từ 108 kể từ Hội nghị Cấp cao 10 năm 1992 lên 118 thành viên tại Hội nghị Cấp cao 14 năm 2006) đã tiếp tục thể hiện sức sống, sự hấp dẫn và khẳng định vai trò chính trị không thể thiếu của mình. Ngày càng có nhiều nước bên ngoài Phong trào mong muốn được làm quan sát viên, khách mời chứng tỏ vị thế, tầm quan trọng của diễn đàn này trong việc tăng cường hợp tác quốc tế, góp phần giải quyết các vấn đề cấp bách có tính khu vực hoặc toàn cầu.
Một số vấn đề mà Phong trào hiện đang quan tâm:
- Hoà bình, an ninh, giải trừ quân bị, độc lập tự chủ, quyền tự quyết của các dân tộc  luôn là quan tâm chính và truyền thống của Phong trào là luôn thảo luận và ra các tuyên bố về một số vấn đề khu vực đang nổi lên.
- Thúc đẩy chủ nghĩa đa phương, với LHQ giữ vai trò trung tâm, chủ động tham gia và tăng cường phối hợp hành động trên các vấn đề chính trị quốc tế lớn như cải tổ LHQ, thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ, thúc đẩy vòng đàm phán Đô-ha... Đặc biệt  Cấp cao 13 tại Ma-lai-xi-a (2003), các Hội nghị Bộ trưởng tại Qatar (6/2005), Niu-Oóc (9/2005) và Ma-lai-xia (4/2006), Cấp cao 14 tại Cuba các nước KLK đã giành nhiều tập trung và đạt được một số tiến bộ trong việc thống nhất lập trường trên vấn đề cải tổ LHQ.
- Thúc đẩy hợp tác kinh tế, xã hội và văn hóa: Đề ra định hướng, khuôn khổ hợp tác, thúc đẩy hợp tác phát triển kinh tế, hỗ trợ nhau thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ, tăng cường các hình thức hợp tác Nam-Nam,  Bắc-Nam, vai trò của G-77, mở rộng giao lưu xã hội, đối thoại văn hoá, văn minh, tín ngưỡng. Trong các năm gần đây, phong trào đã có nhiều hoạt động gia tăng hợp tác thực chất hơn trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, y tế... Đặc biệt là Hội nghị Cấp cao Á-Phi 4/2005 tại Băng đung, In-đô-nê-xi-a (các nước tham gia đa phần là thành viên KLK) đã quyết định xây dựng một “Quan hệ đối tác chiến lược Á-Phi mới” đi vào hợp tác nhiều mặt trên các lĩnh vực chính trị, an ninh, đầu tư, thương mại, du lịch, trao đổi văn hoá...
Tại Hội nghị Cấp cao 14 gần đây nhất tại La Habana (Cuba), nước chủ nhà Cuba - Chủ tịch đương nhiệm của Phong trào đã chủ động tích cực đưa ra thêm 2 văn kiện  ngoài văn kiện cuối cùng (văn kiện truyền thống của Hội nghị) là “Tuyên bố về mục đích, nguyên tắc và vai trò của Không Liên kết trong giai đoạn quốc tế hiện nay” và “Tài liệu về phương thức làm việc của Phong trào KLK” và Hội nghị đã thông qua toàn bộ văn kiện quan trọng nói trên. Các văn kiện này đã đánh dấu một bước tiến mới của Phong trào trong việc tăng cường sức mạnh của Phong trào, hệ thống hoá những quan điểm tích cực trên những vấn đề quốc tế lớn hiện nay, cụ thể hoá các định hướng, ưu tiên hoạt động, góp phần cải tiến một số sáng kiến mới nhằm củng cố, phát huy tính của hiệu của Phong trào như nâng cao vai trò của Chủ tịch Phong trào; tạo cơ chế tăng cường phối hợp giữa KLK và Nhóm G77; thúc đẩy việc tiến tới thành lập bộ phận hỗ trợ để giúp đỡ Chủ tịch Phong trào.
Có thể nói rằng, Hội nghị Cấp cao KLK 14 tại Cu-ba (15-16/9/2006) có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc đánh giá tình hình quốc tế, thảo luận về thách thức mới đối với Phong trào để đề ra các biện pháp tăng cường sự đoàn kết, tính năng động và vai trò của KLK trong quan hệ quốc tế, phấn đấu vì một trật tự thế giới mới công bằng dân chủ hơn, đảm bảo lợi ích của các nước đang phát triển. Sức sống, vai trò và vị thế của Phong trào phụ thuộc vào nỗ lực của chính các nước thành viên và điều đặc biệt quan trọng là các nước này cần tăng cường sự đoàn kết, phối hợp trong các diễn đàn đa phương về chính trị cũng như¬ về kinh tế và các vấn đề có tính toàn cầu khác, đồng thời thúc đẩy hợp tác quốc tế trên cơ sở bình đẳng và cùng có lợi. Trong khi tiếp tục giữ vững các mục tiêu, nguyên tắc hoạt động cơ bản của phong trào vì hoà bình, độc lập dân tộc và phát triển, Phong trào cần phát huy tính năng động và thực lực của các nước thành viên và có những điều chỉnh cần thiết nhằm thích ứng với tình hình quốc tế đang biến chuyển từng ngày để tiếp tục khẳng định vai trò, ý nghĩa tồn tại của mình trong đời sống chính trị quốc tế.
V. QUAN HỆ VIỆT NAM VÀ PHONG TRÀO KHÔNG LIÊN KẾT
Năm 1955 Việt Nam tham dự Hội nghị Á - Phi ở Bangdung (Indonesia), Hội nghị được nhiều người xem như là tiền thân của Phong trào KLK. Tại Hội nghị, Việt Nam đã tích cực thúc đẩy đoàn kết giữa các nước mới giành độc lập, góp phần xác lập những nguyên tắc cơ bản sau này trở thành các nguyên tắc chỉ đạo cho hoạt động của phong trào KLK.
Từ năm 1970 đến năm 1973, Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam làm quan sát viên (Hội nghị Georgetown, Guyana năm 1972), rồi làm thành viên Phong trào (tại Hội nghị cấp cao IV Angiê, 1973).
Năm 1976 tại Hội nghị cấp cao V (Colombo, Sri Lanca), nước Việt Nam thống nhất gia nhập Phong trào. Bằng tấm gương sáng và thắng lợi của sự nghiệp chống ngoại xâm của mình, Việt Nam đã sớm gắn bó và đóng góp vào những mục tiêu và quá trình hình thành Phong trào KLK. Ngay cả khi chưa là thành viên chính thức của phong trào, Việt Nam đã có đóng góp quan trọng vào cuộc đấu tranh của các nước KLK và đang phát triển. Sau khi giành độc lập (năm 1945), Việt Nam đã đi đầu trong phong trào giải phóng dân tộc, góp phần quan trọng xoá bỏ chủ nghĩa thực dân, chống chủ nghĩa đế quốc. Từ khi tham gia phong trào, Việt Nam đã tham dự tất cả các Hội nghị Cấp cao và Hội nghị ngoại trưởng, phối hợp chặt chẽ với các lực lượng tích cực tăng cường đoàn kết đề cao vai trò của Phong trào, nỗ lực đấu tranh cho mục tiêu hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội; tích cực tham gia các hoạt động và có nhiều đóng góp quan trọng vào việc xây dựng các văn kiện của Hội nghị; đưa ra một số khuyến nghị cụ thể nâng cao vai trò của Phong trào trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, thương mại, đồng thời chia sẻ kinh nghiệm phát triển của Việt Nam.
Việt Nam luôn coi trọng việc tham gia vào Phong trào KLK, coi đó là chủ trương nhất quán, một bộ phận của chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá và đa dạng hoá, bổ sung cho quan hệ song phương, khu vực và quốc tế của ta. Đồng thời với những thành tựu đáng kể trong công cuộc Đổi mới, ta cũng chủ trương tham gia và đóng góp tích cực hơn vào sự nghiệp phát triển chung của các nước Không liên kết, đang phát triển. Trong quá trình tham dự, phương châm đóng góp của ta là: kiên trì các mục tiêu cơ bản KLK, thúc đẩy đoàn kết của Phong trào; đóng góp một cách có lựa chọn đối với các vấn đề chung của Phong trào, tránh những vấn đề dễ gây tranh cãi ảnh hưởng tới quan hệ của ta với các nước lớn; tăng cường tham khảo và phối hợp với các nước KLK chủ chốt.
Chủ trương chính của ta về đường hướng phát triển và những vấn đề quan tâm của Phong trào tại Hội nghị Cấp cao KLK 14 là:
- Cần ưu tiên tăng cường đoàn kết, phối hợp nhằm duy trì và nâng cao vị trí, vai trò của Phong trào. Chính sự tương đồng về lịch sử, quan hệ truyền thống về chính trị, khát vọng vươn lên làm chủ đất nước, tiềm năng to lớn về kinh tế và sự đa dạng về văn hoá là những nền tảng cơ bản cho sự thống nhất trong đa dạng của Phong trào.
- Cần kiên trì các mục tiêu cao cả của Phong trào là hoà bình, độc lập dân tộc, hợp tác phát triển, tiến bộ và công bằng xã hội, tiến tới xây dựng các quan hệ quốc tế công bằng, lành mạnh, tôn trọng chủ quyền quốc gia, không có sự can thiệp, áp đặt của bên ngoài, dựa trên cơ sở phát huy những nguyên tắc cơ bản của Phong trào, của Hiến chương LHQ và luật pháp quốc tế.
- Cần phát huy hơn nữa tiếng nói tích cực của Phong trào trên những vấn đề trọng đại quốc tế và những vấn đề thuộc lợi ích thiết thân của các nước đang phát triển, như vấn đề cải tổ Liên hợp quốc, vấn đề thực hiện các Mục tiêu Thiên niên kỷ, thúc đẩy vòng đàm phán Đô-ha. Phong trào cũng cần tham gia tích cực hơn nữa vào việc xây dựng một cấu trúc kinh tế quốc tế rộng mở, công bằng, minh bạch, không phân biệt đối xử, dành những sự hỗ trợ và ưu đãi thoả đáng để phát triển cho các nước KLK và các nước đang phát triển khác.
- Cần tăng cường hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm về phát triển kinh tế- xã hội, phát huy cao độ nội lực của mình đi đôi với tranh thủ nguồn lực quốc tế qua những mô hình thúc đẩy hợp tác phát triển kinh tế, xã hội hiệu quả như hợp tác Nam-Nam, Bắc-Nam.
- Hoàn thiện phương thức làm việc của Phong trào để tăng tính hiệu quả, thiết thực, gia tăng sự phối hợp, đoàn kết, dựa trên việc kiên trì các mục tiêu, nguyên tắc cơ bản của Phong trào nhất là nguyên tắc đồng thuận. /.

(tháng 7/2007)

 
Quay lại Đầu trang In trang Gửi mail

Bản quyền của Vụ Thông Tin Báo Chí - Bộ Ngoại Giao
© Copyright by Press and Information Department - Vietnam Ministry of Foreign Affairs
Email: Banbientap@mofa.gov.vn 
Hiển thị tốt nhất với Internet Explorer. Best viewed with Internet Explorer