Trang chủ Tìm kiếm Phản hồi

Ngôn ngữ:

Thứ năm, ngày 23 tháng 05 năm 2013
Tìm kiếm toàn văn:    
Công cụ làm việc cá nhân


Hướng dẫn tổ chức thực hiện công tác thu ngân sách từ thuế đất do Bộ trưởng, Trưởng Cơ quan Quản lý đất đai Quốc gia Khăm-uộn Búp-phả ký ngày 01/02/2010


CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

Hòa bình – Độc lập – Dân chủ - Thống nhất – Thịnh vượng

____________________

 

VĂN PHÒNG PHỦ THỦ TƯỚNG

CƠ QUAN QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI QUỐC GIA

 

    Số: 05/VPPTTg. CQQLĐQG

                                                                Viêng Chăn, ngày 01/02/2010

     

HƯỚNG DẪN

TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÔNG TÁC

THU NGÂN SÁCH TỪ THUẾ ĐẤT

 

-         Căn cứ Nghị định số 67/TTg, ngày 18 tháng 5 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc qui định cơ cấu tổ chức và hoạt động của Cơ quan Quản lý đất đai quốc gia;

-         Căn cứ Điều 38 và Điều 55 Luật Ngân sách Nhà nước số 02/QH, ngày 26 tháng 12 năm 2006;

-         Căn cứ Nghị quyết số 215/UBTVQH, ngày 26 tháng 12 năm 2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về lệ phí, phí sử dụng đất đai và thuế đất đai;

-         Căn cứ Điều 14 Nghị định số 88/TTg, ngày 03 tháng 6 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức thực hiện Luật đất đai;

-         Căn cứ Điều 42 Nghị định số 135/TTg, ngày 25 tháng 5 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc cho thuê đất hoặc tô nhượng đất của Nhà nước;

-         Căn cứ Biên bản bàn giao ngày 19 tháng 11 năm 2008 về việc thu ngân sách từ đất đai giữa Bộ trưởng Bộ Tài chính với Bộ trưởng Văn phòng Phủ Thủ tướng, Trưởng Cơ quan quản lý đất đai quốc gia .

Nhằm thống nhất trong cả nước và để tổ chức thực hiện đúng thực tế bảo đảm việc thu ngân sách từ đất đai một cách có hiệu quả, phù hợp với quy định của pháp luật:

 

 

BỘ TRƯỞNG VĂN PHÒNG PHỦ THỦ TƯỚNG,

TRƯỞNG CƠ QUAN QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI QUỐC GIA

BAN HÀNH HƯỚNG DẪN

 

1.      TỔ CHỨC THU NGÂN SÁCH TỪ ĐẤT ĐAI:

Việc tổ chức thu ngân sách từ đất đai cần thực hiện thành hệ thống từ Trung ương đến địa phương về việc quản lý và tổ chức thực hiện thực tế tại cơ sở, trong đó:

1.1.Tại trung ương, Cơ quan quản lý đất đai quốc gia lập thành Tổ quản lý thu ngân sách từ đất đai trực thuộc Phòng Kế hoạch – Tài chính, biên chế từ 3 - 4 cán bộ, trong đó có 01 Tổ trưởng, 01 Tổ phó và một số chuyên viên có chuyên môn về tài chính, kế toán và vi tính có trình độ đại học trở lên do Bộ trưởng Văn phòng Phủ Thủ tướng, Trưởng Cơ quan Quản lý đất đai quốc gia quyết định theo đề nghị của Chánh Văn phòng có nhiệm vụ phụ trách giám sát và thu ngân sách từ đất đai toàn quốc, gồm: Thu phí sử dụng đất đai, tiền thuê, tiền tô nhượng, tiền bán quyền sử dụng đất đai, tiền phạt, tiền đền bù chuyển đổi loại đất, tiền khảo sát đo vẽ bản đồ (không phải để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) của Cơ quan quản lý đất đai tỉnh, thủ đô Viêng Chăn. Việc thu lệ phí, tiền đăng ký đất đai, tiền dịch vụ chuyên môn và các khoản thu khác từ đất đai gồm: tiền khảo sát đo vẽ bản đồ (để cấp giấy chứng nhận), tiền bản mẫu tờ khai giao cho Cục quản lý đất đai chịu trách nhiệm trong thời gian vừa qua là người chịu trách nhiệm chỉ đạo và giám sát  việc thu ngân sách cho tới khi có sự thay đổi về tổ chức.

1.2. Đối với địa phương: Cơ quan quản lý đất đai các tỉnh, thành phố Viêng Chăn thành lập Tổ quản lý thu ngân sách từ đất đai thuộc Phòng Hành chính-Tổ chức-Cán bộ gồm 4-5 người, trong đó có 01 tổ trưởng, 01 tổ phó và một số chuyên viên có kiến thức chuyên môn về tài chính, kế toán và vi tính từ cao đẳng trở lên do Tỉnh trưởng, Đô trưởng Quyết định bổ nhiệm theo đề nghị của ông Trưởng Cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh, thành phố đề nghị, có nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thu ngân sách từ đất đai gồm: Thu phí sử dụng đất đai, tiền cho thuê, tiền tô nhượng, tiền bán quyền sử dụng đất, tiền phạt vi phạm, tiền đền bù việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất, lệ phí khảo sát, đo vẽ bản đồ (không dùng để cấp giấy chứng nhận sử dụng đất) của Cơ quan quản lý đất đai cấp huyện, thị xã. Còn việc thu lệ phí, tiền đăng ký đất đai, tiền dịch vụ chuyên môn và các khoản thu khác từ đất như: lệ phí khảo sát đo vẽ bản đồ (để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất), tiền bán biểu mẫu giao cho Phòng đất đai đã được giao trách nhiệm trong việc thu trong thời gian vừa qua tiếp tục chịu trách nhiệm thu cho đến khi có sự thay đổi về mặt tổ chức.

1.3. Đối với cơ quan quản lý đất đai cấp huyện, thị xã thành lập đội quản lý thu ngân sách từ đất đai trực thuộc Tổ Hành chính, tổng hợp và tổ chức cán bộ, những huyện nhỏ được bố trí 4 cán bộ, huyện trung bình là 5 cán bộ và huyện lớn là 6 cán bộ gồm 01 đội trưởng, 01 đội phó và một số chuyên viên có kiến thức chuyên môn về tài chính, kế toán và vi tính từ cao đẳng trở lên do Chủ tịch huyện quyết định bổ nhiệm theo đề nghị của  Trưởng Cơ quan quản lý đất đai cấp huyện, có nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thu lệ phí sử dụng đất đai, tiền thuê, tiền tô nhượng, tiền bán quyền sử dụng đất, tiền phạt vi phạm, tiền đền bù việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất, lệ phí dịch vụ chuyên môn và các khoản thu khác từ đất đai như: tiền khảo sát, đo vẽ bản đồ, tiền bán biểu mẫu theo chức năng nhiệm vụ của mình và theo sự ủy quyền của Cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh, thành phố.

1.4. Đối với đội địa chính cấp Bản có trách nhiệm trực tiếp thu lệ phí sử dụng đất đai của Bản theo quy định và theo sự ủy quyền của cơ quan quản lý đất đai cấp huyện và thị xã.

2. Quy chế thu ngân sách từ đất đai:

Việc thu ngân sách từ đất đai được thực hiện như sau:

- Nguồn thu từ việc thu phí, lệ phí đăng ký đất đai, tiền thuê, tiền tô nhượng đất đai, tiền bán quyền sử dụng đất đai, tiền phạt vi phạm về quản lý đất đai, tiền đền bù từ việc chuyển mục đích sử dụng đất nộp vào ngân sách nhà nước tại Kho Bạc Nhà nước Trung ương và Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh, thành phố hoặc Kho bạc Nhà nước cấp huyện, trong đó cần phải thực hiện nghiêm việc ghi sổ nộp, sổ nhận theo mục lục ngân sách được quy định tại Luật ngân sách nhà nước và quy định của Bộ Tài chính. 

- Nguồn thu từ dịch vụ chuyên môn về đất đai như: lệ phí đo đất nông nghiệp, đất xây dựng và phí dịch vụ chứng thực giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho phép sử dụng vào việc chi phục vụ chuyên môn trong nguồn thu sử dụng chi thường xuyên nhưng phải  ghi sổ nhận và sổ chi theo tổng số của kế hoạch ngân sách theo hệ thống kế toán nhà nước và mục lục ngân sách nhà nước đã công bố thực hiện theo từng giai đoạn được quy định tại Điều 9, 19 và 61 của Luật ngân sách nhà nước và Nghị định của Thủ tướng Chính phủ số 381/TTg, ngày 23 tháng 12 năm 2005.

- Thực hiện nghiêm túc quy định về kế toán và quy chế tài chính như: thực hiện theo luật ngân sách, luật kế toán và các luật khác liên quan, theo mẫu biểu kế toán, tổng kết và báo cáo cấp trên cần thực hiện vào sổ sách hàng ngày, sổ sách kế toán phân loại nguồn thu từ đất đai.

- Giao các Phòng chuyên môn như: Phòng thống kê và đo vẽ bản đồ, Phòng kế hoạch và phát triển đất đai, Phòng đất đai và Phòng thanh tra và giải quyết tranh chấp trong nội bộ cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh, thành phố, Cơ quan quản lý đất đai cấp huyện, thị xã là người thực hiện công tác chuyên môn theo chức năng nhiệm vụ được giao, đồng thời làm báo cáo gửi Tổ quản lý thu ngân sách từ đất đai để cấp giấy xác nhận nộp Kho bạc nhà nước theo quy định đã được phân loại nguồn thu của từng loại đất một cách cụ thể và rõ ràng.

3. Việc thực hiện thu ngân sách từ đất đai:

3.1. Giao Trưởng cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh, Thủ đô Viêng Chăn trực tiếp chỉ đạo việc tổ chức thực hiện, quản lý, giám sát và cấp lệnh thu – lệnh chi số tiền trên theo quy chế kế toán riêng một cách nghiên túc: cần có hồ sơ lệnh thu - lệnh chi và hóa đơn chuyển tiền vào tài khoản tại Kho bạc nhà nước của cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh, thành phố.

3.2. Giao Trưởng cơ quan quản lý đất đai cấp huyện chịu trách nhiệm tổ chức thu ngân sách từ đất đai với nhiệm vụ chủ yếu sau:

- Xây dựng kế hoạch thu, thu thập đầy đủ số liệu thống kê các đơn vị, tính toán chính xác và bảo đảm công bằng, công khai và minh bạch.

- Tuyên truyền, hướng dẫn về việc thu ngân sách từ đất đai cho các đối tượng có nhiệm vụ phải nộp nghĩa vụ vào ngân sách, tăng cường việc tập huấn về chuyên môn nhằm nâng cao chất lượng công tác và đơn giản các thủ tục hành chính.

- Tổ chức, quản lý việc thu ngân sách từ việc thu phí sử dụng đất, thuế đất, lệ phí, phí đăng ký, tiền thuê, tiền tô nhượng, tiền bán quyền sử dụng đất, tiền phạt, tiền chuyển mục đích sử dụng đất, tiền dịch vụ….đúng với quy định của pháp luật, đầy đủ, kịp thời, công khai, minh bạch và báo cáo cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh, thành phố để tổng hợp báo cáo cơ quan quản lý đất đai quốc gia.

4. Nộp ngân sách các khoản thu từ đất đai:

Việc nộp ngân sách các khoản thu từ phí sử dụng đất, thuế đất, lệ phí, phí đăng ký, tiền thuê, tiền tô nhượng, tiền bán quyền sử dụng đất, tiền phạt, tiền chuyển mục đích sử dụng đất nộp vào ngân sách nhà nước thông qua Kho bạc nhà nước trung ương hoặc Kho bạc nhà nước cấp tỉnh, thành phố hoặc Kho bạc nhà nước cấp huyện do Trưởng Cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh, thành phố và cấp huyện quyết định theo quy chế tài chính, nộp vào tài khoản kho bạc nhà nước do cơ quan quản lý đất đai từng cấp mở tại kho bạc.

Việc thu ngân sách từ đất đai là nguồn thu thường xuyên cần thực hiện theo Điều 4, 9 và Điều 10 của Nghị định Chính phủ số 381/TTg, ngày 23/12/2005 về việc thu ngân sách từ các nguồn thu thường xuyên được sử dụng nguồn thu thường xuyên để đưa vào nguồn chi ngân sách hàng năm như:

1.      Chi tiền lương;

2.      Chi tiền chính sách cho cán bộ, viên chức;

3.      Chi hành chính;

4.      Chi mở rộng các công trình;

Việc thu và chi cần lập sổ ghi thu-chi theo quy chế tài chính và nghiêm cấm việc dùng tiền công quỹ sử dụng vào việc khác trái với quy định của pháp luật.

Việc chi tiền thu thường xuyên cần thực hiện theo các điều kiện dưới đây:

* Phải thông qua việc phối hợp và được sự chấp thuận của ngành tài chính nhằm biết được kế hoạch chi trong năm của Cơ quan Quản lý đất đai trong mục chi được quy định ở trên và để ngân sách cắt mục chi theo số liệu trên theo số liệu phê duyệt của Quốc hội.

* Thu thường xuyên phải ghi thu – chi trên cơ sở như sau:

- Có kế hoạch thu – chi trong năm, không cho phép ghi thu – chi ngoài kế hoạch;

-  Phải thực hiện theo quy chế và các bước ghi thu – chi của ngân sách, chỉ được chi trong tổng nguồn chi theo các đối tượng nêu trên.

- Trường hợp nguồn thu thường xuyên lớn hơn nguồn chi nêu trên thì phải nộp toàn bộ phần dư vào ngân sách nhà nước.

- Trường hợp nguồn thu thường xuyên ít hơn nguồn chi được phê duyệt thì ngân sách sẽ cấp bù trên cơ sở đối chiếu nguồn thu thực tế.

5.      Tổng hợp và báo cáo.

Sau khi tổng hợp hóa đơn từng tháng, Cơ quan quản lý đất đai cấp huyện phải báo cáo cho Cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh, thành phố, Cơ quan quản lý cấp tỉnh, thành phố phải tổng hợp báo cáo Cơ quan quản lý đất đai quốc gia trước ngày 10 của tháng, đồng thời cần báo cáo Phòng Tài chính huyện, Sở Tài chính tỉnh, thành phố và huyện trưởng, tỉnh trưởng và đô trưởng. Sau đó Cơ quan quản lý đất đai quốc gia tổng hợp báo cáo Bộ Tài chính để theo dõi, kiểm tra theo quy chế tài chính.

6.      Thực hiện chính sách đối với người thu ngân sách từ đất đai.

Tiền bồi dưỡng cho trung ương và cơ quan quản lý đất đai địa phương chịu trách nhiệm thu tiền thuê đất, tiền tô nhượng, tiền phạt, lệ phí, tiền đăng ký và thu từ chuyên môn giao 2,5% trong tổng số tiền thu được trừ vốn và lãi suất, nếu thu vượt kế hoạch đã được phân bổ thì giao cho huyện 10%, tỉnh 15% và trung ương 75% của tổng số thu theo quy định tại Điều 23 hướng dẫn số 1927/TC ngày 17 / 8 / 2007 của Bộ trưởng Bộ Tài chính và được miễn thực hiện theo thông báo số 2100/TC ngày 03 / 9 /2009 của Bộ Tài chính.

Tiền trích lại từ phí sử dụng đất giao cho bản, Ban Chỉ đạo và cán bộ của tổ công tác đất đai của Bản được tiếp tục thực hiện theo tỷ lệ như sau:

STT

loại phí sử dụng đất do Bản tổ chức thực hiện

% cho phép trích lại của tổng số tiền thu được

1

Các Bản thuộc thị xã, thành phố

4%

2

Các Bản thuộc thị trấn, thị tứ

6%

3

Các Bản thuộc thuộc vùng đồng bằng và trung du

10%

4

Các Bản miền núi

15%

Đối với việc phân chia sau khi đã trích lại cho Bản như trên còn lại phân bổ như sau:

- Bồi dưỡng Tổ công tác đất đai của Bản và cán bộ thu phí sử dụng đất đai 60% trong tổng số tiền bồi dưỡng được nhận;

- Đưa vào quỹ của Bản 40% trong tổng số tiền bồi dưỡng từ việc thu phí sử dụng đất được nhận để sử dụng cho lợi ích chung của Bản như: sửa chữa và làm đường xá, trạm ytế Bản, nâng cấp về giáo dục, chi cho an ninh các chí khác vì lợi ích chung của nhân dân trong Bản.

7.      Tổ chức thực hiện.

Giao Văn phòng, các Vụ, Trung tâm, Cơ quan Quản lý đất đai cấp tỉnh, thành phố, Cơ quan quản lý đất đai cấp huyện, thị xã và Tổ công tác về đất đai của Bản và các bộ phận liên quan tổ chức thực hiện nghiêm túc hướng dẫn này.

Hướng dẫn này thay thế Hướng dẫn số 3158/VPPTTg-CQQLĐQG ngày 03 tháng 12 năm 2008.

Hướng dẫn này có hiệu lực kể từ ngày ký, những quy định trái với hướng dẫn này đều bị bãi bỏ.

 

                   BỘ TRƯỞNG VĂN PHÒNG PHỦ THỦ TƯỚNG

            TRƯỞNG CƠ QUAN QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI QUỐC GIA

                                                Đã ký và đóng dấu

                                                Khăm-uộn Búp-phả

 


Copyright by VietNam Ministry of Foreign Affairs